36 MỞ ĐẦU Năng lực cạnh tranh của các kênh truyền hình địa phương ở miền Trung và Tây Nguyên hiện nay là chủ đề nghiên cứu của luận án Tiến sĩ Báo chí học này Lý do tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Năng lực cạnh tranh của các kênh truyền hình địa phương ở miền Trung
và Tây Nguyên hiện nay là chủ đề nghiên cứu của luận án Tiến sĩ Báo chí họcnày Lý do tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu này đó là trước kỷ nguyên toàn cầuhóa đã đưa thông tin đến tận mọi ngõ ngách của trái đất nơi chúng ta đang sống
dù đó là những vùng nông thôn hẻo lánh hay đô thị sầm uất, mặt khác, toàn cầuhóa thông tin đã tạo điều kiện cho con người không còn phải thụ động tiếp nhậnthông tin, tiếp nhận một nguồn thông tin mà cùng một lúc tiếp nhận nhiều nguồnthông tin; Đề án Số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến năm 2020.Theo đề án số hóa thì các đài địa phương thuộc khu vực miền Trung TâyNguyên sẽ thực hiện số hóa từ 2015-2018(trừ Đà Nẵng hoàn thành vào năm2015,Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận hoàn thành vào năm 2016), như vậykhi tham gia vào lộ trình số hóa phạm vi tốc độ phát sóng đã vượt qua phạm vicấp tỉnh, mở rộng ra phạm vi toàn quốc, một bộ phận các đài cấp tỉnh đã có thểcạnh tranh với các đài quốc gia ở phạm vi cấp khu vực lẫn toàn quốc Lúc này,các kênh truyền hình địa phương đã bước vào thời kỳ cạnh tranh thị phần, cácđài địa phương cũng đã triển khai công cuộc cạnh tranh trên phạm vi cấp khuvực; Và sắp tới đây là đề án Qui hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốcđến năm 2025, theo đó, thì các kênh truyền hình địa phương phải tự chủ tàichính Đây chính là yếu tố khiến các kênh địa phương phải nỗ lực hết mình trướchết là để đảm bảo nguồn chi, sau đó cạnh tranh được với các kênh truyền hìnhkhác để tồn tại
Ở các tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên có 22 kênh truyềnhình quảng bá của Đài Truyền hình Việt Nam và 19 tỉnh, thành phố Thừa
Trang 2Thiên Huế có 2 đơn vị cùng làm nhiệm vụ phát sóng kênh truyền hình quảng bá
là Đài PTTH Thừa Thiên Huế (kênh TRT) và kênh truyền hình của Trung tâmTruyền hình Việt Nam tại Huế (VTV Huế) Hai kênh này thực hiện chức năng
cơ bản giống nhau là thông tin, tuyên truyền những sự kiện, vấn đề kinh tế, xãhội, quốc phòng, an ninh, bản sắc văn hóa vùng đất cố đô cho đối tượng ngườixem chủ yếu ở địa phương.Tương tự, Thành phố Đà Nẵng cũng có hai đơn vịcùng làm nhiệm vụ phát sóng kênh truyền hình quảng bá Đó là Đài PTTH ĐàNẵng (kênh DRT1 và DRT2) và Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng(VTV Đà Nẵng) Các tỉnh, thành phố khác, bên cạnh trung tâm sản xuất, truyềndẫn phát sóng hình thành từ nhiều năm trước, còn mở thêm hàng chục kênhtruyền hình quảng bá và trả tiền
Miền Trung và Tây Nguyên là khu vực có nhiều tiềm năng phát triểnkinh tế, có những đặc điểm kinh tế - xã hội chung, do đó giữa các kênh truyềnhình của các đài PTTH địa phương các tỉnh, thành trong khu vực vừa có nhữngđặc điểm chung và riêng Nhìn vào tình hình phủ sóng gần đây nhất (theo số liệukhảo sát trong Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến năm
2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2011) thì diện phủ sóng chươngtrình truyền hình quốc gia ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên tương đối cao90-95%, còn chương trình của các đài địa phương lại thấp hơn 80-85% do địahình nhiều đồi núi và vùng lõm Mức độ phủ sóng như thế thị trường khách hàngcủa các kênh địa phương đa phần chỉ hạn chế trong phạm vi cấp tỉnh, khách hàngtỉnh nào thì xem chương trình của tỉnh đấy và những khách hàng này coi trọngtính địa phương của những kênh này Thời lượng phát sóng các chương trình củacác đài ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên (theo Đề án qui hoạch báo chítoàn quốc đến năm 2020) có thời gian trung bình là 10h/ngày Thời lượng phát
Trang 3sóng các chương trình địa phương tự sản xuất, biên tập dao động từ 7-9tiếng/ngày Có thể thấy rằng, giá trị tiềm tàng và giá trị thực tế của kênh truyềnhình các đài PTTH địa phương đang có một sự chênh lệch lớn, đây chính là căn
cứ cơ bản của việc đánh giá giá trị các kênh địa phương Theo đề án số hóa thìcác đài địa phương thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên thực hiện lộtrình số hóa từ 2015-2018 (trừ Đà Nẵng hoàn thành vào năm 2015, Khánh Hòa,Bình Thuận, Ninh Thuận hoàn thành vào năm 2016) Khi tham gia vào lộ trình
số hóa thì phạm vi phát sóng đã vượt qua giới hạn cấp tỉnh, mở rộng ra phạm vitoàn quốc, một bộ phận các đài PTTH địa phương đã có thể cạnh tranh với cácđài quốc gia ở phạm vi khu vực lẫn toàn quốc Lúc này, các kênh truyền hình địaphương đã bước vào thời kỳ cạnh tranh thị phần, các đài PTTH địa phương cũng
đã triển khai công cuộc cạnh tranh trên phạm vi cấp khu vực Một thách thức màcác kênh truyền hình địa phương đang phải đối mặt nữa đó là theo Qui hoạchbáo chí toàn quốc đến năm 2020 thì các kênh truyền hình địa phương phải tự chủtài chính Đây chính là yếu tố khiến các kênh địa phương phải nỗ lực hết mìnhtrước hết là để đảm bảo nguồn chi, sau đó cạnh tranh được với các kênh truyềnhình khác để tồn tại
Như vậy, nhiều thách thức đã và đang đặt ra đối với các kênh truyềnhình của các đài PTTH địa phương: trước kia, chương trình truyền hình của địaphương nào chỉ xem tại địa phương đó, thì nay chương trình của hầu như tất cảcác đài đều có mặt trên cùng một hệ thống, khán giả cả nước có dịp so sánh,đánh giá, lựa chọn; thách thức đặt ra ngày càng gay gắt là liệu kênh địa phương
có còn là kênh mà mỗi khi bật tivi thì khán giả của địa phương đó xem haykhông, xem nhiều hay xem ít ngay cả với chương trình truyền hình Thời sự?;liệu khán giả địa phương mỗi tối dành mấy phút xem chương trình “của mình”
Trang 4và liệu khán giả của địa phương có còn xem chương trình của địa phương nữahay không? Từ đó, nguồn thu quảng cáo, tài trợ sẽ tăng lên hay giảm xuống sovới trước Với tư cách là đài cấp tỉnh, truyền hình địa phương một mặt phải thựchiện nhiệm vụ chính trị là thông tin, tuyên truyền những sự kiện, vấn đề ở địaphương mình cho công chúng của mình Mặt khác, phải làm tốt nhiệm vụ kinhdoanh, giành số lượng người xem cao nhất và trách nhiệm quảng cáo cho tỉnhnhà Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế, tuyên truyền và kinh doanh là vấn đềchính yếu mà các kênh truyền hình địa phương đang phải đối mặt Tích cực thamgia vào thị trường cạnh tranh, không ngừng tăng cường năng lực cạnh tranhchính là con đường phải đi trong môi trường cạnh tranh của các kênh truyền hìnhđịa phương Chính vì vậy, việc phân tích các tiêu chí cấu thành và đánh giá nănglực cạnh tranh của các kênh truyền hình địa phương nói chung, ở miền Trung vàTây Nguyên nói riêng sẽ góp phần làm rõ nguyên nhân tại sao trên cùng mộtquốc gia, thậm chí trong cùng một vùng của quốc gia đó thì có những kênhtruyền hình địa phương này lại tốt hơn kênh truyền hình những địa phương khác.
Tiến hành thực hiện chuyên đề tổng quan tài liệu, tác giả muốn cung cấpnhững bằng chứng nghiên cứu, những công trình nghiên cứu về năng lực cạnhtranh trong lĩnh vực truyền hình trước đó ở trong nước cũng như nước ngoài; đưa
ra những giá trị mà tác giả có thể vận dụng và tham khảo vào trong luận án củamình
Mục tiêu mà chuyên đề này đặt ra đó chính là bên cạnh báo cáo về một sốtài liệu mà tác giả tham khảo được, thì chuyên đề còn đánh giá tổng hợp các kếtquả từ một số tài liệu chính để đưa ra một lập luận chặt chẽ về đề tài nghiên cứucủa luận án
Trang 5NỘI DUNG TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong truyền thông là một vấn đề cơ bản,thường xuyên và có ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động báo chí cũng như đời sốngbáo chí ở mỗi khu vực, mỗi địa phương Đây cũng là một lĩnh vực mang tính vĩ
mô và tương đối mới Trong đó, nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong truyềnhình nhìn từ cả hai góc độ: kinh tế học và báo chí học lại càng mới hơn Có thểthấy, cạnh tranh là một chủ đề nghiên cứu từ khá lâu được nhiều người, nhiềugiới quan tâm; đối tượng, phạm vi nghiên cứu có thể là một quốc gia, một lĩnhvực, một ngành, một đơn vị nào đó, thường là thuộc lĩnh vực kinh tế Trong lĩnhvực báo in, viễn thông cũng đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về cạnhtranh và năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu tàiliệu cho luận án, người viết gặp không ít khó khăn bởi chưa có một công trìnhnghiên cứu khoa học nào bàn sâu, đầy đủ và trọng tâm về cạnh tranh trongtruyền hình, mà chỉ đề cập từng khía cạnh trong đó mà thôi
1 Các nghiên cứu trong nước
Liên quan đến lĩnh vực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh có rất nhiều tàiliệu, công trình nghiên cứu, sách tham khảo Để bổ sung cho phần lý luận vềcạnh tranh và năng lực trong luận án của của mình, tác giả đã tham khảo cuốn
sách “Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm
2008, TS Nguyễn Hữu Thắng chủ biên Cuốn sách này có 3 chương nhưng tácgiả luận án tham khảo nội dung của chương I đó là một số vấn đề lý luận chungnhư: Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đo lường năng lực
Trang 6cạnh tranh của doanh nghiệp; các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
Khi nói đến năng lực cạnh tranh trong truyền hình, tác giả luận án cũng đãnghiên cứu, tìm hiểu và tham khảo một số cuốn sách và công trình nghiên cứuthuộc các chuyên ngành khác nhau liên quan đến đề tài này như kinh tế học báochí, báo chí học, quan hệ công chúng, lý thuyết truyền thông Có một số bàibáo, công trình khoa học nghiên cứu về cạnh tranh trong lĩnh vực báo chí có thể
kể đến:
- Bài viết ”Hiểu đúng về cạnh tranh báo chí” của TS.Nguyễn Thị Thoa
(Tạp chí Người làm báo tháng 9/2006) đã đưa ra các đối thủ cạnh tranh của báo
in đó là phát thanh và truyền hình Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề cập đến chínhsách thuế cho các cơ quan báo chí không thể đánh đồng như chính sách thuế cho
các doanh nghiệp; Bài báo khoa học “Nhà báo Hồng Vinh: báo Đảng – tính cạnh tranh còn hạn chế” cho rằng, nội dung báo Đảng đúng và trúng nhưng còn khô
khan, khó đọc và chưa thu hút công chúng Điều này làm cho tính cạnh tranh
trong báo Đảng còn hạn chế; Công trình khoa học “Hoạt động kinh tế của báo in trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” của PGS.TS Đinh
Văn Hường in trong Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông tháng 4/2012 đềcập 2 vấn đề: báo in từ bao cấp đến cơ chế thị trường; hoạt động và đóng góp vềkinh tế của báo in Gần đây nhất có 2 công trình nghiên cứu về năng lực cạnh
tranh của báo in là Luận văn Thạc sỹ “Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của báo Cựu chiến binh Việt Nam trong hệ thống báo chí hiện nay” của Trần Hoàng
Linh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, bảo vệ năm 2011 và Luận án Tiến sĩ “
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tạp chí ban Đảng trong thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế” của Phạm Thị Thu Huyền, Học Viện Báo chí và Tuyên
Trang 7truyền, bảo vệ năm 2014 Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đếnthuận lợi và khó khăn của báo in nhưng chỉ ở mức nêu vấn đề chứ chưa cónhững nghiên cứu chuyên sâu Riêng Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Thu Huyền
có làm rõ khung lý thuyết và lý luận về năng lực cạnh tranh của tạp chí các banđảng; đưa ra luận chứng sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh với vaitrò như giải pháp toàn diện mang tính chiến lược góp phần giải quyết khó khănhiện nay các tạp chí ban đảng đang gặp; xác định các tiêu chí về năng lực cạnhtranh của các tạp chí ban đảng bao gồm: Nội dung thông tin; hình thức thể hiện;phương thức phát hành; tương tác với công chúng; thu hút quảng cáo Từ đó, cócăn cứ khoa học cho việc đề xuất 5 nhóm giải pháp về nhận thức; về lãnh đạo,quản lý; về nghiệp vụ; về nhân lực; về cơ chế, chính sách, tăng cường đầu tư cơ
mà chưa đi sâu vào những vấn đề có tính tác nghiệp trong hoạch định chính sáchcũng như trong việc tổ chức thực thi chính sách đối với từng lĩnh vực, từng Đài
Trang 8địa phương riêng lẻ Luận văn chưa làm rõ những vấn đề mang tính lý luận báochí nói chung và kinh tế truyền thông nói riêng
- Cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của các tác giả Dương
Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, in
và phát hành năm 2004), ở chương 2 (từ trang 23-49), các tác giả bàn đến nhữngvấn đề chung của báo chí như vị trí, vai trò của báo chí trong xã hội, sự ra đời vàphát triển của báo chí, những điều kiện và yếu tố để hình thành và phát triển báochí, các loại hình truyền thông đại chúng
- Cuốn sách ”Cơ sở lý luận báo chí” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (NXB Văn
hóa-Thông tin, Hà Nội, 1993) cung cấp những kiến thức khá căn bản về nhữngquan niệm chung về báo chí, lịch sử hình thành và phát triển, chức năng và mốiliên hệ nhà báo-tác phẩm-công chúng
- Trong cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại – Từ hàn lâm đến đời thường” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010) của PGS TS Nguyễn Văn Dững
ở chương 2 (từ trang 53-166), tác giả đã trình bày khái niệm báo chí nhìn từ quanđiểm hệ thống nhằm cung cấp thêm cái nhìn rõ hơn bản chất chính trị-xã hội củahiện tượng này Từ đó, tác giả đã phác thảo hệ thống phạm trù, khái niệm củabáo chí học hiện đại, cũng như dùng nó để có thể giải thích các hiện tượng báochí trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau Một vấn đề nữa mà tác giảluận án quan tâm trong cuốn sách này đó là PGS TS Nguyễn Văn Dững chỉ rarằng, việc xây dựng tập đoàn truyền thông là một đòi hỏi cần kíp của nền báo chínước ta: “Không nên kéo dài tình trạng tản mạn, phân tán và dàn đều một nềnbáo chỉ chủ yếu dựa vào bao cấp như hiện nay… So với báo chí phương Tây, các
cơ sở báo chí Việt Nam hoạt động một cách manh mún theo kiểu sản xuất nhỏ;nguồn lực báo chí chưa được tổ chức theo hướng tích tụ tập trung để có những
Trang 9cơ quan báo chí đủ sức chi phối dư luận trong nước, trong khu vực và trên phạm
vi thế giới” [12, tr.34-35] Vấn đề đặt ra hiện nay trong sự phát triển của báo chí
là giải quyết được mâu thuẫn giữa lợi ích chính trị - tư tưởng với lợi ích kinh tế
và “tập đoàn truyền thông là đơn vị có cơ chế để có thể giải quyết hiệu quả tạichỗ mâu thuẫn cơ bản ấy Vấn đề là lựa chọn mô hình, bước đi và cơ chế hoạt độngbảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” [12, tr.34]
- Cuốn sách ” Truyền thông- lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do PGS TS.Nguyễn Văn Dững chủ biên, TS Đỗ Thị Thu Hằng biên soạn ( NXB Chính trịQuốc gia, 2012) cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơbản nói chung, truyền thông - vận động xã hội và truyền thông đại chúng nóiriêng; cũng như cung cấp một số nội dung, khái niệm, kỹ năng, tình huống, cơchế, chức năng của một số loại hoạt động truyền thông; chu trình, việc lập kếhoạch truyền thông, giám sát, đánh giá, phương pháp sử dụng trong giám sát,đánh giá và các hoạt động để duy trì hoạt động truyền thông
Nghiên cứu công chúng cũng là một trong những vấn đề liên quan đến đềtài luận án đang thực hiện Khi nghiên cứu công chúng, giới nghiên cứu đều coicông chúng không chỉ là đối tượng tác động, mà còn là lực lượng xã hội quyếtđịnh vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí – truyền thông, là một trongnhững yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của cơ quan báo chí Đã có rấtnhiều cuốn sách, các công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này Trước hết là từbình diện xã hội học Nghiên cứu lý thuyết về xã hội học công chúng có PGS.TS
Mai Quỳnh Nam với “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” (Tạp chí Xã hội học, số1,1996), Cuốn sách ” Chân dung công chúng truyền thông” của TS Trần
Hữu Quang ( NXB Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Trung tâm kinh tế Châu
Á-Thái Bình Dương, 2001) Từ bình diện báo chí học, đáng chú ý có cuốn “Truyền
Trang 10thông đại chúng”của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (NXB Chính trị, 2001), khi bàn về cơ chế tác động, về hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng, GS.TS Tạ Ngọc
Tấn đã phân tích sự phụ thuộc của hiệu quả xã hội đối với sự tiếp nhận của côngchúng Việc nghiên cứu, nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tácđộng bao giờ cũng là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu quả tácđộng của truyền thông đại chúng Một số nghiên cứu khác chọn các nhóm côngchúng đặc trưng theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp hoặc giới tính, hoặc nghiên cứunhóm công chúng của một loại hình báo chí: nghiên cứu thính giả của đài, nghiêncứu bạn đọc của một tờ báo, v.v Năm 2000, tác giả Đỗ Thu Hằng, khoa Báochí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ
khoa học Báo chí với đề tài: "Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng thanh niên hiện nay" Năm 2003, Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã có đề tài nghiên cứu cấp bộ với tên: "Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên Hà Nội" Năm 2005, Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Hà Nội đã có cuộc điều tra "Nhu cầu về truyền hình của sinh viên Hà Nội", hay
cũng trong năm 2005, tác giả Vũ Phương Dung, Khoa Báo chí, Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn cũng đã bảo bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ
Khoa học Báo chí với đề tài: "Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận chương trình truyền hình của sinh viên Hà Nội (Khảo sát các chương trình truyền hình trên sóng VTV1,
VTV2, VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam)"
Riêng với công chúng truyền hình thì đến năm 2011 cuốn sách ” Công chúng Truyền hình Việt Nam” của TS Trần Bảo Khánh (NXB Thông tấn, 2011)
đề cập khá chi tiết đến công chúng truyền hình, công chúng truyền hình nhìn từgóc độ xã hội học, đặc điểm tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng truyềnhình Việt Nam, đặc điểm trong xử lý thông tin truyền hình cho đến xu hướng
Trang 11thay đổi công chúng Có thể nói đây là cuốn sách nghiên cứu về công chúngtruyền hình có qui mô lớn nhất ở Việt Nam Gần đây, trên tạp chí Khoa học vàCông nghệ, Trường Đại học Khoa học Huế, tập 1, số 2, 2014 có đăng bài nghiêncứu của Phan Quốc Hải ( Khoa Báo chí - Truyền thông, Đại học Khoa học Huế)
”Xây dựng các sản phẩm truyền hình cho nhóm công chúng chuyên biệt Trung Trung Bộ” Trong bài nghiên cứu này, Phan Quốc Hải đã phân tích và đưa ra
nhu cầu thông tin của công chúng Trung Trung Bộ (theo lứa tuổi, theo giới tính)thông qua điều tra xã hội học về nhóm công chúng này Từ đó, đưa ra những đềxuất về các sản phẩm truyền hình phù hợp Đây cũng là một bài viết chứa đựngnhiều thông tin hay, cần thiết để tác giả luận án tham khảo
Ngày nay, cùng với sự nở rộ của hàng loạt đài và kênh truyền hình, cộngthêm sức ép ngày càng lớn của internet, truyền hình cũng không thể "lơ là" việctạo dựng hình ảnh cho chính mình Việc tự "chăm sóc" hình ảnh để ngày cànghoàn thiện hơn trong mắt công chúng Xây dựng và phát triển thương hiệu đãkhông còn là vấn đề mới ở Việt Nam và nếu so với thế giới nó đã là việc 'thườngngày ở huyện', 'việc không thể không làm' nếu muốn tồn tại và cạnh tranh Quan
hệ công chúng được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu bàn luận khá nhiềuqua các công trình khoa học của mình Trong phạm vi của luận án, tác giả đãtham khảo một số cuốn sách và công trình khoa học tiêu biểu như sau:
- Đề tài cấp Bộ “Quan hệ công chúng – Lý thuyết và thực tiễn” của TS.
Đinh Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Báo chí và Tuyên truyềnnăm 2006 đã cung cấp những kiến thức mang tính cơ sở lý luận khoa học về lĩnhvực quan hệ công chúng, đồng thời về mặt thực tiễn, nghiên cứu này có thể được
sử dụng để phục vụ cho công tác quản lý truyền thông ở nước ta Liên tiếp trong
2 năm 2007 và 2008, TS Đinh Thị Thuý Hằng cho ra mắt 2 cuốn sách “PR
Trang 12-Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” (NXB Lao động xã hội, 2007) và
“PR lý luận và ứng dụng” (NXB lao động xã hội, 2008) Trong cuốn “PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” TS Đinh Thị Thuý Hằng đã giới thiệu khái
quát về PR: PR là gì, lịch sử phát triển, các hoạt động chuyên nghiệp của PR,mối quan hệ của PR với truyền thông, những chiến lược trong PR, và hơn hết là
đặt ra các vấn đề về đạo đức nghề nghiệp PR Còn trong cuốn “PR lý luận
và ứng dụng” TS Đinh Thị Thuý Hằng đưa ra bản sơ đồ chiến lược giúp
nhà hoạt động PR phân tích, nắm bắt và giải quyết các vấn đề cốt lõi của lĩnhvực này, như các kỹ năng tác nghiệp cụ thể, các chiến lược quản lý khủnghoảng, quá trình và phương pháp xây dựng các mối quan hệ với công chúng, cácvấn đề pháp luật có liên quan… Trên cơ sở đó, nhà hoạt động PR sẽ tìm raphương pháp lập kế hoạch mang tính chiến lược nhằm nghiên cứu, xác lập đốitượng công chúng và trên cơ sở đó thay đổi thái độ của họ để đạt được các mụctiêu của tổ chức
- Cuốn sách “PR- Công cụ phát triển báo chí” của Đỗ Thị Thu Hằng
(NXB Trẻ, 2012) đã bàn đến khá cụ thể 3 lĩnh vực: nghiên cứu công chúng, tổchức sự kiện và tư vấn cho các tờ báo dành cho thanh niên Đây chính là 3 lĩnhvực cơ bản của PR trong sự tương tác với công chúng báo chí Ngoài ra, cuốnsách phân tích khá cụ thể hoạt động quan hệ công chúng trong cơ quan báo chíbao gồm các nguyên tắc quan hệ công chúng, các lĩnh vực quan hệ công chúng,vai trò của quan hệ công chúng
Vấn đề kinh tế truyền thông, kinh tế báo chí được xem là lĩnh vực khámới mẻ trong lý luận báo chí ở Việt Nam, mặc dù trên thế giới đã có rất nhiềucông trình khoa học, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Một sô nghiên cứu trongnước đề cập đến lĩnh vực kinh tế báo chí có thể kể đến:
Trang 13- “Phát triển kinh tế báo chí Hà Nội trong điều kiện kinh té thị trường XHCN giai đoạn hiện nay” – Đề tài nghiên cứu khoa học của Hội Nhà báo thành
phố Hà Nội ( Chủ nhiệm-Nguyễn Gia Quý, 2010) đã đề cập tới việc xây dựngtập đoàn báo chí của Hà Nội Mặc dù phần viết về tập đoàn báo chí chỉ chiếmmột chương nhỏ, song đã bước đầu đề cập và khái quát mô hình tổ chức trên gắnvới điều kiện của Hà Nội Tuy nhiên, tập thể tác giả có sự tham gia của các nhànghiên cứu kinh tế, nên góc độ tiếp cận vấn đề nghiêng nhiều về các yếu tốchung của tập đoàn kinh tế, chưa làm rõ những đặc trưng của tập đoàn báo chí,nhất là những đặc thù, yêu cầu trong điều kiện của Việt Nam Phương thức hìnhthành tập đoàn là sự hợp nhất một cách cơ học các cơ quan báo chí chưa gắn vớicác điều kiện cần và đủ, các lý giải khoa học, nên không khả thi; chưa xây dựngđược mô hình tổ chức - quản lý, cơ chế hoạt động cụ thể Nghiên cứu cũng chưaxây dựng được mô hình tổ chức bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, làm thay đổi vềchất hiệu quả hoạt động, giải quyết được mối quan hệ giữa hai yếu tố kinh tế vàchính trị trong tập đoàn truyền thông
- Luận văn chuyên ngành kinh tế phát triển, của Th.s Tô Quang Nam, với
đề tài: “Xây dựng và phát triển tập đoàn báo chí tại Việt Nam” cũng đã có
những nội dung đề cập trực tiếp tới mô hình tập đoàn báo chí tại Việt Nam Song
do đây là một luận văn chuyên ngành kinh tế phát triển, nên chủ yếu phân tíchcác yếu tố về kinh tế học, các yếu tố về báo chí học chưa được đề cập sâu
- Luận văn Thạc sỹ Báo chí“Mô hình tổ chức kinh doanh của các cơ quan báo chí trong nền kinh tế thị trường” của Vũ Thị Lan Anh ,Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, bảo vệ năm 2010 cũng đã bước đầu xác địnhnhững quan điểm cơ bản, khái niệm cơ bản về hoạt động kinh doanh báo chí ởViệt Nam
Trang 14- Đề tài “ Báo chí trong cơ chế thị trường” do TS Dương Xuân Sơn chủ
trì (cấp Truwofng Đại học Tổng hợp Hà Nội) nghiệm thu năm 1993 Nội dungnghiên cứu tác động của cơ chế thị trường đối với hoạt động báo chí thời kỳ đổimới trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực từ sự tác động của nó
- Một luận án Tiến sĩ báo chí Báo chí cũng được tác giả luận án này tham
khảo đó là “Xây dựng tập đoàn truyền thông ở Việt Nam” của tác giả Lê Hải
(Học viện Báo chí Tuyên truyền, 2012) Chúng tôi đã tham khảo phần khuyếnnghị bổ sung những quan điểm, chủ trương của Đảng, cơ sở pháp lý, tiềm lựccủa các cơ quan truyền thông, điều kiện kinh tế, nhất là đề xuất đổi mới cơ chếtài chính và hoạt động kinh tế truyền thông của cơ quan truyền thông - vấn đề có
ý nghĩa quyết định tới việc ra đời và phát triển của mô hình tập đoàn - mà mấuchốt là có cơ chế cho phép tập đoàn truyền thông hoạt động như một doanhnghiệp nhà nước đặc thù… Tác giả Lê Hải đã đưa ra một số quan điểm có tínhnguyên tắc và cần lưu ý khi thành lập tập đoàn truyền thông ở Việt Nam Đây chính
là nội dung mà chúng tôi cũng đã tham khảo khi vận dụng vào nội dung chương
ba của mình
- Mới nhất, các tác giả Đinh Văn Hường và Bùi Chí Trung cho ra mắt
cuốn sách chuyên khảo “Một số vấn đề về kinh tế báo in” ( NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2015) Cuốn sách tập trung vào xác lập một cách cơ bản, hệ thốngcác học thuyết về kinh tế truyền thông đang phổ cập trên thế giới hiện nay Khảosát, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động kinh tế chủ yếu của báo in ViệtNam những năm vừa qua, đồng thời hệ thống hóa bước đầu các hoạt động đó từgóc nhìn kinh tế báo chí Hệ thống hóa quan điểm, định hướng của Đảng và phápluật của Nhà nước ta về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế Tìm hiểu những kinh nghiệm chủ yếu của kính tế báo chí
Trang 15truyền thông thế giới nhằm tham khảo, vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thểcủa báo chí truyền thông Việt Nam, trong đó có báo in Đề xuất các giải pháp,kiến nghị để báo in nước ta hoạt động kinh tế năng động, hiệu quả trong bối cảnhmới Trong đó, có 2 nội dung mà tác giả luận án tham khảo cho luận án của
mình, đó là: chương 1: Khái quát các lý luận kinh tế báo chí truyền thông; phân
tích các dạng cấu trúc thị trường báo chí truyền thông, các mối liên hệ, chi phí vàquy trình sản xuất; chỉ ra và phân tích đối tượng tiêu thụ của thị trường báo chítruyền thông, công chúng, đối tượng tiêu thụ, các yếu tố văn hóa xã hội ảnh
hưởng; sự cạnh tranh trên thị trường báo chí truyền thông và chương 3: Những
quan điểm của Đảng về kinh tế báo chí truyền thông trước bối cảnh và yêu cầumới; pháp luật của Nhà nước và cơ chế chính sách cho hoạt động kinh tế báo chítruyền thông ở nước ta; mối quan hệ giữa quan điểm, đường lối của Đảng vàpháp luật của Nhà nước về kinh tế báo chí truyền thông
- Liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính, tác giả luận án cũng đã tham khảo
luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng “Tác động của cơ chế tự chủ tài chính đối với nội dung thông tin trên báo in hiện nay” của tác giả Hoàng Thị Minh
Ngọc (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2014) và luận văn thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Nam (Đại học Kinh tế Quốc
dân, 2008) Hai tác giả này đã làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động báo chítrong cơ chế kinh tế thị trường, kinh tế báo chí, cơ chế tự chủ trong đơn vị sựnghiệp có thu, mối quan hệ giữa cơ chế tự chủ tài chính đối với sự phát triển nộidung Đồng thời, chỉ ra những mặt tích cực và tiêu cực của cơ chế tự chủ tàichính đối với các cơ quan báo chí Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các giải phápnhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của hoạt
Trang 16động kinh doanh với chất lượng nội dung thông tin trên báo in cũng như của ĐàiTruyền hình Việt Nam, đồng thời hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính một cách tối
- Cuốn sách ”Tìm hiểu kinh tế truyền hình” của tác giả Bùi Chí Trung
(Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội,2013) đã hệ thống hóa các học thuyếtkinh tế học truyền thông, kinh tế học truyền hình trên thế giới; phân tích so sánh
và đưa ra nhận thức mới trong môi trường truyền thông Việt Nam Điểm nổi bật
mà cuốn sách này đưa ra đó là tác giả đã phân tích được thực trạng hoạt độngkinh tế truyền hình tại Việt Nam trong những năm qua, đưa ra xu hướng pháttriển chính yếu, những kinh nghiệm và giải pháp phát triển hoạt động kinh tếtruyền hình ở Việt Nam trong thời gian tới Đây là một trong những công trìnhnghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế truyền hình ở Việt Nam và là nguồn tàiliệu tham khảo giúp tác giả luận án làm rõ hơn thực trạng vận động, phát triển vànhững vấn đề đặt ra đối với ngành truyền hình ở Việt Nam hiện nay
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Hoàn thiện phương thức quản lý kinh tế cho ngành truyền hình trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan Thị Hạnh Loan, Đại học Kinh tế quốc dân, bảo vệ năm 1996 đã
đề cập đến chức năng của truyền hình trong nền kinh tế thị trường, phương thức
Trang 17quản lý truyền hình ở một số nước phát triển và phaann tích mô hình quản lý củaĐài Truyền hình Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Phan ThịHạnh Loan cũng đã chỉ ra quan điểm phát triển lĩnh vực truyền hình phù hợp vớinền kinh tế hàng hóa, đặt ra vấn đề hạch toán kinh tế như một doanh nghiệp vớicác đài truyền hình, quản lý các chương trình như một “ dự án” theo đơn đặthàng Mặc dù những vấn đề kinh tế truyền hình mà luận án đề cập rất thực tiễn
và được quan tâm từ trước đến nay nhưng luận án này vẫn chưa khái quát được
hệ thống lý luận hoàn chỉnh
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Những phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản phẩm truyền hình cho phù hợp với cung cầu về truyền hình
ở Việt Nam hiện nay” của Đinh Quang Hưng, bảo vệ năm 1997 đã đi sâu phân
tích việc quản lý cho phí sản xuất như một yếu tố quan trọng trong sự thành côngcủa một đài truyền hình; đưa ra phương thức dự đoán nhu cầu hưởng thụ củacông chúng để tiến tới năng lực tự chủ tài chính của đài truyền hình Tuy nhiên,luận án này chỉ dừng lại ở sự phản ánh kết quả kinh doanh của VTV, chưa chỉ rađược xu hướng tất yếu cửa sự phát triển kinh tế truyền hình
Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn thạc sỹ các chuyên ngành khác đềcập đến lĩnh vực kinh tế truyền hình như: Luận văn Thạc sỹ Kinh doanh và quản
lý “Cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền (PAY-TV) của Đài truyền hình Việt Nam” của Lê Chí Công, bảo vệ năm 2006; “ Truyền hình trả tiền ở Việt Nam” – Luận văn Thạc sỹ báo chí của Bùi Thị Phượng
( Trường ĐHKHXH và NV, 2006)
- Đối với các cơ quan truyền thông trọng điểm của Nhà nước, như Thôngtấn xã Việt Nam, việc trở thành tập đoàn truyền thông quốc gia mạnh đã được đềcập nhiều lần, gắn với yêu cầu đổi mới về cơ chế quản lý, phương thức hoạt
Trang 18động và cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến Năm 2010, Thông tấn xã Việt Nam đãxây dựng Đề án: “Thí điểm xây dựng cơ chế tài chính đặc thù đối với Thông tấn
xã Việt Nam” và mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Thông tấn xãViệt Nam thực hiện thí điểm cơ chế tài chính riêng mang tính đặc thù này, giaiđoạn 2012-2014, theo Quyết định số 15/2012/QĐ-TTg, ngày 6-3-2012, với mụctiêu đưa Thông tấn xã Việt Nam trở thành một tập đoàn truyền thông quốc giamạnh Nếu sau năm 2014, hiệu quả triển khai cơ chế này được tổng kết, sẽ làmột căn cứ tham khảo hữu ích đối với việc xây dựng và ban hành cơ chế tàichính mang tính đặc thù của mô hình tập đoàn truyền thông - một điều kiện hếtsức quan trọng để mô hình trên có thể ra đời và hoạt động Những tài liệu giàutính thực tiễn, xuất phát từ điều kiện cụ thể của mỗi cơ quan truyền thông nêutrên là những tham khảo hữu ích đối với người nghiên cứu
Đạo đức báo chí là một trong những yêu cầu bắt buộc cần phải có đối vớinhững người làm báo Nâng cao năng lực cạnh tranh cũng đặt ra nhiều vấn đề vềđạo đức nghề nghiệp của người làm báo Vì vậy, quá trình nghiên cứu của mình,tác giả cũng đã tìm hiểu thêm một số tài liệu liên quan đến vấn đề này:
- Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của các tác giả Dương
Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, in
và phát hành năm 2004) Tại chương 10 (từ trang 226-243) các tác giả bàn vềđạo đức nghề nghiệp của nhà báo thông qua các nguyên tắc trong hoạt động thựctiễn của nghề báo Đó là các nguyên tắc thể hiện trong các mối quan hệ giữa nhàbáo với công chúng, nhà báo với nguồn tin, nhà báo với nhân vật trong tác phẩm,nhà báo với tác giả, nhà báo với ban biên tập, nhà báo với đồng nghiệp
- Luận án Tiến sĩ Báo chí ” Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Trường Giang, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền,