PAGE 41 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GS TS Giáo sư Tiến sĩ HTVC Truyền hình Cáp Thành phố Hồ Chí Minh NXB Nhà xuất bản O2TV Kênh truyền hình chuyên về sức khỏe PTTH Phát thanh Truyền hình P BTCT Phòng Bi[.]
Trang 1SMS : Short massege servisce (Dịch vụ tin nhắn ngắn)
THVN : Truyền hình Việt Nam
TNS : Taylor Nelson Sofres (Công ty Nghiên cứu thị trường)TRT : Kênh truyền hình của Đài Phát thanh truyền hình ThừaThiên Huế
KTV : Kênh truyền hình của Đài Phát thanh truyền hình Khánh HòaLTV : Kênh truyền hình của Đài Phát thanh truyền hình Lâm ĐồngTTĐT : Thông tin điện tử
VCTV : Vietnam Cable Television (Truyền hình Cáp Việt Nam)VTC :Vietnam Television Corporation (Tổng Công ty Truyền thông đa phương tiện Việt Nam)
VTV : Vietnam Television (Truyền hình Việt Nam)
Rating : Chỉ số đo lượng người xem truyền hình
Trang 2MỞ ĐẦU
Năng lực cạnh tranh của các kênh truyền hình địa phương ở miền Trung
và Tây Nguyên hiện nay là chủ đề nghiên cứu của luận án Tiến sĩ Báo chí họcnày Lý do tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu này đó là trước kỷ nguyên toàncầu hóa đã đưa thông tin đến tận mọi ngõ ngách của trái đất nơi chúng ta đangsống dù đó là những vùng nông thôn hẻo lánh hay đô thị sầm uất, mặt khác,toàn cầu hóa thông tin đã tạo điều kiện cho con người không còn phải thụđộng tiếp nhận thông tin, tiếp nhận một nguồn thông tin mà cùng một lúc tiếpnhận nhiều nguồn thông tin; Đề án Số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hìnhmặt đất đến năm 2020 Theo đề án số hóa thì các đài địa phương thuộc khuvực miền Trung Tây Nguyên sẽ thực hiện số hóa từ 2015-2018(trừ Đà Nẵnghoàn thành vào năm 2015,Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận hoàn thànhvào năm 2016), như vậy khi tham gia vào lộ trình số hóa phạm vi tốc độ phátsóng đã vượt qua phạm vi cấp tỉnh, mở rộng ra phạm vi toàn quốc, một bộphận các đài cấp tỉnh đã có thể cạnh tranh với các đài quốc gia ở phạm vi cấpkhu vực lẫn toàn quốc Lúc này, các kênh truyền hình địa phương đã bướcvào thời kỳ cạnh tranh thị phần, các đài địa phương cũng đã triển khai côngcuộc cạnh tranh trên phạm vi cấp khu vực; Và sắp tới đây là đề án Qui hoạchphát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, theo đó, thì các kênhtruyền hình địa phương phải tự chủ tài chính Đây chính là yếu tố khiến cáckênh địa phương phải nỗ lực hết mình trước hết là để đảm bảo nguồn chi, sau
đó cạnh tranh được với các kênh truyền hình khác để tồn tại
Ở các tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên có 22 kênh truyềnhình quảng bá của Đài Truyền hình Việt Nam và 19 tỉnh, thành phố ThừaThiên Huế có 2 đơn vị cùng làm nhiệm vụ phát sóng kênh truyền hình quảng
bá là Đài PTTH Thừa Thiên Huế (kênh TRT) và kênh truyền hình của Trungtâm Truyền hình Việt Nam tại Huế (VTV Huế) Hai kênh này thực hiện
Trang 3chức năng cơ bản giống nhau là thông tin, tuyên truyền những sự kiện, vấn
đề kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, bản sắc văn hóa vùng đất cố đô chođối tượng người xem chủ yếu ở địa phương.Tương tự, Thành phố Đà Nẵngcũng có hai đơn vị cùng làm nhiệm vụ phát sóng kênh truyền hình quảng
bá Đó là Đài PTTH Đà Nẵng (kênh DRT1 và DRT2) và Trung tâm Truyềnhình Việt Nam tại Đà Nẵng (VTV Đà Nẵng) Các tỉnh, thành phố khác, bêncạnh trung tâm sản xuất, truyền dẫn phát sóng hình thành từ nhiều nămtrước, còn mở thêm hàng chục kênh truyền hình quảng bá và trả tiền
Miền Trung và Tây Nguyên là khu vực có nhiều tiềm năng phát triểnkinh tế, có những đặc điểm kinh tế - xã hội chung, do đó giữa các kênh truyềnhình của các đài PTTH địa phương các tỉnh, thành trong khu vực vừa cónhững đặc điểm chung và riêng Nhìn vào tình hình phủ sóng gần đây nhất(theo số liệu khảo sát trong Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hìnhmặt đất đến năm 2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2011) thì diệnphủ sóng chương trình truyền hình quốc gia ở khu vực miền Trung và TâyNguyên tương đối cao 90-95%, còn chương trình của các đài địa phương lạithấp hơn 80-85% do địa hình nhiều đồi núi và vùng lõm Mức độ phủ sóngnhư thế thị trường khách hàng của các kênh địa phương đa phần chỉ hạn chếtrong phạm vi cấp tỉnh, khách hàng tỉnh nào thì xem chương trình của tỉnhđấy và những khách hàng này coi trọng tính địa phương của những kênh này.Thời lượng phát sóng các chương trình của các đài ở khu vực miền Trung vàTây Nguyên (theo Đề án qui hoạch báo chí toàn quốc đến năm 2020) có thờigian trung bình là 10h/ngày Thời lượng phát sóng các chương trình địaphương tự sản xuất, biên tập dao động từ 7-9 tiếng/ngày Có thể thấy rằng, giátrị tiềm tàng và giá trị thực tế của kênh truyền hình các đài PTTH địa phươngđang có một sự chênh lệch lớn, đây chính là căn cứ cơ bản của việc đánh giágiá trị các kênh địa phương Theo đề án số hóa thì các đài địa phương thuộc
Trang 4khu vực miền Trung và Tây Nguyên thực hiện lộ trình số hóa từ 2015-2018(trừ Đà Nẵng hoàn thành vào năm 2015, Khánh Hòa, Bình Thuận, NinhThuận hoàn thành vào năm 2016) Khi tham gia vào lộ trình số hóa thì phạm
vi phát sóng đã vượt qua giới hạn cấp tỉnh, mở rộng ra phạm vi toàn quốc,một bộ phận các đài PTTH địa phương đã có thể cạnh tranh với các đài quốcgia ở phạm vi khu vực lẫn toàn quốc Lúc này, các kênh truyền hình địaphương đã bước vào thời kỳ cạnh tranh thị phần, các đài PTTH địa phươngcũng đã triển khai công cuộc cạnh tranh trên phạm vi cấp khu vực Một tháchthức mà các kênh truyền hình địa phương đang phải đối mặt nữa đó là theoQui hoạch báo chí toàn quốc đến năm 2020 thì các kênh truyền hình địaphương phải tự chủ tài chính Đây chính là yếu tố khiến các kênh địa phươngphải nỗ lực hết mình trước hết là để đảm bảo nguồn chi, sau đó cạnh tranhđược với các kênh truyền hình khác để tồn tại
Như vậy, nhiều thách thức đã và đang đặt ra đối với các kênh truyềnhình của các đài PTTH địa phương: trước kia, chương trình truyền hình củađịa phương nào chỉ xem tại địa phương đó, thì nay chương trình của hầu nhưtất cả các đài đều có mặt trên cùng một hệ thống, khán giả cả nước có dịp sosánh, đánh giá, lựa chọn; thách thức đặt ra ngày càng gay gắt là liệu kênh địaphương có còn là kênh mà mỗi khi bật tivi thì khán giả của địa phương đóxem hay không, xem nhiều hay xem ít ngay cả với chương trình truyền hìnhThời sự?; liệu khán giả địa phương mỗi tối dành mấy phút xem chương trình
“của mình” và liệu khán giả của địa phương có còn xem chương trình củađịa phương nữa hay không? Từ đó, nguồn thu quảng cáo, tài trợ sẽ tăng lênhay giảm xuống so với trước Với tư cách là đài cấp tỉnh, truyền hình địaphương một mặt phải thực hiện nhiệm vụ chính trị là thông tin, tuyên truyềnnhững sự kiện, vấn đề ở địa phương mình cho công chúng của mình Mặtkhác, phải làm tốt nhiệm vụ kinh doanh, giành số lượng người xem cao nhất
Trang 5và trách nhiệm quảng cáo cho tỉnh nhà Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế,tuyên truyền và kinh doanh là vấn đề chính yếu mà các kênh truyền hình địaphương đang phải đối mặt Tích cực tham gia vào thị trường cạnh tranh,không ngừng tăng cường năng lực cạnh tranh chính là con đường phải đitrong môi trường cạnh tranh của các kênh truyền hình địa phương Chính vìvậy, việc phân tích các tiêu chí cấu thành và đánh giá năng lực cạnh tranh củacác kênh truyền hình địa phương nói chung, ở miền Trung và Tây Nguyên nóiriêng sẽ góp phần làm rõ nguyên nhân tại sao trên cùng một quốc gia, thậmchí trong cùng một vùng của quốc gia đó thì có những kênh truyền hình địaphương này lại tốt hơn kênh truyền hình những địa phương khác
Tiến hành thực hiện chuyên đề tổng quan tài liệu, tác giả muốn cung cấpnhững bằng chứng nghiên cứu, những công trình nghiên cứu về năng lực cạnhtranh trong lĩnh vực truyền hình trước đó ở trong nước cũng như nước ngoài;đưa ra những giá trị mà tác giả có thể vận dụng và tham khảo vào trong luận
án của mình
Mục tiêu mà chuyên đề này đặt ra đó chính là bên cạnh báo cáo về một
số tài liệu mà tác giả tham khảo được, thì chuyên đề còn đánh giá tổng hợpcác kết quả từ một số tài liệu chính để đưa ra một lập luận chặt chẽ về đề tàinghiên cứu của luận án
Trang 6NỘI DUNG TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong truyền thông là một vấn đề cơbản, thường xuyên và có ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động báo chí cũng nhưđời sống báo chí ở mỗi khu vực, mỗi địa phương Đây cũng là một lĩnh vựcmang tính vĩ mô và tương đối mới Trong đó, nghiên cứu năng lực cạnh tranhtrong truyền hình nhìn từ cả hai góc độ: kinh tế học và báo chí học lại càngmới hơn Có thể thấy, cạnh tranh là một chủ đề nghiên cứu từ khá lâu đượcnhiều người, nhiều giới quan tâm; đối tượng, phạm vi nghiên cứu có thể làmột quốc gia, một lĩnh vực, một ngành, một đơn vị nào đó, thường là thuộclĩnh vực kinh tế Trong lĩnh vực báo in, viễn thông cũng đã có một số côngtrình nghiên cứu, bài viết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Tuy nhiên,trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu tài liệu cho luận án, người viết gặp không
ít khó khăn bởi chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào bàn sâu, đầy
đủ và trọng tâm về cạnh tranh trong truyền hình, mà chỉ đề cập từng khía cạnhtrong đó mà thôi
1 Các nghiên cứu trong nước
Liên quan đến lĩnh vực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh có rất nhiềutài liệu, công trình nghiên cứu, sách tham khảo Để bổ sung cho phần lý luận
về cạnh tranh và năng lực trong luận án của của mình, tác giả đã tham khảo
cuốn sách “Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn
hành năm 2008, TS Nguyễn Hữu Thắng chủ biên Cuốn sách này có 3chương nhưng tác giả luận án tham khảo nội dung của chương I đó là một sốvấn đề lý luận chung như: Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; các yếu tố tác động đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khi nói đến năng lực cạnh tranh trong truyền hình, tác giả luận án cũng
đã nghiên cứu, tìm hiểu và tham khảo một số cuốn sách và công trình nghiên
Trang 7cứu thuộc các chuyên ngành khác nhau liên quan đến đề tài này như kinh tếhọc báo chí, báo chí học, quan hệ công chúng, lý thuyết truyền thông Cómột số bài báo, công trình khoa học nghiên cứu về cạnh tranh trong lĩnh vựcbáo chí có thể kể đến:
- Bài viết ”Hiểu đúng về cạnh tranh báo chí” của TS.Nguyễn Thị Thoa
(Tạp chí Người làm báo tháng 9/2006) đã đưa ra các đối thủ cạnh tranh củabáo in đó là phát thanh và truyền hình Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề cậpđến chính sách thuế cho các cơ quan báo chí không thể đánh đồng như chính
sách thuế cho các doanh nghiệp; Bài báo khoa học “Nhà báo Hồng Vinh: báo Đảng – tính cạnh tranh còn hạn chế” cho rằng, nội dung báo Đảng đúng và
trúng nhưng còn khô khan, khó đọc và chưa thu hút công chúng Điều nàylàm cho tính cạnh tranh trong báo Đảng còn hạn chế; Công trình khoa học
“Hoạt động kinh tế của báo in trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở Việt Nam” của PGS.TS Đinh Văn Hường in trong Tạp chí Lý luận chính trị
& Truyền thông tháng 4/2012 đề cập 2 vấn đề: báo in từ bao cấp đến cơ chếthị trường; hoạt động và đóng góp về kinh tế của báo in Gần đây nhất có 2công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của báo in là Luận văn Thạc sỹ
“Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của báo Cựu chiến binh Việt Nam trong
hệ thống báo chí hiện nay” của Trần Hoàng Linh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, bảo vệ năm 2011 và Luận án Tiến sĩ “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tạp chí ban Đảng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế” của
Phạm Thị Thu Huyền, Học Viện Báo chí và Tuyên truyền, bảo vệ năm 2014.Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến thuận lợi và khó khăn củabáo in nhưng chỉ ở mức nêu vấn đề chứ chưa có những nghiên cứu chuyênsâu Riêng Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Thu Huyền có làm rõ khung lýthuyết và lý luận về năng lực cạnh tranh của tạp chí các ban đảng; đưa ra luậnchứng sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh với vai trò như giảipháp toàn diện mang tính chiến lược góp phần giải quyết khó khăn hiện nay
Trang 8các tạp chí ban đảng đang gặp; xác định các tiêu chí về năng lực cạnh tranhcủa các tạp chí ban đảng bao gồm: Nội dung thông tin; hình thức thể hiện;phương thức phát hành; tương tác với công chúng; thu hút quảng cáo Từ đó,
có căn cứ khoa học cho việc đề xuất 5 nhóm giải pháp về nhận thức; về lãnhđạo, quản lý; về nghiệp vụ; về nhân lực; về cơ chế, chính sách, tăng cườngđầu tư cơ sở vật chất
- Trong lĩnh vực truyền hình, có Luận văn Th.sỹ “Năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam” của Nguyễn Thành Lương (Khoa Kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006) là công trình nghiên cứu duy nhất vềcạnh tranh trong lĩnh vực truyền hình Trên cở sở lý luận về cạnh tranh,những kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh của truyền hình
và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam,Nguyễn Thành Lương đã nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Truyền hìnhViệt Nam như là một động thái tất yếu trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế vàhội nhập của Việt Nam Tuy nhiên, do luận văn được nghiên cứu dưới góc độkinh tế - chính trị và nghiên cứu sâu cho Đài truyền hình Việt Nam nên chỉ
đề cập đến giải pháp, chính sách mang tính vĩ mô mà chưa đi sâu vào nhữngvấn đề có tính tác nghiệp trong hoạch định chính sách cũng như trong việc tổchức thực thi chính sách đối với từng lĩnh vực, từng Đài địa phương riêng lẻ.Luận văn chưa làm rõ những vấn đề mang tính lý luận báo chí nói chung vàkinh tế truyền thông nói riêng
- Cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của các tác giả Dương
Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
in và phát hành năm 2004), ở chương 2 (từ trang 23-49), các tác giả bàn đếnnhững vấn đề chung của báo chí như vị trí, vai trò của báo chí trong xã hội, sự
ra đời và phát triển của báo chí, những điều kiện và yếu tố để hình thành vàphát triển báo chí, các loại hình truyền thông đại chúng
Trang 9- Cuốn sách ”Cơ sở lý luận báo chí” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (NXB Văn
hóa-Thông tin, Hà Nội, 1993) cung cấp những kiến thức khá căn bản vềnhững quan niệm chung về báo chí, lịch sử hình thành và phát triển, chứcnăng và mối liên hệ nhà báo-tác phẩm-công chúng
- Trong cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại – Từ hàn lâm đến đời thường” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010) của PGS TS Nguyễn Văn
Dững ở chương 2 (từ trang 53-166), tác giả đã trình bày khái niệm báo chínhìn từ quan điểm hệ thống nhằm cung cấp thêm cái nhìn rõ hơn bản chấtchính trị-xã hội của hiện tượng này Từ đó, tác giả đã phác thảo hệ thốngphạm trù, khái niệm của báo chí học hiện đại, cũng như dùng nó để có thể giảithích các hiện tượng báo chí trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau.Một vấn đề nữa mà tác giả luận án quan tâm trong cuốn sách này đó là PGS
TS Nguyễn Văn Dững chỉ ra rằng, việc xây dựng tập đoàn truyền thông làmột đòi hỏi cần kíp của nền báo chí nước ta: “Không nên kéo dài tình trạngtản mạn, phân tán và dàn đều một nền báo chỉ chủ yếu dựa vào bao cấp nhưhiện nay… So với báo chí phương Tây, các cơ sở báo chí Việt Nam hoạt độngmột cách manh mún theo kiểu sản xuất nhỏ; nguồn lực báo chí chưa được tổchức theo hướng tích tụ tập trung để có những cơ quan báo chí đủ sức chiphối dư luận trong nước, trong khu vực và trên phạm vi thế giới” [12, tr.34-35] Vấn đề đặt ra hiện nay trong sự phát triển của báo chí là giải quyết đượcmâu thuẫn giữa lợi ích chính trị - tư tưởng với lợi ích kinh tế và “tập đoàntruyền thông là đơn vị có cơ chế để có thể giải quyết hiệu quả tại chỗ mâuthuẫn cơ bản ấy Vấn đề là lựa chọn mô hình, bước đi và cơ chế hoạt động bảođảm vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” [12, tr.34]
- Cuốn sách ” Truyền thông- lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do PGS TS.Nguyễn Văn Dững chủ biên, TS Đỗ Thị Thu Hằng biên soạn ( NXB Chínhtrị Quốc gia, 2012) cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền
Trang 10thông cơ bản nói chung, truyền thông - vận động xã hội và truyền thông đạichúng nói riêng; cũng như cung cấp một số nội dung, khái niệm, kỹ năng,tình huống, cơ chế, chức năng của một số loại hoạt động truyền thông; chutrình, việc lập kế hoạch truyền thông, giám sát, đánh giá, phương pháp sửdụng trong giám sát, đánh giá và các hoạt động để duy trì hoạt động truyềnthông
Nghiên cứu công chúng cũng là một trong những vấn đề liên quan đến
đề tài luận án đang thực hiện Khi nghiên cứu công chúng, giới nghiên cứuđều coi công chúng không chỉ là đối tượng tác động, mà còn là lực lượng xãhội quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí – truyền thông, làmột trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của cơ quan báochí Đã có rất nhiều cuốn sách, các công trình khoa học nghiên cứu vấn đềnày Trước hết là từ bình diện xã hội học Nghiên cứu lý thuyết về xã hội học
công chúng có PGS.TS Mai Quỳnh Nam với “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” (Tạp chí Xã hội học, số1,1996), Cuốn sách ” Chân dung công chúng truyền thông” của TS Trần Hữu Quang ( NXB Trẻ, Thời báo Kinh tế
Sài Gòn và Trung tâm kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, 2001) Từ bình diện
báo chí học, đáng chú ý có cuốn “Truyền thông đại chúng”của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (NXB Chính trị, 2001), khi bàn về cơ chế tác động, về hiệu quả xã
hội của truyền thông đại chúng, GS.TS Tạ Ngọc Tấn đã phân tích sự phụthuộc của hiệu quả xã hội đối với sự tiếp nhận của công chúng Việc nghiêncứu, nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tác động bao giờ cũng
là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu quả tác động của truyềnthông đại chúng Một số nghiên cứu khác chọn các nhóm công chúng đặc trưngtheo lứa tuổi, theo nghề nghiệp hoặc giới tính, hoặc nghiên cứu nhóm côngchúng của một loại hình báo chí: nghiên cứu thính giả của đài, nghiên cứu bạnđọc của một tờ báo, v.v Năm 2000, tác giả Đỗ Thu Hằng, khoa Báo chí,
Trang 11Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ
khoa học Báo chí với đề tài: "Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng thanh niên hiện nay" Năm 2003, Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã có đề tài nghiên cứu cấp bộ với tên: "Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên Hà Nội" Năm 2005, Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Hà Nội đã có cuộc điều tra "Nhu cầu về truyền hình của sinh viên Hà Nội", hay cũng trong năm 2005, tác giả Vũ Phương Dung, Khoa Báo
chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng đã bảo bảo vệ thành
công luận văn Thạc sĩ Khoa học Báo chí với đề tài: "Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận chương trình truyền hình của sinh viên Hà Nội (Khảo sát các chương trình
truyền hình trên sóng VTV1, VTV2, VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam)"
Riêng với công chúng truyền hình thì đến năm 2011 cuốn sách ” Công chúng Truyền hình Việt Nam” của TS Trần Bảo Khánh (NXB Thông tấn,
2011) đề cập khá chi tiết đến công chúng truyền hình, công chúng truyền hìnhnhìn từ góc độ xã hội học, đặc điểm tâm lý tiếp nhận thông tin của côngchúng truyền hình Việt Nam, đặc điểm trong xử lý thông tin truyền hình chođến xu hướng thay đổi công chúng Có thể nói đây là cuốn sách nghiên cứu vềcông chúng truyền hình có qui mô lớn nhất ở Việt Nam Gần đây, trên tạp chíKhoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Huế, tập 1, số 2, 2014 cóđăng bài nghiên cứu của Phan Quốc Hải ( Khoa Báo chí - Truyền thông, Đại
học Khoa học Huế) ”Xây dựng các sản phẩm truyền hình cho nhóm công chúng chuyên biệt Trung Trung Bộ” Trong bài nghiên cứu này, Phan Quốc
Hải đã phân tích và đưa ra nhu cầu thông tin của công chúng Trung Trung Bộ(theo lứa tuổi, theo giới tính) thông qua điều tra xã hội học về nhóm côngchúng này Từ đó, đưa ra những đề xuất về các sản phẩm truyền hình phùhợp Đây cũng là một bài viết chứa đựng nhiều thông tin hay, cần thiết để tácgiả luận án tham khảo
Trang 12Ngày nay, cùng với sự nở rộ của hàng loạt đài và kênh truyền hình, cộngthêm sức ép ngày càng lớn của internet, truyền hình cũng không thể "lơ là"việc tạo dựng hình ảnh cho chính mình Việc tự "chăm sóc" hình ảnh để ngàycàng hoàn thiện hơn trong mắt công chúng Xây dựng và phát triển thươnghiệu đã không còn là vấn đề mới ở Việt Nam và nếu so với thế giới nó đã làviệc 'thường ngày ở huyện', 'việc không thể không làm' nếu muốn tồn tại vàcạnh tranh Quan hệ công chúng được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứubàn luận khá nhiều qua các công trình khoa học của mình Trong phạm vi củaluận án, tác giả đã tham khảo một số cuốn sách và công trình khoa học tiêubiểu như sau:
- Đề tài cấp Bộ “Quan hệ công chúng – Lý thuyết và thực tiễn” của TS.
Đinh Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Báo chí và Tuyên truyềnnăm 2006 đã cung cấp những kiến thức mang tính cơ sở lý luận khoa học vềlĩnh vực quan hệ công chúng, đồng thời về mặt thực tiễn, nghiên cứu này cóthể được sử dụng để phục vụ cho công tác quản lý truyền thông ở nước ta.Liên tiếp trong 2 năm 2007 và 2008, TS Đinh Thị Thuý Hằng cho ra mắt 2
cuốn sách “PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” (NXB Lao động
xã hội, 2007) và “PR lý luận và ứng dụng” (NXB lao động xã hội, 2008)
Trong cuốn “PR - Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” TS Đinh Thị
Thuý Hằng đã giới thiệu khái quát về PR: PR là gì, lịch sử phát triển, các hoạtđộng chuyên nghiệp của PR, mối quan hệ của PR với truyền thông, nhữngchiến lược trong PR, và hơn hết là đặt ra các vấn đề về đạo đức nghề nghiệp
PR Còn trong cuốn “PR lý luận và ứng dụng” TS Đinh Thị Thuý Hằng đưa
ra bản sơ đồ chiến lược giúp nhà hoạt động PR phân tích, nắm bắt và giảiquyết các vấn đề cốt lõi của lĩnh vực này, như các kỹ năng tác nghiệp cụ thể,các chiến lược quản lý khủng hoảng, quá trình và phương pháp xây dựng cácmối quan hệ với công chúng, các vấn đề pháp luật có liên quan… Trên cơ sở
Trang 13đó, nhà hoạt động PR sẽ tìm ra phương pháp lập kế hoạch mang tính chiếnlược nhằm nghiên cứu, xác lập đối tượng công chúng và trên cơ sở đó thayđổi thái độ của họ để đạt được các mục tiêu của tổ chức
- Cuốn sách “PR- Công cụ phát triển báo chí” của Đỗ Thị Thu Hằng
(NXB Trẻ, 2012) đã bàn đến khá cụ thể 3 lĩnh vực: nghiên cứu công chúng, tổchức sự kiện và tư vấn cho các tờ báo dành cho thanh niên Đây chính là 3lĩnh vực cơ bản của PR trong sự tương tác với công chúng báo chí Ngoài ra,cuốn sách phân tích khá cụ thể hoạt động quan hệ công chúng trong cơ quanbáo chí bao gồm các nguyên tắc quan hệ công chúng, các lĩnh vực quan hệcông chúng, vai trò của quan hệ công chúng
Vấn đề kinh tế truyền thông, kinh tế báo chí được xem là lĩnh vực khámới mẻ trong lý luận báo chí ở Việt Nam, mặc dù trên thế giới đã có rất nhiềucông trình khoa học, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Một sô nghiên cứutrong nước đề cập đến lĩnh vực kinh tế báo chí có thể kể đến:
- “Phát triển kinh tế báo chí Hà Nội trong điều kiện kinh té thị trường XHCN giai đoạn hiện nay” – Đề tài nghiên cứu khoa học của Hội Nhà báo
thành phố Hà Nội ( Chủ nhiệm-Nguyễn Gia Quý, 2010) đã đề cập tới việc xâydựng tập đoàn báo chí của Hà Nội Mặc dù phần viết về tập đoàn báo chí chỉchiếm một chương nhỏ, song đã bước đầu đề cập và khái quát mô hình tổchức trên gắn với điều kiện của Hà Nội Tuy nhiên, tập thể tác giả có sự thamgia của các nhà nghiên cứu kinh tế, nên góc độ tiếp cận vấn đề nghiêng nhiều
về các yếu tố chung của tập đoàn kinh tế, chưa làm rõ những đặc trưng củatập đoàn báo chí, nhất là những đặc thù, yêu cầu trong điều kiện của ViệtNam Phương thức hình thành tập đoàn là sự hợp nhất một cách cơ học các cơquan báo chí chưa gắn với các điều kiện cần và đủ, các lý giải khoa học, nênkhông khả thi; chưa xây dựng được mô hình tổ chức - quản lý, cơ chế hoạtđộng cụ thể Nghiên cứu cũng chưa xây dựng được mô hình tổ chức bảo đảm
Trang 14sự lãnh đạo của Đảng, làm thay đổi về chất hiệu quả hoạt động, giải quyếtđược mối quan hệ giữa hai yếu tố kinh tế và chính trị trong tập đoàn truyềnthông.
- Luận văn chuyên ngành kinh tế phát triển, của Th.s Tô Quang Nam,
với đề tài: “Xây dựng và phát triển tập đoàn báo chí tại Việt Nam” cũng đã
có những nội dung đề cập trực tiếp tới mô hình tập đoàn báo chí tại Việt Nam.Song do đây là một luận văn chuyên ngành kinh tế phát triển, nên chủ yếuphân tích các yếu tố về kinh tế học, các yếu tố về báo chí học chưa được đềcập sâu
- Luận văn Thạc sỹ Báo chí“Mô hình tổ chức kinh doanh của các cơ quan báo chí trong nền kinh tế thị trường” của Vũ Thị Lan Anh ,Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, bảo vệ năm 2010 cũng đã bước đầu xácđịnh những quan điểm cơ bản, khái niệm cơ bản về hoạt động kinh doanh báochí ở Việt Nam
- Đề tài “ Báo chí trong cơ chế thị trường” do TS Dương Xuân Sơn chủ
trì (cấp Truwofng Đại học Tổng hợp Hà Nội) nghiệm thu năm 1993 Nộidung nghiên cứu tác động của cơ chế thị trường đối với hoạt động báo chíthời kỳ đổi mới trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực từ sự tác độngcủa nó
- Một luận án Tiến sĩ báo chí Báo chí cũng được tác giả luận án này
tham khảo đó là “Xây dựng tập đoàn truyền thông ở Việt Nam” của tác giả Lê
Hải (Học viện Báo chí Tuyên truyền, 2012) Chúng tôi đã tham khảo phầnkhuyến nghị bổ sung những quan điểm, chủ trương của Đảng, cơ sở pháp lý,tiềm lực của các cơ quan truyền thông, điều kiện kinh tế, nhất là đề xuất đổimới cơ chế tài chính và hoạt động kinh tế truyền thông của cơ quan truyềnthông - vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc ra đời và phát triển của mô hìnhtập đoàn - mà mấu chốt là có cơ chế cho phép tập đoàn truyền thông hoạt
Trang 15động như một doanh nghiệp nhà nước đặc thù… Tác giả Lê Hải đã đưa ra một
số quan điểm có tính nguyên tắc và cần lưu ý khi thành lập tập đoàn truyềnthông ở Việt Nam Đây chính là nội dung mà chúng tôi cũng đã tham khảo khivận dụng vào nội dung chương ba của mình
- Mới nhất, các tác giả Đinh Văn Hường và Bùi Chí Trung cho ra mắt
cuốn sách chuyên khảo “Một số vấn đề về kinh tế báo in” ( NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2015) Cuốn sách tập trung vào xác lập một cách cơ bản, hệthống các học thuyết về kinh tế truyền thông đang phổ cập trên thế giới hiệnnay Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động kinh tế chủ yếucủa báo in Việt Nam những năm vừa qua, đồng thời hệ thống hóa bước đầucác hoạt động đó từ góc nhìn kinh tế báo chí Hệ thống hóa quan điểm, địnhhướng của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về hoạt động kinh tế báo chítruyền thông thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Tìm hiểu những kinhnghiệm chủ yếu của kính tế báo chí truyền thông thế giới nhằm tham khảo,vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể của báo chí truyền thông Việt Nam,trong đó có báo in Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để báo in nước ta hoạtđộng kinh tế năng động, hiệu quả trong bối cảnh mới Trong đó, có 2 nội
dung mà tác giả luận án tham khảo cho luận án của mình, đó là: chương 1:
Khái quát các lý luận kinh tế báo chí truyền thông; phân tích các dạng cấutrúc thị trường báo chí truyền thông, các mối liên hệ, chi phí và quy trình sảnxuất; chỉ ra và phân tích đối tượng tiêu thụ của thị trường báo chí truyềnthông, công chúng, đối tượng tiêu thụ, các yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng;
sự cạnh tranh trên thị trường báo chí truyền thông và chương 3: Những quan
điểm của Đảng về kinh tế báo chí truyền thông trước bối cảnh và yêu cầumới; pháp luật của Nhà nước và cơ chế chính sách cho hoạt động kinh tế báo
Trang 16chí truyền thông ở nước ta; mối quan hệ giữa quan điểm, đường lối của Đảng
và pháp luật của Nhà nước về kinh tế báo chí truyền thông
- Liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính, tác giả luận án cũng đã tham
khảo luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng “Tác động của cơ chế tự chủ tài chính đối với nội dung thông tin trên báo in hiện nay” của tác giả Hoàng Thị
Minh Ngọc (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2014) và luận văn thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Nam (Đại học
Kinh tế Quốc dân, 2008) Hai tác giả này đã làm rõ một số vấn đề lý luận vềhoạt động báo chí trong cơ chế kinh tế thị trường, kinh tế báo chí, cơ chế tựchủ trong đơn vị sự nghiệp có thu, mối quan hệ giữa cơ chế tự chủ tài chínhđối với sự phát triển nội dung Đồng thời, chỉ ra những mặt tích cực và tiêucực của cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ quan báo chí Trên cơ sở đó đềxuất, kiến nghị các giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chếnhững tác động tiêu cực của hoạt động kinh doanh với chất lượng nội dungthông tin trên báo in cũng như của Đài Truyền hình Việt Nam, đồng thời hoànthiện cơ chế tự chủ tài chính một cách tối ưu nhất
Đối với lĩnh vực kinh tế truyền hình, trong cuốn sách “ Một số vấn đề về kinh tế báo in” của hai tác giả Đinh Văn Hường và Bùi Chí Trung (NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2015) có nói rằng: “ Ở Việt Nam, những công trìnhnghiên cứu về lĩnh vực truyền hình trong vòng 20 năm trở lại đây tại Thư việnQuốc gia Việt Nam chỉ gồm 26 công trình, trong đó có 5 luận án đi sâu vềlĩnh vực kinh tế truyền hình được công bố cách đây gần 15 năm Duy nhất có
2 luận án Tiến sĩ kinh tế mới công bố năm 2011 và 2012” {19}
- Cuốn sách ”Tìm hiểu kinh tế truyền hình” của tác giả Bùi Chí Trung
(Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội,2013) đã hệ thống hóa các họcthuyết kinh tế học truyền thông, kinh tế học truyền hình trên thế giới; phân
Trang 17tích so sánh và đưa ra nhận thức mới trong môi trường truyền thông ViệtNam Điểm nổi bật mà cuốn sách này đưa ra đó là tác giả đã phân tích đượcthực trạng hoạt động kinh tế truyền hình tại Việt Nam trong những năm qua,đưa ra xu hướng phát triển chính yếu, những kinh nghiệm và giải pháp pháttriển hoạt động kinh tế truyền hình ở Việt Nam trong thời gian tới Đây là mộttrong những công trình nghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế truyền hình
ở Việt Nam và là nguồn tài liệu tham khảo giúp tác giả luận án làm rõ hơnthực trạng vận động, phát triển và những vấn đề đặt ra đối với ngành truyềnhình ở Việt Nam hiện nay
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Hoàn thiện phương thức quản lý kinh tế cho ngành truyền hình trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan Thị Hạnh Loan, Đại học Kinh tế quốc dân, bảo vệ năm 1996
đã đề cập đến chức năng của truyền hình trong nền kinh tế thị trường, phươngthức quản lý truyền hình ở một số nước phát triển và phaann tích mô hìnhquản lý của Đài Truyền hình Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thịtrường Phan Thị Hạnh Loan cũng đã chỉ ra quan điểm phát triển lĩnh vựctruyền hình phù hợp với nền kinh tế hàng hóa, đặt ra vấn đề hạch toán kinh tếnhư một doanh nghiệp với các đài truyền hình, quản lý các chương trình nhưmột “ dự án” theo đơn đặt hàng Mặc dù những vấn đề kinh tế truyền hình màluận án đề cập rất thực tiễn và được quan tâm từ trước đến nay nhưng luận ánnày vẫn chưa khái quát được hệ thống lý luận hoàn chỉnh
- Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Những phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản phẩm truyền hình cho phù hợp với cung cầu về truyền hình
ở Việt Nam hiện nay” của Đinh Quang Hưng, bảo vệ năm 1997 đã đi sâu phân
tích việc quản lý cho phí sản xuất như một yếu tố quan trọng trong sự thành côngcủa một đài truyền hình; đưa ra phương thức dự đoán nhu cầu hưởng thụ củacông chúng để tiến tới năng lực tự chủ tài chính của đài truyền hình Tuy nhiên,
Trang 18luận án này chỉ dừng lại ở sự phản ánh kết quả kinh doanh của VTV, chưa chỉ rađược xu hướng tất yếu cửa sự phát triển kinh tế truyền hình.
Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn thạc sỹ các chuyên ngành khác
đề cập đến lĩnh vực kinh tế truyền hình như: Luận văn Thạc sỹ Kinh doanh và
quản lý “Cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền (PAY-TV) của Đài truyền hình Việt Nam” của Lê Chí Công, bảo vệ năm 2006;
“ Truyền hình trả tiền ở Việt Nam” – Luận văn Thạc sỹ báo chí của Bùi Thị
và ban hành cơ chế tài chính mang tính đặc thù của mô hình tập đoàn truyềnthông - một điều kiện hết sức quan trọng để mô hình trên có thể ra đời và hoạtđộng Những tài liệu giàu tính thực tiễn, xuất phát từ điều kiện cụ thể của mỗi
cơ quan truyền thông nêu trên là những tham khảo hữu ích đối với ngườinghiên cứu
Đạo đức báo chí là một trong những yêu cầu bắt buộc cần phải có đốivới những người làm báo Nâng cao năng lực cạnh tranh cũng đặt ra nhiềuvấn đề về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Vì vậy, quá trình nghiên
Trang 19cứu của mình, tác giả cũng đã tìm hiểu thêm một số tài liệu liên quan đến vấn
đề này:
- Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của các tác giả Dương
Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
in và phát hành năm 2004) Tại chương 10 (từ trang 226-243) các tác giả bàn
về đạo đức nghề nghiệp của nhà báo thông qua các nguyên tắc trong hoạtđộng thực tiễn của nghề báo Đó là các nguyên tắc thể hiện trong các mốiquan hệ giữa nhà báo với công chúng, nhà báo với nguồn tin, nhà báo vớinhân vật trong tác phẩm, nhà báo với tác giả, nhà báo với ban biên tập, nhàbáo với đồng nghiệp
- Luận án Tiến sĩ Báo chí ” Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Trường Giang, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền,
bảo vệ năm 2010 đã hệ thống tương đối toàn diện lý luận về đạo đức nghềnghiệp của nhà báo; đưa ra được những mối quan hệ đạo đức nghề nghiệp củanhà báo và chuẩn mực đạo đức ứng xử trong từng mối quan hệ
Về các công trình nghiên cứu khoa học liên quan tới hướng nghiên cứucủa luận án có thể kể đến:
- Cuốn sách “Báo chí dưới góc nhìn thực tiễn” của PGS.TS Nguyễn Thế
Kỷ (Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2013), tác giả luận ántham khảo toàn bộ nội dung của Phần 1”Báo chí-những góc nhìn” về nội dungđịnh hướng cho hoạt động báo chí nói chung, truyền hình nói riêng ở chương
ba của luận án Hay cuốn sách “Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tác giả Hà Quang
Nhiếp chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) cũng sẽ lànguồn tài liệu tham khảo khá hữu ích cho tác giả luận án khi tìm hiểu về sựtác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động báo chí; quan điểm về địnhhướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường…
Trang 20- Cuốn sách “Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển của truyền thông đại chúng Việt Nam” của tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh (NXB Chính trị
Quốc gia,2009) Trong đó, tác giả làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra vớitruyền thông Việt Nam trong xu thế tác động của toàn cầu hóa, đặc biệt tronglĩnh vực thông tin truyền thông hiện nay Đặc biệt, ở chương 2, tác giả đãphân tích xu hướng tác động của toàn cầu hóa, cơ hội và thách thức đối vớitruyền thông Việt Nam, và đưa ra việc cần có sự thay đổi về kỹ thuật, pháttriển công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa, thương mại hóa các loại hình truyềnthông đại chúng, đồng thời đổi mới bộ máy, cơ chế quản lý, hoạt động tácnghiệp trong các hoạt động truyền thông đại chúng Bên cạnh đó, dựa trênnhững kết quả nghiên cứu thu thập từ các điều tra khảo sát xã hội học, tácgiả đi sâu phân tích những hệ quả tác động của toàn cầu hóa tới truyềnthông Việt Nam Đó là sự phát triển công nghệ và mở rộng mạng lướithông tin đại chúng, đa dạng loại hình truyền thông, sự thay đổi của cơ chếquản lý, năng lực hoạt động chuyên môn tác nghiệp của những người làmtruyền thông đại chúng
- Cuốn sách “Báo chí thế giới và xu hướng phát triển” của Đinh Thúy
Hằng (NXB Thông Tấn, Hà Nội in và phát hành năm 2008) đưa ra những lýluận, khái nhiệm, phạm trù và hoạt động báo chí thế giới đang được phổ biếntại các trường đại học trên thế giới và trong giới nhiên cứu báo chí Đây làmột vấn đề cần thiết trong xu thế hội nhập quốc thế hiện nay đối với các cơ sởnghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam Trong cuốn sách, khái niệm báo chíđược hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các loại hình báo chí như báo in,phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử
- Giáo trình ” Báo chí truyền hình” của Dương Xuân Sơn ( NXB Đại học
Quốc gia, Hà Nội, 2003) đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về lý luận vàthực hành của truyền hình
Trang 21- Cuốn sách ”Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển” của PGS.TS Vũ
Quang Hào (NXB Lý Luận Chính Trị) phát hành năm 2004 đề cập chi tiết
mô hình đào tạo báo chí ở một quốc gia phát triển ở Bắc Âu Sự xen cài giữaquan điểm, các thủ thuật làm báo được tác giả trình bày rất chân thực và ấntượng Đặc biệt, yêu cầu và các kỹ năng làm báo hiện đại, gắn chặt với côngnghệ và kỹ thuật như làm tin, phỏng vấn, viết ký chân dung, ảnh báo chí, làmquảng cáo, làm báo mạng, làm lay-out… được tác giả đi sâu phân tích vàbước đầu có những kiến giải khá thú vị Đây là cuốn sách được viết từ mộtngười tham gia tích cực và hiệu quả vào Dự án đào tạo nâng cao báo chí ViệtNam Công trình chỉ đề cập về kỹ năng, thao tác làm báo và đào tạo báo chícủa Thụy Điển, không đề cập đến vấn đề lý luận cũng như không đưa tư liệucủa những nền báo chí khác
Ngoài những nghiên cứu nêu trên, một số tài liệu liên quan khác cũng
được tác giả luận án tham khảo: Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Hoàng Đình Cúc (2007), Những vấn đề báo chí hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội; một số bài báo trên các báo: Sài Gòn Giải phóng, Thời báokinh tế, Vietnamnet… từ năm 2011 - 2014; một số luận văn cao học chuyênngành báo chí, xuất bản
Một số văn bản của Đảng, Nhà nước và một số đề án của Bộ Thông tin
và Truyền thông mà tác giả tham khảo làm cơ sở pháp lý về mặt quản lý nhànước, quản lý tài chính như sau:
- Đề án “Số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến năm 2020”(được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo QĐ số 2451/2011/QĐ-TTg,
ngày 27/11/2011) xác định rõ việc chuyển đổi hạ tầng truyền dẫn, phát sóngtruyền hình mặt đất từ công nghệ tương tự sang công nghệ số nhằm mở rộng