Môc lôc LỜI MỞ ĐẦU Sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra được khối lượng nông sản không chỉ đáp ứng nhu cầu trong n[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
và quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra được khối lượngnông sản không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất khẩucao mang về hàng tỉ đô la Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc
độ cao và ổn định, hình thành những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoávới quy mô lớn Sự phát triển nhanh của ngành nông nghiệp đã nâng cao vịthế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, góp phần đẩy nhanh tiến độ côngnghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Là một trong những mặt hàng nông sảnchủ lực, cà phê Việt Nam có tốc độ phát triển rất cao, hàng năm thu về hàngtrăm triệu đô la từ việc xuất khẩu, mang lại nguồn thu nhập ổn định, thườngxuyên cho một nhóm đông dân cư ở nông thôn, trung du và miền núi Tuynhiên, bên cạnh những thế mạnh của mình, ngành cà phê vẫn tồn tại nhữnghạn chế ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh Do đó, làm sao phát huy hếtnội lực, hết lợi thế để cà phê Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trênthị trường thế giới vẫn là một câu hỏi bất cập cần có lời giải đáp
Đề tài “Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành
xuất khẩu cà phê Việt Nam “ mà em chọn là một đóng góp nhỏ ý kiến của
bản thân mong góp phần giải quyết câu hỏi đó
Trang 2Tuy đây là lần đầu tiên tiếp cận với cách thức viết đề án môn chuyên
ngành, nhưng dưới sự hướng dẫn tận tình của Thầy Trần Văn Bão, em đã
hoàn thành đề án này gồm 3 chương sau :
- Chương I : Thực chất và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnhtranh
- Chương II : Thực trạng về thị trường cà phê thế giới và ngành cà phêViệt Nam
- Chương III : Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành càphê Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
Sinh viên thực hiệnNguyễn Đình Luân
Trang 3những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của
kinh tế thị trường Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua nhau giữa các
nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng
nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu
kinh doanh cụ thể
Quan điểm đầy đủ về cạnh tranh có thể được nhìn nhận như sau:” cạnh
tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh
với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt
được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều
kiện thúc đẩy sản xuất phát triển.”
I.2 Khái niệm khả năng cạnh tranh
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường
và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh
để có thể cạnh tranh trên thị trường Cái đó chính là khả năng cạnh tranh của
một doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là việc
có được các lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp đối thủ Cạnh tranh
để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo
thực hiện mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện mục
tiêu của doanh nghiệp
Trang 4I.3 Phân loại cạnh tranhI.3.1 Cạnh tranh quốc gia.
Cà phê không chỉ đơn thuần là một sản phẩm nông nghiệp thuần túy, nó thật sự trở thành một ngành kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới Trên thế giới đã công nhận và sử dụng rộng rãi thuật ngữ “coffee industry” – ngành cà phê; với tổng giá trị giao dịch toàn cầu là khoảng 100 tỷ USD Cà phê nguyên liệu cũng là loại hàng hóa cơ bản có giá trị giao dịch toàn cầu đứng thứ hai chỉ sau đầu lửa Ngành cà phê không chỉ là một ngành sản phẩm nông sản chế biến mà đó còn có các yếu tố của tài chính, thương mại, đầu
tư, du lịch, văn hóa, kinh tế tri thức, du lịch sinh thái, du lịch cà phê,… Chính cà phê chứ không phải vàng bạc, đá quý, dầu mỏ là mặt hàng được đầu cơ nhiều nhất trên thế giới (the most speculated commodity in the world)
Nhưng ngành cà phê hiện nay của thế giới đang tồn tại những nghịch lý hết sức bất công Giá cà phê thế giới bị thao túng bởi hai sàn giao địch nông sản tại New York và London, sản lượng cà phê bị thao túng bởi nhóm big four gồm Nestlé, Kraft, Sara Lee, Maxwell House, và những hàng cà phê đặc biệt như Starbucks, Tullys,… tất cả đều đến từ các nước Âu Mỹ, những nước hầu như không có trồng cà phê Các giá trị thặng dư từ ngành cà phê chủ yếu chảy về túi các nước
sở hữu những thương hiệu cà phê hàng đầu Ngành cà phê là điển hình rõ nhất cho sự bất công trong phân phối tài sản thế giới, thể hiện cơ chế bóc lột mới thông qua cơ chế vận hành của các thương hiệu toàn cầu; do vậy, cần xác lập một công lý thương hiệu mới cho các nước trồng cà phê trên thế giới như Việt Nam, và diễn trình cách mạng của cây cà phê sẽ là nguồn cảm hứng, là động lực, là niềm tin để các nước thế giới thứ hai, thế giới thứ ba vươn lên khỏi đói nghèo, lạc hậu, tránh bị bỏ lại trong quá trình thế giới toàn cầu hóa
Các hãng cà phê trên thế giới thuộc thị trường cà phê rộng (Mass- Marketed Coffee) đều chỉ coi cà phê như một thứ đồ uống mang lại lợi nhuận cao, họ không hề chú trọng để phát triển, tăng thêm giá trị gia tăng của cà phê thông qua việc gia tăng các hàm lượng văn hóa, tâm linh; hoặc đưa ra và khẳng định vai trò như một năng lượng của cà phê
Còn các hãng cà phê đặc biệt, vốn được coi là có hàm lượng văn hóa cao, có triết lý cà phê thì hiện tại, họ cũng chỉ đang thực hiện những triết lý hết sức tầm thường Ngay như, thương hiệu cà phê đang được coi là phát triển mạnh nhất trên thế giới là Starbucks cũng đang dẫn đầu thị trường chỉ bằng hai quan điểm: quan điểm nơi chốn thứ ba, và cam kết cung cấp cà phê tươi Quan điểm về nơi
Trang 5chốn thứ 3 nêu rằng, Starbucks sẽ cung cấp nơi chốn thứ ba cho mọi người lui tới bên cạnh hai nơi chốn là gia đình và công sở Cà phê tươi là cà phê Arabica được rang xay và sử dụng trong vòng một tuần Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay, cũng chưa thấy có một triết lý, một quan điểm cà phê nào có thể vượt qua
sự đẫn đầu của Starbucks, từ những thứ mà Việt Nam chúng ta hoàn toàn có thể làm được.
Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của mộtnền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổnđịnh kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân
Khả năng cạnh tranh cao của cà phê Việt Nam trong quá khứ chủ yếudựa trên 4 yếu tố chính Thứ nhất là giá lao động rẻ Thứ hai là năng suất caodựa trên sử dụng nhiều phân bón và nước tưới Thứ ba là lợi thế về khoảngcách vận chuyển Các vùng sản xuất chính cà phê Việt Nam đều gần cáccảng xuất khẩu do Việt Nam có chiều ngang hẹp Thứ tư là hệ thống chínhsách của nhà nước đối với ngành cà phê thông thoáng, tạo môi trường bìnhđẳng cho tất cả các tác nhân tham gia sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê.Chính vì 4 yếu tố này nên xuất khẩu cà phê Việt Nam đã nhanh chóng chiếmlĩnh được thị trường cà phê thế giới, gây sức ép cạnh tranh mạnh với cácnước xuất khẩu cà phê khác trên thế giới, đặc biệt các nước Châu Phi Khithị trường cà phê thế giới rơi vào khủng hoảng từ năm 2000 đến 2002, ngành
cà phê Việt Nam là một trong những ngành cà phê trên thế giới chịu ảnhhưởng mạnh nhất về tất cả các mặt như mức sống của hầu hết người trồng càphê giảm, nhiều đại lý thu mua phá sản, các doanh nghiệp kinh doanh cà phêđối diện với lượng tiền nợ đọng ngân hàng lớn, nguy cơ phá sản cao và môitrường có dấu hiệu suy thoái Do đó, đánh giá/xác định khả năng cạnh tranhcủa cà phê Việt Nam là cần thiết
Theo đó, các đơn vị sản xuất kinh doanh cà phê cần không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm; quan tâm đầy đủ vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm,
Trang 6mở rộng diện tích sản xuất cà phê theo chuẩn và quy tắc chung của cộng đồng cà phê quốc tế; thực hành nông nghiệp tốt (GAP), quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) và thực hành chế biến tốt (GMP).
Song song với các giải pháp trên, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại ở các thị trường truyền thống và khai thác mở rộng thị trường mới, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê cần thống nhất hợp tác về phương thức thu mua cà phê trong nước và xuất khẩu, vừa để tránh tình trạng tranh mua, tranh bán, vừa hạn chế rủi ro trong kinh doanh Thay đổi phương thức bán hàng trừ lùi (kỳ hạn), sang tập trung bán hàng theo phương thức giao ngay
I.3.2 Cạnh tranh ngành.
Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm hai loại :
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành : là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùngsản xuất kinh doanh một loại dịch vụ Cạnh tranh trong nội bộ ngành là mộtcuộc cạnh tranh tất yếu phải xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất làlợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải cải tiến
kỹ thuật, năng lực quản lý nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thànhsản phẩm để tìm lợi nhuận siêu ngạch
- Cạnh tranh giữa các ngành : là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằmmục tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xuhướng di chuyển của vốn đầu tư sang các ngành kinh doanh thu được lợinhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bìnhquân
I.3.3 Cạnh tranh sản phẩm.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường của các doanhnghiệp, vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng được coi trọng hàng đầu.Bởi sản phẩm là đại diện cho thương hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn
Trang 7mạnh hoặc yếu kém trong lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công cụ sửdụng Cạnh tranh về sản phẩm thường được thể hiện qua các mặt:
Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: tuỳ theo những sản phẩm khác nhau đểchúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết địnhtrình độ của sản phẩm Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếunhư lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.Cạnh tranh về chất lượng: Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau
để lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng khác nhau Nếu tạo ra nhiều lợi thếcho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi cạnhtranh trên thị trường
Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanhnghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm phù hợp, lựa chọn cơ cấu hànghóa và cơ cấu chủng loại hợp lý
Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm Doanh nghiệp sử dụng công cụnày để đánh trực tiếp vào trực giác của người tiêu dùng
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm Sử dụng biệnpháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đưa ramột sản phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời
I.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.I.4.1 Các nhân tố chủ quan.
I.4.1.1 Nhân tố con người
Con người ở đây phản ánh đến đội ngũ lao động Đội ngũ lao độngtác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tốnhư trình độ lao động, năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sựsáng tạo trong sản xuất Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nângcao chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa
I.4.1.2 Khả năng về tài chính
Trang 8Bất cứ một hoạt động đầu tư, sản xuất phân phối nào cũng đều phảixét, tính toán đến tiềm lực, khả năng tài chính của doanh nghiệp Một doanhnghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mớicông nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết bị, bảo đảm nâng cao chất lượng sảnphẩm, hạ giá thành, duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, khuyếnkhích việc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị thếcủa mình trên thương trường.
I.4.1.3 Trình độ công nghệ.
Tình trạng trình độ công nghệ máy móc thiết bị có ảnh hưởng mộtcách sâu sắc tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp Đó làyếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của mộtdoanh nghiệp, tác động trực tiếp đến chất lượng, năng suất sản xuất Ngoài
ra, công nghệ sản xuất cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán của sảnphẩm Một doanh nghiệp có công nghệ phù hợp sẽ có một lợi thế cạnh tranhrất lớn do chi phí sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm và dịch vụ cao Ngượclại doanh nghiệp sẽ có bất lợi cạnh tranh khi họ chỉ có công nghệ lạc hậu
I.4.2 Nhân tố chủ quan.
I.4.2.1 Các nhân tố kinh tế.
Trong môi trường kinh doanh, các nhân tố kinh tế luôn có những ảnhhưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung cũngnhư sức cạnh tranh của sản phẩm doang nghiệp nói riêng Các nhân tố kinh
tế bao gồm: tốc độ phát triển kinh tế, lãi suất trên thị trường vốn
Tốc độ phát triển kinh tế cao sẽ làm cho thu nhập của người dân tăng lên.Thu nhập tăng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của họ khinhu cầu về hàng hoá thiết yếu và hàng hoá cao cấp cũng tăng lên
Lãi cho vay của ngân hàng cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanhnghiệp Hiện nay có một phần không nhỏ vốn đầu tư của doanh nghiệp trong
Trang 9ngành là đi vay Do đó khi lãi suất tăng lên sẽ dẫn tới chi phí sản xuất sảnphẩm của doanh nghiệp tăng và ngược lại Như vậy, doanh nghiệp nào cólượng vốn chủ sở hữu lớn xét về mặt nào đó sẽ thuận lợi hơn trong cạnhtranh và rõ ràng năng lực cạnh tranh về tài chính của doanh nghiệp sẽ tốthơn so với đối thủ cạnh tranh.
Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của sảnphẩm của doanh nghiệp trong các ngành Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phảiđánh giá được tác động của nó để tìm ra những cơ hội cũng như thách thức
I.4.2.2 Các nhân tố về chính trị pháp luật.
Các nhân tố về chính trị pháp luật là nền tảng quy định các yếu tốkhác của môi trường kinh tế Nền kinh tế ảnh hưởng đến hệ thống chính trịnhưng ngược lại hệ thống chính trị cũng tác động trở lại các hoạt động kinh
tế Pháp luật và chính trị ổn định sẽ tạo ra một cơ chế chính sách trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong từng lĩnh vực cụ thể có được lợi thế cạnhtranh trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới
Nói tóm lại, khi xem xét khả năng cạnh tranh của một ngành, của mộtdoanh nghiệp thậm chí kể cả của đối thủ cạnh tranh, cần phải xem xét đầy đủcác nhân tố tác động, từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng caokhả năng cạnh tranh của ngành hay của doanh nghiệp đó
Trang 10Chương II
Thực trạng về thị trường cà phờ thế giới và ngành cà phờ
Việt Nam II.1 Tổng quan về thị trường cà phờ thế giới.
Nhỡn lại sự phỏt triển thị trường tiờu thụ cà phờ thế giới cho thấy sau thếchiến II, nhu cầu dựng cà phờ ở nhiều quốc gia tăng lờn nhanh chúng Bắtđầu từ Mỹ ở thập niờn 1950-1960 khi những cựu chiến binh mang sở thớchuống cà phờ về truyền bỏ trong quõn đội và dõn chỳng, rồi dần dần phỏt triểnsang Chõu Âu ở những năm 1960-1970 Vào cuối thập niờn 1970, khi thịtrường Mỹ và Chõu Âu gần như chững lại thỡ những thị trường mới lại mở ra
ở vựng Viễn Đụng như Nhật Bản và gần đõy là thị trường Đụng Âu, TrungQuốc cú dấu hiệu tăng Cựng với sự mở rộng thị trường ở khắp nơi, sảnlượng cà phờ thế giới khụng ngừng tăng lờn, đỏp ứng nhu cầu ngày cao củangười tiờu dựng Sản lợng cà phê niên vụ năm 2010-2011 đạtmức 18 triệu bao giảm 1,5 triệu bao so với năm ngoái
Với khoảng 1/4 dõn số thế giới hiện uống cà phờ thường xuyờn, triểnvọng tăng tiờu thụ cà phờ trong những năm tới là rất khả quan Tuy nhiờn,nếu khụng cú hành động tớch nào để đẩy mạnh, tốc độ tăng sẽ khụng cú tiếntriển gỡ khỏ hơn những năm vừa qua Brazil là nước xuất khẩu cà phờ lớnnhất thế giới chiếm khoảng 26% tổng lượng xuất khẩu cà phờ toàn cầu, chủyếu là cà phờ Arabica Cụlụmbia đứng thứ hai về xuất khẩu cà phờ Arabicatoàn cầu, chiếm khoảng 19%, chủ yếu là loại cà phờ Arabica dịu Đứng thứ
ba về xuất khẩu cà phờ Arabica là Guatờmala, chiếm khoảng 5% tổng sảnlượng xuất khẩu cà phờ toàn cầu
Trang 11Mỹ là nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 29%tổng sản lượng cà phê nhập khẩu Đứng thứ hai là Đức với tỷ trọng khoảng18% tổng lượng nhập khẩu Nhập khẩu cà phê của Nhật Bản tăng nhanh,đưa Nhật Bản trở thành nước đứng thứ ba thế giới về nhập khẩu cà phê trongnhững năm qua với tỷ trọng khoảng 9% tổng lượng cà phê nhập khẩu toàncầu.
II.2 Thực trạng ngành cà phê Việt Nam.
II.2.1 Về sản xuất.
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đếnđầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp.Năm 1930 ở Việt Nam có 5900 ha Trong thời kì những năm 1960-1970, cây
cà phê được phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh miềnBắc, khi cao nhất ( 1964-1966 ) đã đạt tới 13000 ha song không bền vững dosâu bệnh ở cà phê Arabica và do các yếu tố tự nhiên không phù hợp với càphê Robusta nên một số lớn diện tích cà phê phải thanh lý
Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cácnước có khoảng trên 13000 ha, cho sản lượng 6000 tấn Sau 1975, cà phê ởViệt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây Nguyên nhờ có vốn từ cáchiệp định hợp tác liên chính phủ với các nước : Liên Xô cũ, CHDC Đức,Bungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, đến năm 1990 đã có 119300 ha Trên cơ sởnày, từ 1986, phong trào trồng cà phê phát triển mạnh trong nhân dân Đếnnay đã có trên 390000ha, đạt sản lượng gần 700000 tấn
Ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc chỉ trongvòng 15-20 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tănglên hàng trăm lần Hiện nay, cà phê Việt Nam đang trực tiếp xuất sang 50
Trang 12nước với khối lượng lớn đứng hàng thứ 4 trờn thế giới Mức tăng trưởnglượng cà phờ xuất khẩu hàng năm khỏ lớn.
Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) cho biết , 9 tháng
đầu năm 2010 lợng cà phê xuất khẩu cả nớc đạt khoảng 884ngàn tấn, trị giá hơn 1,2 tỷ USD Dự kiến ba tháng cuối năm
2010, cả nớc xuất khẩu thêm khoảng 200 nghìn đến 250nghìn tấn cà phê Vicofa dự kiến xuất khẩu cà phê Việt Namtrong năm nay đạt khoảng 1,7 tỷ USD
Theo đỏnh giỏ của Vicofa niờn vụ vừa qua, Việt Nam xuất khẩu hơn 1,1triệu tấn cà phờ (xắp xỉ lượng xuất khẩu niờn vụ trước) nhưng kim ngạchxuất khẩu chỉ đạt hơn 1,6 tỷ USD, mặc dự giỏ cà phờ đang tăng nhưng niờn
vụ 2010-2011, ngành cà phờ trong nước vẫn đối mặt với nhiều khú khăn dothị trường thế giới nhiều biến động Sản lượng cà phờ Việt Nam dự kiếngiảm 10% so với vụ trước Vicofa cũng kiến nghị Chớnh phủ tiếp tục thựchiện chớnh sỏch tạm trữ cà phờ từ đầu vụ vào thỏng 11 hằng năm với sốlượng tối thiểu 300 nghỡn tấn cà phờ xuất khẩu
Theo Cục trồng trọt, Bộ NN&PTNT, năm 2009 cả nước cú trờn 500 nghỡnhộc ta cà phờ, sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn Mặc dự được sự quan tõm chỉđạo của Bộ và cỏc cơ quan nhà nước cú liờn quan, nhiều tiờu chuẩn nhànước về cà phờ đó được xõy dựng, ban hành song việc ỏp dụng tiờu chuẩn về
cà phờ nhõn xuất khẩu như: tiờu chuẩn TCVN 4193:2005 cũn chưa được sựquan tõm đầy đủ Cả người mua và người bỏn đều thoả thuận mua bỏn vớitiờu chuẩn cũ TCVN 4193:93 với 3 tiờu chớ: thuỷ phần %, hạt đen vỡ % vàtạp chất % Được biết, cà phờ robusta Việt Nam cú chất lượng rất cao vỡ hầuhết được trồng trờn cao nguyờn đất đỏ bazan phỡ nhiờu, kỹ thuật trồng vàchăm súc tiờn tiến nhưng người ta vẫn đỏnh giỏ cà phờ Việt Nam xuất khẩuchất lượng chưa cao vỡ cỏch phõn loại chưa theo tiờu chuẩn quốc tế
Tại Hội nghị tổng kết niờn vụ cà phờ 2009/2010 và phương hướng cụng tỏcniờn vụ 2010/2011, ụng Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phờ – Ca caoViệt Nam cho biết, việc ỏp dụng tiờu chuẩn cà phờ xuất khẩu là cần thiết,cần cú sự quan tõm chặt chẽ của cơ quan nhà nước ễng Tự cũng cho biếtthờm, hiện nay trờn thị trường quốc tế, ở cỏc sàn giao dịch cà phờ Luõn Đụn
và New York người ta ỏp dụng tiờu chuẩn quốc tế ISO 14070:2004 phõn loại
cà phờ theo khối lượng hạt lỗi chứ khụng theo số hạt lỗi
Trang 13Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) dự báo sản lượng cà phê toàn cầu trong niên
vụ 2010-2011 sẽ đạt 133 đến 135 triệu bao (bao 60 kg) Niên vụ 2009-2010(vừa kết thúc vào cuối tháng 6/2010) đạt mức 120,6 triệu bao, giảm 5,8% sovới sản lượng niên vụ 2008-2009
Theo ICO, xuất khẩu cà phê thế giới trong 10 tháng đầu niên vụ 2009-2010(tháng 10/09 - tháng 7/10) đã giảm 5,2% so với cùng kỳ niên vụ trước,xuống 78,5 triệu bao Trong đó, xuất khẩu loại cà phê Colombia dịu(Colombian Milds) giảm mạnh nhất trong thời gian qua với mức giảm 22%
so với cùng kỳ niên vụ trước Xuất khẩu loại cà phê tự nhiên của Braxin(Brazilian Naturals) và cà phê Robusta cũng giảm lần lượt 3,1% và 6,3% Sựsụt giảm trong xuất khẩu cà phê Robusta chủ yếu là do xuất khẩu của ViệtNam, quốc gia sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới giảm từ 15,5 triệubao trong niên vụ 2008-2009 xuống còn 12,8 triệu bao trong niên vụ2009/10, tương đương mức giảm 17,3%
Theo báo cáo của ICO, Braxin vẫn duy trì vị trí là quốc gia đứng đầu về tiêudùng cà phê trong năm 2009, với mức tiêu dùng bình quân đầu người đạt5,69 kg Tiếp theo sau là các nước Honduras, Venezuela, Costa Rica vàCộng hòa Dominican.
II.2.2 Về công nghệ.
Sau 1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà phê, chúng ta mới có một
ít xưởng chế biến cũ kỹ, chắp vá Ở phía bắc có một số xưởng chế biến ởĐồng Giao, Phủ Quỳ với thiết bị lắp đặt từ năm 1960-1962 do CHDC Đứcchế tạo Ở phía nam có một số xưởng của các doanh điền cũ như Rossi,Delphante để lại công suất không lớn Cùng với việc mở rộng diện tích trồng
cà phê, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng các xưởng chế biến mới, bắtđầu từ những thiết bị lẻ, rồi đến các dây chuyền sản xuất sao chép theo mẫucủa Hang-xa như nhà máy 1/5 Hải Phòng, nhà máy A74 Bộ Công Nghiệp ởThủ Đức-TpHCM Những năm gần đây, nhiều công ty, nông trưòng đã xâydựng các xưởng chế biến mới khá hoàn chỉnh với thiết bị nhập từ CHLBĐức, Brazil Một loạt hơn chục dây chuyền chế biến cà phê của hãngPinhalense-Brazil được đưa vào Việt Nam Tiếp đó lại xuất hiện nhiều
Trang 14xưởng lắp ráp thiết bị do cơ sở công nghiệp Việt Nam chế tạo mô phỏng cócải tiến công nghệ của Brazil Như thế so với thời gian trước đây thì hiện tạivấn đề công nghệ trong sản xuất và chế biến cà phê đã được quan tâm chặtchẽ hơn.
II.2.3 Về nguyên liệu.
Về nguyên liệu, nhờ có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi và đấtđai màu mỡ, phì nhiêu nên đã tạo điều kiện cho các giống cà phê phát triểntốt Cả nước hiện có khoảng 390 ngàn ha cà phê phân bố trên nhiều địa bàn
từ bắc chí nam Cây trồng được chăm sóc tốt, đảm bảo chất lượng cho sảnxuất Vì vậy mà nguồn nguyên liệu rất dồi dào, luôn đảm bảo cung cấp đủsản lượng cho sản xuất, xuất khẩu và dự trữ
II.2.4 Về lao động.
Nhờ tạo được công ăn việc làm và mang lại nguồn thu nhập ổn địnhthường xuyên nên ngành cà phê đã thu hút hàng triệu lao động Trong đóchiếm một lượng lớn là dân cư các vùng nông thôn, trung du và miền núi cóđiều kiện tự nhiên thuận lợi như các tỉnh miền núi phía bắc, Tây Nguyên,Gia Lai, Đăk Lăk… và tỉnh Thanh Hoá là một ví dụ điển hình Đến năm
2001, diện tích cà phê của tỉnh trồng được là 3996 ha với 3213 hộ gia đìnhtham gia ở 46 xã cung cấp 6000 lao động Riêng xã Thanh Xuân, huyện NhưXuân, 100% là đồng bào dân tộc thiểu số thì có tới 270 hộ dân lao độngtrong ngành Từ đây có thể thấy rằng nguồn lao động trong ngành cà phêViệt Nam rất phong phú và dồi dào
Qua nhìn nhận lại thực trạng phát triển ngành cà phê Việt Namnhững năm qua cho thấy ngành đã đạt được nhiều thành tựu đáng ca ngợi.Tuy nhiên, trong vài năm gần đây do kích thích mạnh mẽ của giá cả thịtrường cà phê đã ra khỏi kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước.Chính vì thế mà sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động
Trang 15quan trọng trong việc góp phần đẩy ngành cà phê thế giới đến kỳ khủnghoảng thừa Giá cà phê thế giới liên tục giảm đến mức thấp kỷ lục 30 nămlại đây Ngành cà phê bước vào thời kỳ ảm đạm và có phần hoảng loạn Đàiphát thanh và báo chí thường xuyên đưa tin nông dân chặt phá cà phê ở nơinày, nơi khác Có thể nói, đây là tình hình chung của ngành cà phê toàn cầu
và nó có tác động lớn đến ngành cà phê nước ta
II.3 Những lợi thế và bất lợi của ngành cà phê Việt Nam
II.3.1 Lợi thế của ngành cà phê Việt Nam.
Qua đánh giá tổng quan về ngành cà phê Việt Nam trên đây có thểthấy, trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành mộttrong những nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới, chiếm lĩnh được mộtthị phần đáng kể, có mặt trên 50 quốc gia, là nguồn thu ngoại tệ quan trọngsau thủy hải sản và gạo Có được những thành tựu ấy là do ngành cà phêViệt Nam đã có những lợi thế to lớn, giúp ngành phát triển
II.3.1.1 Lợi thế khách quan.
Việt Nam có thế mạnh về trồng cây cà phê do điều kiện đất đai vàkhí hậu thuận lợi Đất đỏ bazan, rất thích hợp với cây cà phê, được phânrộng khắp lãnh thổ, trong đó tập trung nhiều ở hai vùng Tây Nguyên vàĐông Nam Bộ với diện tích hàng triệu ha Khí hậu nhiệt đới gió mùa , lượngmưa phân bố đều các tháng trong năm , nhất là các tháng cà phê sinh trưởng.Cây cà phê cần hai yếu tố cơ bản là đất và nước thì cả hai yếu tố ấy đều có ởViệt Nam
Hơn nữa với nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công lại rẻ và năngxuất lao động cao đã góp phần giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện hạ giáthành sản phẩm Nhờ đó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê Việt
Trang 16Nam trênthị trường quốc tế Ngoài ra, do nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thếgiới tăng nhanh nên sản phẩm cà phê cũng ngày càng được tiêu thụ mạnh.
II.3.1.2 Lợi thế chủ quan.
Với môi trường chính trị ổn định được cả thế giới công nhận, đã tạođiều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm khi làm ăn với ViệtNam Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi
để phát triển sản xuất và xuất khẩu cà phê Như chính sách giao quyền sửdụng ruộng đất, vườn cây cho người lao động đã nâng ý thức làm chủ lêncao, nhờ đó vườn cây được chăm sóc tốt, đầu tư thâm canh tăng cao, đất đaiđược sử dụng triệt để Ngoài ra ngay từ năm 1994, thủ tướng chính phủ đãchỉ đạo thành lập quỹ hỗ trợ hay bảo hiểm ngành cà phê ( Văn bản số140/TB ngày 1/11/1994 của văn phòng chính phủ) Các năm sau chính phủliên tiếp chỉ đạo và yêu cầu Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì
và phối hợp với Bộ Tài chính, Ban vật giá chính phủ, Bộ Thương mại xâydựng quỹ hỗ trợ hay quỹ bảo hiểm cho ngành cà phê Chính phủ chủ trương
“ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ ban đầu một lần khi thành lập qũy” ( Văn bản
số 589/KTTH ngày 3/2/1997 của chính phủ ) Ngoài ra còn huy động ngânsách Nhà nước để giúp đỡ nông dân qua khỏi những giai đoạn khó khăn nhưmua cà phê tạm trữ để nâng cao giá cho nông dân, miễn thuế nông nghiệpcho đất trồng cà phê, hoãn nợ và tiếp tục cho nông dân vay tiền chăm sócvườn cây Bên cạnh đó, những sửa đổi các chính sách hành chính chonhanh và đơn giản thuận tiện, cùng với các chính sách mở cửa thu hút đầu
tư, kêu gọi đầu tư cũng góp phần phát triển ngành Đây chính là những thếmạnh, lợi thế của cà phê Việt Nam trên con đường cạnh tranh quốc tế
II.3.2 Những hạn chế của ngành cà phê Việt Nam và nguyên nhân.
Trang 17Tuy có nhiều lợi thế và thu được những thành quả đáng khích lệnhưng trong tình hình diễn biến phức tạp của thị trường hiện nay với sự cạnhtranh ngày càng gay gắt, ngành cà phê Việt Nam đã và đang bộc lộ nhữngnhược điểm và hạn chế từ sản xuất đến xuất khẩu, ảnh hưởng đến khả năngcạnh tranh.
Vấn đề đặt ra lớn nhất trong xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay làtính bền vững chưa cao Những năm gần đây, tuy sản lượng xuất khẩu nhanhnhưng giá cả không ổn định, trong đó một số năm giảm sút lớn nên kimngạch xuất khẩu tăng chậm hoặc sút giảm Vấn đề này có liên quan đến sảnxuất, chế biến và xuất khẩu, dẫn đến cung vượt cầu, công nghệ chế biến bảoquản sau thu hoạch không đáp ứng được yêu cầu tăng sản lượng và chấtlượng, thị trường xuất khẩu chưa ổn định Biểu hiện cụ thể là:
II.3.2.1 Tính bền vững của ngành cà phê Việt Nam chưa cao.
Thật thế, thị trường quy gom cà phê Việt Nam phụ thuộc chặt chẽvào thị trường quốc tế Khi thị trường cà phê quốc tế sôi động làm cho hoạtđộng thu mua, quy gom nhộn nhịp, việc tiêu thụ cà phê ở các hộ sản xuấtthuận lợi Khi thị trường quốc tế thu hẹp, cà phê tụt giá, thị trường thu muanội địa sẽ chao đảo, ách tắc, việc tiêu thụ của các hộ sản xuất gặp nhiều khókhăn Giá bán ra không bù đắp đủ chi phí sản xuất, lượng hàng tồn nhiều gâynên ứ đọng vốn
II.3.2.2 Cơ cấu cây trồng thiếu hợp lý.
Cơ cấu cây trồng không hợp lí, tập trung quá nhiều vào cà phê Robusta
là loại cà phê phải cạnh tranh với những nước có bề dày kinh nghiệm và thịtrường xuất khẩu ổn định như Brazil,Achentina, Indonesia Chưa quan tâmđến mở rộng diện tích cà phê Arabica, loại cà phê có khả năng cạnh tranhmạnh hơn, được thị trường ưa chuộng hơn, giá lại cao và có tiềm năng pháttriển lớn Những năm gần đây tuy có một số doanh nghiệp có quan tâm
Trang 18chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng diện tích cà phê Arabica, nhưnggiải pháp chưa đồng bộ nên kết quả thấp.
II.3.2.3 Chất lượng cà phê chưa cao.
Chất lượng cà phê Việt Nam còn thấp chưa tương xứng với lợi thế vềđất đai và khí hậu Việt Nam, còn khoảng cách xa so với yêu cầu của thịtrường thế giới Ông Daniele Giovannucci, cố vấn cao cấp của Ngân hàngThế giới, lấy hình ảnh Brazil, một đất nước sản xuất cà phê hàng đầu thếgiới và so sánh:“ Chất lượng ổn định là điều dễ nhận thấy nhất đối với càphê Brazil, trong khi đó vấn đề này đối với cà phê Việt Nam thì ngượclại.”Cà phê loại I chiếm từ 16-18%, loại II A chiếm tới trên 70%, còn lại làloại thấp hơn Giá cà phê Robusta II 5% của Việt Nam thấp hơn giá cà phêcùng loại của Indonesia khoảng 90USD/ tấn, giá cà phê Robusta I ( trên sàng
16 ) thấp hơn giá cà phê Uganda ( trên sàng 15 ) đến 200 USD/ tấn Cácchuyên gia về lĩnh vực này từ Bộ NN và PTNT đánh giá, tình trạng giảm sútchất lượng cà phê xuất khẩu nước ta thời gian qua là từ nhiều yếu tố
Ngay từ khâu chọn giống đã tồn tại nhiều bất cập Giống cà phê ởnước ta từ trước đến nay vẫn chủ yếu là do bà con nông dân tự chọn, ươmgiống và trồng nên không đảm bảo chất lượng Cây phát triển kém, hạt nhỏ,đen, tỷ lệ đồng đều giữa các hạt thấp Đầu tư trong lĩnh vực thuỷ lợi để tướitiêu cho cà phê đạt thấp ( 22.4% tổng diện tích ) Nhiều vùng vào mùa khôhạn không đủ nước tưới, ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng củacây.Thêm nữa, cà phê nước ta vẫn thu hái theo kiểu tuốt cành là phổ biến,quả xanh chín lẫn lộn, dẫn đến chất lượng cà phê chế biến thấp, tỷ lệ tổn thấtsau thu hoạch cũng cao ( thu hái xanh 50% có tỷ lệ tổn thất lên đến 8% )
Ngoài ra, khâu chế biến cũng còn nhiều bất cập, góp phần ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng cà phê Trong khâu chế biến nước ta hiện nay vẫn
sử dụng hai phương pháp, chế biến khô và chế biến ướt Trong đó phương
Trang 19pháp chế biến khô vẫn được dùng phổ biến ( khoảng 80% sản lượng ).Phương pháp này cho hương vị cà phê không bằng phương pháp ướt Mặtkhác lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết, tốn nhiều công phơi đảo, đòi hỏi diệntích kho và sân phơi lớn Hiện nay, ở nước ta chế biến cà phê vẫn chủ yếu ởquy mô gia đình ( 80% sản lượng cà phê ) Vì thế, tính đồng bộ kém, thiết bịchế biến đơn giản, chủ yếu là các máy xát nhỏ Hiện tại, cả nước mới có 50dây chuyền chế biến công nghiệp, trong đó có 14 dây chuyền nhập ngoại( một của Anh và 3 của Brazil), số còn lại được chế tạo trong nước với tổngcông suất 100000 tấn nhân/ năm ( công suất mỗi dây chuyền từ 1-4 tấn/giờ ) Từ những thực tế trên đây, mặc dù chất lượng vốn có của cà phê vối( Robusta ) trồng ở nước ta được đánh giá cao: chất lượng thử nếm có 35%rất tốt; 50% tốt; 10% ở mức trung bình và chỉ có 5% là loại trung bình kém.Song trên thực tế, chất lượng cà phê nhân suất khẩu của Việt Nam lại khôngthể hiện những chỉ tiêu trên Mấy năm gần đây, tỷ lệ cà phê xuất khẩu loại I
ở nước ta chỉ đạt mức dưới 20% Ngoài các nguyên nhân trên, chất lượng càphê xuất khẩu của ta bị giảm sút do sự đầu tư cho công nghệ sau thu hoạchchưa tương xứng với tốc độ tăng nhanh của sản lượng Thêm vào đó, giáthành sản xuất cà phê ở nước ta so với các nước là tương đối cao( tới hàngtriệu đồng/tấn ).Giá thành sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty
Cà phê Việt Nam là khoảng 13-15 triệu đồng/tấn; ở khu vực tư nhân giáthành khoảng dưới 10 triệu/tấn Có thực tế này là do khấu hao cơ bản và xâydựng hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành Chi phí về chế biến có sựdao động lớn ( từ 800-1800đ/kg ) phụ thuộc vào quy mô, loại hình và mức
độ trang bị Theo ý kiến của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, vấn đề đánhgiá chất lượng cà phê của nước ta cũng có nhiều bất cập với các tiêu chuẩnquốc tế, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả xuất khẩu Cách tính lỗi củatiêu chuẩn Việt Nam quy định theo %, trong khi tiêu chuẩn thị trường kỳ hạn
Trang 20Luân Đôn tính lỗi theo cách đếm Tiêu chuẩn Việt Nam quy định kích cỡ hạttrên sàng số 16 ( 6.3 mm ), trong khi nhiều khách nước ngoài lại yêu cầu càphê loại kích thước trên sàng là số 18 ( tức 7.15 mm ) Những bất đồng trongcách xác định tiêu chuẩn trên đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năngxuất khẩu của cà phê Việt Nam Vì vậy, thống nhất tiêu chuẩn trong đánhgiá chất lượng là việc làm cần thiết, tránh những bất lợi cho ngành cà phênước ta.
II.3.2.4 Thiếu tính đồng bộ giữa các khâu
Ngành cà phê Việt Nam vẫn chưa gắn sản xuất với chế biến, thumua, xuất khẩu Thực trạng hiện tại là người sản xuất chỉ biết sản xuất còncác khâu sơ chế, chế biến, thu gom, xuất khẩu hoàn toàn do các doanhnghiệp, tư thương lo liệu Tình hình trên đã dẫn đến hậu quả là sản lượng càphê dư thừa, ứ đọng lớn, chất lượng và giá cả giảm Một số năm nhà nướcphải bù lỗ lãi suất ngân hàng để mua cà phê tạm trữ xuất khẩu Người trồng
cà phê luôn trong cảnh thiếu thông tin và thông tin không được cập nhật làm
họ không nắm được giá cả diễn biến trong năm để có phương hướng điềuchỉnh mức cầu thích hợp với diễn biến của thị trường cho mùa vụ tới Thiếuthông tin người nông dân không còn kiểm soát được việc bán sản phẩm, khinào thì nên bán, bán với giá bao nhiêu, vì vậy thường xuyên bị ép giá Ngườitrồng cà phê cho biết họ không nhận được sự giúp đỡ nào khi bán sản phẩmcho những công ty chế biến hoặc xuất khẩu cà phê Hơn nữa, việc sản xuấtphân tán tạo ra những khó khăn lớn trong việc tập trung nguồn hàng và giaohàng đúng hạn theo hợp đồng đã kí kết Với trên 150 đơn vị xuất khẩu vàgần chục công ty nước ngoài đặt cơ quan đại diện tại Việt Nam để kinhdoanh, dẫn đến tình trạng lộn xộn trong kinh doanh, tranh mua, tranh bán,làm giảm giá cà phê xuất khẩu và mất uy tín đối với khách hàng Việc chưahình thành tập đoàn xuất khẩu cà phê Việt Nam cho đến nay là nhược điểm
Trang 21về tổ chức và quản lý, cần phải được xem xét Ở Brazil, ủy ban các nhà xuấtkhẩu cà phê Brazil ( Cecafe ) đã được thành lập từ lâu, đang chỉ đạo có hiệuqủa mọi hoạt động xuất khẩu cà phê nước này, đồng thời có ảnh hưởng rấtlớn đến thị trường cà phê thế giới.
II.3.2.5 Thiếu vốn
Xét cho cùng, nguyên nhân sâu xa của sự yếu kém về chất lượng,
sự bất cập trong sản xuất và chế biến cũng là do nguồn kinh phí, nguồn vốnđầu tư Thật thế, người trồng cà phê ở Việt Nam đa phần là các hộ nông dânnghèo và vốn họ đầu tư chủ yếu là vốn vay ngân hàng, phải trả lãi suất Do
đó việc đầu tư cho sản xuất có phần hạn chế, ảnh hưởng đến sản lượng vàchất lượng cà phê Cho dù có nhiều doanh nghiệp lớn tham gia vào kinhdoanh cà phê thì khả năng tài chính vẫn chưa đủ mạnh để có thể trang bịmáy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất Thế nên, vốn đầu tư luôn làvấn đề đáng quan tâm, có ảnh hưởng rất lớn Việc tìm giải pháp hỗ trợ vốn
là rất quan trọng cho ngành cà phê ở các tỉnh nói riêng và toàn quốc nóichung Tuy nhiên, thực hiện được các giải pháp hỗ trợ vốn không phải làcông việc dễ dàng Đây vẫn là vấn đề bất cập đòi hỏi cần có giải pháp hợp
lý Trước tình hình mất giá của cà phê trong một thời gian dài, hiệp hội cácnước xuất khẩu cà phê ( ACPC ) yêu cầu các nước thành viên giữ lại 20%lượng cà phê xuất khẩu ở mỗi nước nhằm cân bằng cán cân cung cầu, kíchcho giá cà phê quốc tế tăng lên Để bù lỗ cho người sản xuất và kinh doanh
cà phê, nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu cà phê là Brazil bỏ ra 100 triệuUSD, Colombia cũng chi tới 60 triệu USD Việt Nam cũng có chủ trươngủng hộ quyết định của ACPC và đang tìm giải pháp hỗ trợ cho người trồng
cà phê trong nước như khoanh nợ cho người nông dân, lập các dự án chonông dân vay phân bón với lãi suất ưu đãi Tuy nhiên, những chương trình
hỗ trợ đó ít thu được kết quả khả quan Người trồng cà phê cho biết, các dự