Lý luận: Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo có đào tạo trình độ cao đẳng trên cơ sở hệ thống hóa một số khái niệm để làm
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu thực tiễn của xã hội, đồng thời tạo để điều kiện cho sinh viên phát huy được năng lực học tập một cách chủ động và hiệu quả nhất, vào năm 1872, Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các module
mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách linh hoạt Theo GS Lâm Quang Thiệp
đây có thể xem là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ trong giáo dục đại học của các nước trên thế giới Học chế tín chỉ đã nhận được sự hưởng ứng rộng khắp trong
các trường đại học ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ XX Sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng
hệ thống đào tạo này trong toàn bộ hoặc bộ phận các trường đại học của mình như: Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal,
Nigeria,…Tại Châu Á, một số nước như Trung Quốc, Thái Lan đã đưa vào Luật giáo
dục đại học quy định bắt buộc phải triển khai hệ thống tín chỉ học tập trong các trường đại học
Các nước trong Liên minh Châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona (1999) nhằm hình thành Không gian giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area)
thống nhất vào năm 2010 Một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là
triển khai áp dụng hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ
động hoá, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới
Hệ thống tín chỉ (HTTC) với triết lý giáo dục là: Tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho người học; Người học là trung tâm của mọi hoạt đ ng trong nhà trường Phương thức đào tạo này được tổ chức, quản lý sao cho thuận lợi nhất cho
người học, chương trình đào tạo được thiết kế mềm dẻo, linh hoạt để giáo dục đại học dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực Quan điểm cơ bản của HCTC được thể hiện cụ thể là:
- Chương trình đào tạo được thiết kế theo module, với nhiều môn học tự chọn tạo điều kiện cho người học có nhiều khả năng lựa chọn chương trình học
Trang 2- Người học có thể chọn tiến trình học tập cho mình thay vì học theo một tiến trình định sẵn cho từng khóa học theo niên chế
- Người học thuận lợi hơn khi chuyển trường, chuyển ngành học, học thêm ngành khác, học liên thông do được công nhận khối lượng kiến thức đã tích lũy Có thể thấy rằng, triết lý giáo dục của HCTC hoàn toàn phù hợp với các định hướng
phát triển của giáo dục đại học
- Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học trong nước, phát triển giáo dục đại học đại chúng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động (TTLĐ) và
hội nhập với thế giới, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã đưa ra chủ
trương mở rộng áp dụng HCTC trong hệ thống giáo dục đại học nước ta
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 tiếp tục khẳng
định “Đổi mới chương trình, t i liệu dạy học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
v đại học dựa trên nhu cầu của đơn vị sử dụng lao đ ng, vận dụng có chọn lọc m t
số chương trình tiên tiến trên thế giới, phát huy vai trò của các trường trọng điểm trong từng khối ngành, nghề đ o tạo để thiết kế các chương trình liên thông Phát triển các chương trình đ o tạo theo hai hướng: Nghiên cứu và nghề nghiệp ứng dụng”.[78]
Việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ tạo sự mềm dẻo của quy trình đào tạo cần phải kết hợp một cách logic với việc phát triển và hiện đại hóa chương trình đào tạo, bao gồm việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và đặc biệt là phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên Do đó những
ưu điểm nhất định so với hình thức đào tạo niên chế nên các nước trên thế giới, nhiều trường đại học đã cố gắng vận dụng, chuyển đổi hệ thống tổ chức đào tạo sang hệ thống tín chỉ ở mức độ cao nhất, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi trường, mỗi quốc gia
Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ không phải là một quá trình đơn giản đối với những người trực tiếp thực hiện như các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên và đối với cả hệ thống giáo dục Thực tế triển khai trong giai đoạn quá độ này ở nhiều trường đại học, cao đẳng do tính toán chưa kỹ, chưa có những lộ trình phù hợp và nhất là chưa lường trước được những khó khăn
Trang 3có thể nảy sinh trong quá trình áp dụng cho nên kết quả của việc áp dụng này thường không theo mong muốn; rút cuộc là công việc này thường kết thúc dở dang, khi được hỏi quan điểm về đào tạo theo phương thức tín chỉ, câu trả lời thường là:
“Khó, không áp dụng được, không phù hợp với hoàn cảnh của nhà trường” Vì thế
có nhiều vấn đề đang đặt ra cần giải quyết, đặc biệt là vấn đề liên quan đến quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Thực tiễn cho thấy, tổ chức chuyển đổi từ niên chế sang đào tạo theo HCTC
ở các trường đại học, cao đẳng bước đầu áp dụng các trường đang gặp rất nhiều khó khăn như: Vấn đề đánh giá kết quả học tập theo thang đo mới, việc quy đổi với những học phần chưa áp dụng theo HCTC, đưa thêm các môn học tự chọn; Trong việc tổ chức các lớp theo học phần và tổ chức cho sinh viên đăng ký học; khó xếp lịch thi để sinh viên không trùng ca thi; Khó sinh hoạt tổ chức đoàn thể; Khó quản
lý sinh viên theo lớp; Mô hình chưa ổn định; Hình thức quản lý; Cơ sở vật chất; Chương trình môn học, chương trình thực tập cũng sắp xếp khó khăn giữa trường sư phạm và trường phổ thông trên địa bàn Tất cả những khó khăn trên cho thấy chúng
ta cần phải có một lộ trình để chuyển đổi thì mới có thể phát huy tốt vai trò quản lý đào tạo theo HTTC Vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ các trường học thưa, dân số ít, trình
độ đầu vào thấp, năng lực các trường phổ thông còn hạn chế, ranh giới giáp biên giới, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt có nhiều dân tộc thiểu số
Tại các trường Đại học, cao đẳng đã thực hiện việc đào tạo theo HCTC về chương trình theo từng ngành, chuyên ngành (Chương trình chuyên ngành trước đây cái gì là môn học số lượng bao nhiêu tiết thì chuyển sang được gọi chương trình đào tạo theo tín chỉ) số tiết chế, số lượng tiết học ở các ngành học theo niên chế được phiên ngang sang để áp dụng cho đào tạo tín chỉ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các cơ sở đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ, hình thức tổ chức thực hiện vẫn là theo niên chế
Theo Quyết định số 6290/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT năm 2011 đã định hướng: “Đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm, trong đó đặc biệt coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, đạo đức nghề nghiệp, tăng thời lượng và nội dung đào tạo, thực hành, thực tập
Trang 4nghiệp vụ sư phạm Bổ sung các học phần về khoa học đánh giá, đo lường trong giáo dục, về giáo dục hòa nhập, về giáo viên chủ nhiệm lớp và tư vấn, hướng nghiệp” Theo đó, nghiệp vụ sư phạm cũng được coi là một trong những nội dung quan trọng của chương trình đào tạo giáo viên Đào tạo trình độ cao đẳng sư phạm
là đào tạo nghề nên có đặc thù riêng biệt
Nhận thức được thực tế nêu trên cần được giải đáp, làm sáng tỏ nên việc
chọn vấn đề nghiên cứu “Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ” là một việc làm
cần thiết, góp phần triển khai thành công phương thức đào tạo theo tín chỉ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ thay thế cho phương thức đào tạo theo niên chế phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực tế của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý các chương trình đào tạo chính quy theo học chế tín chỉ của các cơ
sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
4 Giả thuyết khoa học
Đào tạo theo học chế tín chỉ của các sở đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ là xu thế tất yếu Tuy nhiên, cách thức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu cơ bản của đào tạo theo HCTC
Nếu đề xuất được các giải pháp hợp lý để quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ một cách khoa học, có hệ thống và đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của đào tạo
Trang 5theo học chế tín chỉ thì sẽ tác động tích cực đến việc tổ chức quá trình đào tạo hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng hiện nay
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ bậc cao đẳng chính quy, theo hướng tiếp cận quản lý các hoạt động và các thành tố của quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo, quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
- Đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực tế của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
- Khảo nghiệm và thực nghiệm các giải pháp QLĐT theo HCTC ở các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về n i dung: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp
quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình
độ cao đẳng hệ chính quy 3 năm tại vùng Đông Nam Bộ
Địa bàn nghiên cứu: các trường CĐSP, các trường đại học có đào tạo giáo viên
trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ (Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Tp.HCM, Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu, Cao đẳng Sư phạm Bình Phước Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Đồng Nai, Trường Đại học Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, Cao đẳng Sư phạm Bình Phước)
Thời gian nghiên cứu: Năm 2013- 2019
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận cơ bản để nghiên cứu:
6.1.1 Tiếp cận hệ thống
Đào tạo theo học chế tín chỉ là một tập hợp các thành tố có quan hệ tương tác nhằm thực hiện một mục tiêu xác định của quá trình đào tạo Luận án sử dụng cách
Trang 6tiếp cận phân tích hệ thống có cấu trúc và xem xét các mối quan hệ trong hệ thống các thành tố của quá trình đào tạo theo cách tổ chức học chế tín chỉ
6.1.3 Tiếp cận theo nhu cầu người học
Cách tiếp cận này người học tốt nghiệp sẽ làm được gì, cần trang bị cho họ
kiến thức cần thiết nào cho phù hợp, trang bị kỹ năng gì để hành nghề giáo viên, thậm chí ngay mỗi môn học, mỗi tín chỉ cũng phải có mục tiêu và quán triệt mục tiêu này trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, giới hạn kiến thức cốt lõi cho phù hợp
6.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2.1 Tổng quan t i liệu nghiên cứu
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Ngành giáo dục, các ngành khác, các công trình nghiên cứu, các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp so sánh giáo dục
Tiếp cận so sánh cho phép xem xét đào tạo theo học chế tín chỉ trong tương quan với đào tạo theo niên chế so sánh với hệ thống học tập ở trong nước và nước ngoài Từ đó, rút ra được kinh nghiệm để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ phù hợp với điều kiện của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.3.1 Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi
Xây dựng bộ phiếu hỏi để tiến hành khảo sát thực tế tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM, Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu, Trường Đại
Trang 7học Sài Gòn, Trường Đại học Đồng Nai, Trường Đại học Thủ Dầu Một Nhằm tìm hiểu nhận thức của họ về hoạt động đào tạo theo tín chỉ ở các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng và thực trạng triển khai đào tạo, quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
6.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Trên cơ sở điều tra bằng phương pháp bảng hỏi, để quá trình thu thập thông tin chính xác, nội dung thu dữ liệu đúng với bối cảnh đào tạo tác giả thực hiện phỏng vấn nhóm, trao đổi sâu với các cán bộ quản lý, các giảng viên để xác định các vấn đề cơ bản và quan trọng trong chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
6.3.3 Phương pháp chu ên gia
Trao đổi, đóng góp của các nhà khoa học, chuyên gia của các trường, cán bộ giảng dạy có kinh nghiệm về một số khía cạnh của đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng nhằm bổ sung, hoàn chỉnh
và củng cố thêm kết quả nghiên cứu
6.3.4 Phương pháp thực nghiệm giáo dục
Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng giải pháp quản lý, Tăng cường năng lực tự học của sinh viên phù hợp với đ o tạo theo HCTC, cụ thể tại Trường cao
đẳng Sư phạm Trung ương Tp.HCM để chứng minh tính khả thi bằng thực tiễn
Tiến hành triển khai thực nghiệm một nội dung “Tổ chức hoạt đ ng thực tập
sư phạm theo tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam B ” trong giải pháp 5, Quản lý đổi mới chương trình, PPDH,
KTĐGHT phù hợp với đào tạo theo HCTC
6.3.5 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Thu nhận thông tin và xử lý số liệu bằng các phần mềm chuyên dụng SPSS
7 Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ trong giai đoạn chuyển đổi
còn nhiều bất cập làm hạn chế chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ;
Trang 8Luận điểm 2: Quản lý tốt việc đào tạo theo học chế tín chỉ ở các cơ sở đào
tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ sẽ góp phần nâng cao được chất lượng đào tạo trong nhà trường Xây dựng các giải pháp quản lý đào tạo phải phù hợp với đặc điểm đào tạo của HCTC, phù hợp với đặc thù của cơ sở đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
8 Những đóng góp của luận án
8.1 Lý luận: Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đào tạo theo học chế
tín chỉ của các cơ sở đào tạo có đào tạo trình độ cao đẳng trên cơ sở hệ thống hóa một số khái niệm để làm sáng tỏ khái niệm (Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng), qua đó khẳng định được tính khả thi của đào tạo tín chỉ trong đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng Đồng thời, luận án cũng đã chỉ ra và phân tích nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng
8.2 Thực tiễn: Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý đào tạo theo học
chế tín chỉ trong các cơ sở có đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng tại vùng Đông Nam Bộ; Luận án đề xuất 6 giải pháp quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các
cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ; Luận án
đã khảo nghiệm về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của 6 giải pháp và thực nghiệm 2 trong 6 giải pháp đã đề xuất
9 Cấu trúc của luận án
Mở đầu
Phần này trình bày lý do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Ngoài ra, cũng đề cập đến ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Nội dung nghiên cứu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ
sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng
Chương 2: Cơ sở thực tiễn quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở
Trang 9đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
Chương 3: Giải pháp quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của các cơ sở đào
tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
Kết luận và khuyến nghị
Đánh giá, phân tích những kết quả nghiên cứu đạt được và những đề nghị cho nghiên cứu triển khai tiếp theo
Tài liệu tham khảo
Danh mục các công trình công bố của NCS
Phụ lục
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN CÓ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong nội dung tổng quan nghiên cứu liên quan đến luận án với hai xu hướng: Nghiên cứu về đào tạo theo HCTC và Nghiên cứu cụ thể về Quản lý đào tạo theo HCTC
1.1.1 Các nghiên cứu về đ o tạo theo học chế tín chỉ
Năm 1872 Hiệu trưởng đại học Havard Charles William Eliot (1869–1909) đã
có sáng kiến đưa ra một hệ thống điều chỉnh chương trình bằng cách thay đổi hệ thống chương trình đào tạo cứng nhắc cổ điển bằng cách lựa chọn linh hoạt nội dung cho các sinh viên năm cuối; đến năm 1884 Đại học Harvard đã cho phép hầu như hoàn toàn tự do lựa chọn cho mọi sinh viên và cho đến năm 1890 chuyển sang việc đo lường quá trình tiến tới một văn bằng trên cơ sở tích lũy các môn học riêng
lẻ hơn là toàn bộ tiến trình học tập thiết kế trước Việc áp dụng HCTC sau đó trở nên khá phổ biến ở nhiều trường đại học thuộc nhiều nước trên thế giới vào cuối thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đặc biệt việc áp dụng này hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ theo mô hình của đại học Harvard (Mỹ) bằng việc các trường công bố trong chương trình giảng dạy của họ, danh mục liệt kê số lượng các tín chỉ được cung cấp cho mỗi môn học, con số xác định bởi giờ lên lớp, giờ thực hành thí nghiệm, giờ tự học giành cho mỗi môn học trong tuần, những trình tự trong việc phân phối các môn học, các hình thức kiểm tra, đánh giá quá trình học tập và những yêu cầu số lượng tín chỉ đòi hỏi để đạt được văn bằng tương ứng Cũng vào những năm đầu của thế kỷ 20 mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ lan rộng ra và bao trùm các chương trình đào tạo sau đại học “Động lực ngầm thúc đẩy việc du nhập hệ thống tín chỉ lựa chọn ở Hoa Kỳ có thể liên quan với việc các nước phát triển cân nhắc, tìm kiếm một cấu trúc tương tự cho hệ thống giáo dục đại học Yếu tố chính đã thúc đẩy thay thế các chương trình giảng dạy theo kiểu nhất loạt cổ điển là đòi hỏi làm cho hệ thống mềm dẻo hơn và thích hợp hơn với nhu cầu hiện tại” [5] Tính ưu việt của hệ thống tín chỉ đã được khẳng định ở nhiều trường đại học lớn trên thế giới
Trang 11Xuất phát từ quan điểm xem sinh viên là trung tâm của quá trình đào tạo và đòi hỏi việc tổ chức giảng dạy phải sao cho mỗi sinh viên có thể tìm được phương pháp học thích hợp nhất cho mình, cũng như tư tưởng cho rằng sinh viên hệ cao đẳng, đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn cuộc sống Trên cơ sở những tư tưởng triết học đó, Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các module mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ Cùng với sự phát triển của phương thức đào tạo này rất nhiều công trình được nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về hệ thống tín chỉ đã được xuất bản Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp về hệ thống học tập này và cách thức quản lý nó Trong các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học
Các nghiên cứu về đào tạo theo học chế tín trên thế giới
Tác giả James M Heffernan, trong bài viết “The Credibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credit System” [99] đã trình bày
tổng quan về hệ thống tín chỉ trong các nước đang phát triển, một số bài học rút kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về hệ thống tín chỉ Công trình này đã phân tích khả năng
áp dụng hệ thống tín chỉ học tập mà các nước đang phát triển có thể xem xét điều kiện triển khai nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của các trường đại học James Quann cho rằng khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, các nước đang phát triển không nên chấp nhận mô hình của Mỹ một cách dập khuôn mà cần xem xét các yếu tố để xây dựng những kế hoạch thực hiện riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh
và văn hóa Một số yếu tố quan trọng để chuyển đổi thành công đào tạo theo hệ thống tín chỉ cũng được tác giả đề cập Trước hết, đó là sự ủng hộ, đồng thuận của xã hội, Chính phủ và các thành viên có liên quan trực tiếp đến quá trình đào tạo, sau đó là sự phù hợp các yêu cầu đối với đào tạo (Chương trình, nội dung, phương pháp dạy học; Đội ngũ giảng viên; Kiểm tra, đánh giá; cơ sở vật chất…)
Trang 12Hai nhà khoa học nổi tiếng là Robert Allen và Geoff Layer đã có công trình
nghiên cứu:“Credit-Based Systems as Vehicles for Change in Universities and Colleges” (Hệ thống tín chỉ là phương tiện thay đổi trong các trường đại học và cao đẳng) [103] Các tác giả khẳng định sự phát triển của giáo dục đại học đại chúng là
một thách thức đối với các nhà quản lý và nhu cầu tất yếu phải có sự thay đổi trong
hệ thống giáo dục đại học
Đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp dụng mạnh mẽ trước hết ở các nước Tây
Âu từ những năm 1960 Trước đó, chương trình truyền thống trong các trường đại học ở Châu Âu, đặc biệt là ở Tây Âu hầu như do giáo viên quyết định Nó có xu hướng áp đặt, có rất ít khả năng cho người học lựa chọn các môn học Hơn 40 quốc gia Châu Âu có cơ sở đào tạo đại học, vì vậy việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng khác nhau Trong nhiều nước, đặc biệt là các nước Bắc Âu chương trình đại học được mô tả theo tín chỉ tương đương với những gì được mô tả trong các chương trình đại học ở Mỹ Ở Phần Lan chẳng hạn, “độ dài của các chương trình cử nhân được tính theo tín chỉ Một tín chỉ (1 tuần học tập) gồm khoảng 40 giờ làm việc trong đó bao gồm các hoạt động như giảng bài của giáo viên và các hình thức hoạt động khác như thảo luận, làm bài tập, seminar, tự học ở nhà hay trong thư viện…” Số tín chỉ một sinh viên tích lũy để được cấp bằng cử nhân là 120 Thụy Điển cũng phát triển hệ thống tín chỉ (poang)d ựa trên hệ thống điểm tín chỉ của Mỹ trong đó một tín chỉ bao gồm khoảng 40 giờ học tập và số lượng tín chỉ một sinh viên phải tích lũy để được cấp bằng cử nhân là 120-140 Hệ thống tín chỉ ở các nước như Hà Lan, Na Uy và Iceland cũng tương tự như vậy, với khối lượng học tập của sinh viên trên một học kì được tính theo đơn vị tín chỉ (vettall) ở Na Uy
Ở Pháp, người ta cũng sử dụng đơn vị tín chỉ (unite de valeur – nghĩa đen là đơn vị giá trị) để đo khả năng hoàn thành công việc học tập của sinh viên theo học
kỳ cho cả khối lượng những môn học bắt buộc và khối lượng những môn học lựa chọn Ở Anh, người ta còn đi xa hơn nữa, một mặt họ áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ, mặt khác học chủ trương module hóa toàn bộ chương trình đào tạo đại học [90] Các nước khác ở Tây Âu như Đức và Bồ Đào Nha mới chỉ tổ chức chương trình đào tạo của họ và những yêu cầu để lấy bằng theo các môn học với
Trang 13những giá trị tính theo tín chỉ Các nước còn lại Italia, Tây Ban Nha và các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng bắt đầu chủ trương chuyển phương hướng đào tạo truyền thống sang phương thức đào tạo theo tín chỉ
Các nước Tây Âu còn đi xa một bước xa hơn nữa, chủ trương đa dạng hóa giáo dục đại học để hướng tới một “ Xã hội tri thức Châu Âu”, khuyến khích sự di chuyển của sinh viên và trao đổi tri thức đa dạng giữa các trường đại học Và để tạo điều kiện cho công việc này, năm 1988 Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu (ECTS - European Credit Transfer System) đã được khởi động Đây là một chương trình thí điểm kéo dài trong 6 năm, thu hút sự tham gia của 145 trường đại học, tập trung vào
5 nhóm ngành: quản trị kinh doanh, hóa học, lịch sử, cơ khí và y học Sau 6 năm, ECTS phát triển mạnh và đã được mở rộng vượt ra khỏi chương trình thí điểm, thu hút sự tham gia của nhiều trường đại học, nhiều ngành khoa học Đến nay số lượng thành viên tham gia vào Hệ thống ECTS đã lên đến con số hàng nghìn
Ở Châu Á, tín chỉ cũng được áp dụng, bắt đầu từ Nhận Bản, Singgapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonisia, Trung Quốc, Phillippine Việc áp dụng hệ thống đào tạo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người nhận kiến thức, nhưng đồng thời cũng là người chủ động thiết kế kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao động xã hội
Nó cho phép họ chọn trong số các môn học được thiết kế trong chương trình, nhiều trong những môn đó có thể thay thế được cho nhau và hữu ích như nhau [90] Tuy nhiên, các nhà khoa học giáo dục vẫn không ngừng nghiên cứu về hệ thống học tập này nhằm ngày càng cải thiện chất lượng giáo dục cũng như cách thức quản lý để phát huy các mặt tích cực của quá trình đào tạo và phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội
Tại Trung Quốc, Jinsong Zhang, Chanliu Wang và LuluDong đã công bố bài
viết “Anal sis of restrictive factors on the university credit system in China” [100]
Các hạn chế của hệ thống tín chỉ bao gồm tự chủ đại học, hệ thống quản lý, tài nguyên chương trình, giảng viên, tài liệu học tập, nguồn lực tài chính, bố trí thực hiện chương trình, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập, đánh giá giảng viên
Trang 14Các nghiên cứu về đào tạo theo học chế tín ở Việt Nam
Trước năm 1975 một số trường đại học tại miền Nam Việt Nam đã thử vận dụng học chế tín chỉ vào tổ chức đào tạo: như Viện Đại học Cần Thơ, Đại học Bách khoa Thủ Đức áp dụng trong gần 1 năm
Sau năm 1975 Việt Nam hoàn toàn giải phóng có các trường Đại học Khoa học Sài Gòn, Đại học Văn khoa Sài Gòn tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ Những nhà nghiên cứu tiên phong về HCTC ở Việt Nam, tác giả Lâm Quang Thiệp đã có bài
viết:“Xây dựng chương trình đào tạo theo tín chỉ có sử dụng Internet” năm 2006 với chủ đề “Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và Việt Nam” [76]
Kể từ 1986 nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục đại học nước ta cũng có nhiều thay đổi Việc triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học, cao đẳng là một vấn đề đã bắt đầu được đề cập từ cách đây hơn 30 năm nhưng gặp rất nhiều lúng túng trong cả khâu quản lý và triển khai Ngay từ năm 1988, theo chủ trương của Bộ GD&ĐT, một số trường đại học đã áp dụng học chế mềm dẻo: Kết hợp niên chế với học phần (đo bằng đơn vị học trình) Trong giai đoạn 1993-
1998 các tác giả ở Vụ Giáo dục đại học, Viện Nghiên cứu Đại học và giáo dục chuyên nghiệp mà đứng đầu nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học Lâm Quang Thiệp, Lê Thạc Cán và Lê Viết Khuyến đã có nhiều bài nghiên cứu về quản lý đào tạo khi chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ Gần đây, vấn đề này đã được nêu trong các văn bản, quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT và ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu giáo dục, các cấp lãnh đạo nhà trường, đội ngũ GV, SV và các tổ chức xã hội sử dụng sản phẩm giáo dục Nhiều vấn đề về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ và quá trình chuyển đổi sang học chế này đã được các nhà khoa học nghiên cứu rộng rãi
Tài liệu có giá trị là “Về hệ thống tín chỉ học tập” của Vụ Đại học - Bộ Giáo
dục & Đào tạo, đã được xuất bản năm 1994 Công trình này tuyển dịch bốn tài liệu của nước ngoài về hệ thống tín chỉ với những kiến thức rất cơ bản kèm theo nhiều tài liệu tham khảo được giới thiệu đã thực sự cần thiết với các trường ĐH ở Việt
Trang 15Nam trong quá trình chuyển đổi từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ và các
kinh nghiệm quản lý đào tạo theo tín chỉ của một số nước tiên tiến [5]
Cùng với việc biên soạn và phát hành các tài liệu nêu trên, Bộ GD&ĐT và một số trường đại học và cao đẳng đã tổ chức nhiều Hội thảo (Hội thảo quốc tế năm
2016 do Học viện quản lý tổ chức; Hội thảo đổi mới nội dung, chương trình và xây dựng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học và sau đại học tại trường đại học y dược TPHCM 6/2013…) với các ý kiến đóng góp của các chuyên gia giáo dục bàn về vấn
đề này Các Hội thảo tập trung bàn về các vấn đề lý luận và các quan điểm mới trong việc thiết kế chương trình đào tạo theo tín chỉ của kỷ nguyên công nghệ; vai trò của Internet trong giảng dạy và học tập Một số Hội thảo đi sâu vào phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công học chế tín chỉ; Phân tích cơ hội và thách thức của hệ thống chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ; Nhận diện các xung đột hệ thống khi triển khai học chế tín chỉ trong điều kiện của Việt Nam và cách thức khắc phục chúng; Nghiên cứu các phương pháp sư phạm đặc thù và các hình thức tổ chức dạy học hiệu quả trong học chế tín chỉ
Trong các diễn đàn khoa học này nhiều nhà khoa học đã có tham luận khá được chú ý Những kinh nghiệm triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ của một số nước trên thế giới cũng được một số tác giả tổng kết Eli Mazur và Phạm Thị Ly, [33] Hai nhà nghiên cứu Eli Mazur và Phạm Thị Ly nhấn mạnh về mục tiêu sư
phạm của HTTC trong bài viết “Mục tiêu Sư phạm của hệ thống đ o tạo tín chỉ Mỹ
và những gợi ý cho cải các giáo dục Đ Việt Nam” [33] đã khái quát lịch sử và
chức năng quản lý của HTTC Mỹ; các vấn đề tranh luận và tầm nhìn: HTTC trong các trường ĐH hiện đại; bài học của Trung Quốc trong việc thực hiện HTTC ở Mỹ
Đề cập đến ảnh hưởng của hệ thống tín chỉ của Mỹ đến giáo dục đại học Việt Nam và kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ, tác giả Nguyễn Kim Dung đưa ra một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thống tín chỉ học tập Hai mô hình phổ biến là: Hệ thống tín chỉ của Hoa Kỳ và Hệ thống chuyển đổi tín chỉ của Châu Âu cũng được tác giả phân tích với các chức năng và ưu điểm của chúng cũng như đặc thù triển khai và cách thức quản lý, vận hành, một số tác giả đã nghiên cứu và khái quát các đặc điểm
Trang 16về hệ thống tín chỉ và cách thức tổ chức đào tạo đại học theo phương thức này trong các nước Liên minh Châu Âu như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc [32]
Đặc biệt một số thực tiễn và bài học kinh nghiệm của các trường đã và đang chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ cũng được các nhà quản lý và giảng viên chia sẻ trong Hội thảo như Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường đại học Đà Lạt, Trường Đại học Dân lập Phương Đông, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Cao đẳng Công nghệ Viettronics, Trường Đại học Hà Tĩnh, Trường Đại học Đồng Tháp, Trường Đại học Phú Yên, Trường CĐSP Nam Định, Trường CĐSP Bà Rịa- Vũng Tàu, Trường CĐSP Trung ương TPHCM, Trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An,…
Ban liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học
về “Đ o tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” và “Đổi mới phương pháp dạy và học trong đ o tạo theo HCTC và Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đ o tạo” vào năm 2006, 2007
với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong các viện nghiên cứu, trường ĐH ở Hà Nội, Nghệ An, Nha Trang, Đà lạt, Tp.HCM, Bình Dương, Cửu Long…sẽ có tác động tích cực đến hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên, vì một mục đích
chung là nâng cao chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ [2,3] Các Hội thảo này
thu hút sự tham gia của các nhà quản lý và giảng viên với nhiều bài tham luận, báo cáo có giá trị thực tiễn cao Đây là diễn đàn khoa học để đội ngũ quản lý nhà trường
và giảng viên trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao nhận thức về một phương thức đào tạo mới
Năm 2006, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức Hội thảo về đào tạo theo học chế tín chỉ Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học KHXH&NV, dự thảo:
“Qui định về việc tổ chức đ o tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học KHXH&NV [28] Các cán bộ nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Hà Nội-Đại học
KHXH&NV đã đề xuất một lộ trình cụ thể của trường để triển khai phương thức đào tạo, được nhiều người quan tâm, lộ trình được chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Áp dụng ngay các yếu tố tích cực học chế tín chỉ; Từng bước
Trang 17chuyển đổi chương trình đào tạo; Biên soạn chương trình chi tiết các môn học; Hướng dẫn sử dụng PPDH, phương pháp kỹ thuật, đánh giá theo học chế tín chỉ; Phát triển và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu học chế tín chỉ Thời gian thực hiện từ năm 2006
Giai đoạn 2: Tổ chức đào tạo hoàn toàn theo học chế tín chỉ cho tất cả các trường, các khoa thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội sau khi các công việc của giai đoạn 1 tương đối hoàn thành [67]
Một số nhà khoa học giáo dục của Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về học chế tín chỉ:
- Nghiên cứu về giáo dục đại học nói chung và học chế tín chỉ nói riêng, các
ưu nhược điểm, điều kiện triển khai và đào tạo theo học chế tín chỉ ở nước ta, việc
áp dụng hệ thống tín chỉ trong các trường Đại học ở Việt Nam đã được tác giả Lâm Quang Thiệp đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu
- Những nghiên cứu về quy trình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ, cơ cấu lại chương trình đào tạo để chuyển phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay ở Việt Nam đã được trình bày trong báo cáo về học chế tín chỉ của Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Việc tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và theo học chế tín chỉ đã được tác giả Lê Thạc Cán nghiên cứu rất chi tiết [18] Theo
GS Lê Thạc Cán, nếu kế hoạch đào tạo theo niên chế có thể ví như một tuyến đường
đã được vạch sẵn cho tất cả sinh viên (trong một khóa) đi theo trong suốt một khoa đào tạo thì kế hoạch đào tạo theo học chế tín chỉ là một bản đồ học tập của một hệ thống các tri thức lý luận và thực tiễn theo các ngành, chuyên ngành trên đó sinh viên có thể chọn tuyến đi, cách đi, tốc độ đi tới mục đích của mình căn cứ vào mục đích, sở thích, điểm mạnh, điểm yếu cụ thể Lộ trình học tập này có thể giúp sinh viên điều chỉnh tuyến đi lúc mục đích học tập của sinh viên thay đổi theo nguyện vọng cá nhân, nhu cầu của thị trường nhân lực hoặc phát triển của khoa học và công nghệ Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm rộng về phương hướng, các chuẩn mực và mục tiêu đào tạo Sinh viên chịu trách nhiệm về lộ trình cụ thể mà mình lựa chọn
Trang 18Học chế này cho phép sinh viên có cơ hội linh hoạt chuyển đổi ngành học hoặc học thêm một vài ngành khác, chuyển khoa, chuyển đổi trường giữa các trường đã có thỏa thuận chuyển đổi với nhau mà vẫn giữ đầy đủ yêu cầu đào tạo Về triết lý giáo dục, học chế tín chỉ coi trọng phần tự đào tạo, tự học của người học trong quá trình đào tạo Ngược lại, học chế theo chương trình định sẵn theo niên chế xem phần giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa quyết định và quantrọng hơn
- Những nghiên cứu về hệ thống tín chỉ ở Mỹ và phân tích những tác động của mô hình đào tạo này tới hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay đã được tác giả Nguyễn Hữu Việt Hưng, người từng tham gia giảng dạy và hợp tác
nghiên cứu tại trường đại học có tiếng ở Mỹ trình bày [47]
Nhà nghiên cứu giáo dục đại học Nguyễn Phúc Chỉnh cũng đã có bài nghiên cứu thực tế áp dụng ở một trường đại học sư phạm cụ thể “Đào tạo theo HCTC ở Trường đại học sư phạm, đại học Thái Nguyên” [23]
- Tác giả Nguyễn Đức Chính đã xây dựng được quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo yêu cầu của HCTC Tác giả cũng nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một quá trình đào tạo nói chung và HCTC nói riêng như khâu phân tích nhu cầu người học và khâu đánh giá cải tiến của các nhà quản lý và giảng viên [22]
- Tác giả Lê Viết Khuyến đã có những công trình nghiên cứu về quá trình triển khai quy trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ Các yêu cầu triển khai mức độ phù hợp của từng yêu cầu đó đối với thực trạng giáo dục của Việt Nam hiện nay được tác giả phân tích, đánh giá để từ đó đề xuất các bước khả thi triển khai học chế tín chỉ trong các trường đại học, cao đẳng nước ta [53,54,56]
Nhà khoa học Lê Viết Khuyến có đề tài báo cáo “Quá trình chuyển đổi quy trình đào tạo qua hệ tín chỉ trong các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” [55] Tác giả nêu ra trong những khuyến cáo là không nên nghĩ hệ tín chỉ chỉ thích hợp với các trường “giàu” mà chính các trường “nghèo” lại cần phải triển khai sớm hệ tín chỉ và muốn thành công phải làm kiểu “nghèo”
Nhằm nêu rõ bản chất, phương thức đào tạo của HCTC, tác giả Trần Thanh Ái
đã công bố nghiên cứu quan trọng “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Các nguyên lý,
Trang 19thực trạng và giải pháp” [1] Tác giả đã lược khảo tài liệu về các nguyên lý của nền giáo dục mới và các biện pháp thực hiện; nêu một số vấn đề bất cập khi áp dụng đào tạo theo HTTC; kết luận và kiến nghị 10 điểm cần thực hiện để bảo đảm triển khai thành công chủ trương của Bộ GD & ĐT về đào tạo theo HTTC ở các trường đại học Việt Nam
Công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thanh Hải [37] “ Đào tạo tín chỉ trong các trường ĐHĐP –Thực trạng và giải pháp” đã nghiên cứu khái quát tổng quan về HTTC và việc áp dụng đào tạo theo HTTC ở Việt Nam; nêu các nhược điểm trong đào tạo theo HTTC ở các trường ĐHĐP; tác giả đề xuất một số biện pháp cải tiến hoạt động đào tạo theo HTTC; tăng cường vai trò trách nhiệm của GV; tạo cơ chế quản lý đào tạo linh hoạt …
Nghiên cứu các thành tố của quá trình đào tạo, tác giả Zihra, Michelle có bài
báo “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần tha đổi chương trình đ o tạo và vai trò của giáo viên” (đã được Phạm Thị Ly dịch ra tiếng Việt) [93] đưa ra một số khuyến
nghị liên quan đến chương trình đào tạo và xây dựng đội ngũ GV ở các trường ĐH Việt Nam
Tác giả Trần Lương “Thiết kế module học phần giáo dục học theo học tín chỉ
ở Trường Đại học Cần Thơ”, [62] đã nghiên cứu cơ sở của việc thiết kế module học
phần; Khái quát chung về thiết kế môn học phần GDH; các hoạt động cụ thể; nội dung thông tin cho các hoạt động, đây là bài tham khảo để nhà nghiên cứu thiết kế module các môn học khác trong đào tạo theo HCTC
Đào tạo tín chỉ tại trường Đại học Bạc Liêu, được tác giả Trương Thu Trang [83] nghiên cứu và có nhận xét cụ thể về ưu điểm như sau: Công tác chuẩn bị, cơ sở vật chất, đội ngũ GV, SV thích ứng nhanh đáp ứng đào tạo theo HCTC; hạn chế: Nắm bắt quy chế đào tạo, kinh nghiệm giảng dạy và học tập, trang thiết bị… và đề xuất các biện pháp thiết thực: xây dựng quy chế phù hợp, hướng dẫn thực hiện quy chế, đào tạo CVHT có chất lượng, tổng kết hoạt động từng năm, công tác kiểm tra - đánh giá, các điều kiện để đào tạo tốt hình thức đào tạo này
Đề cập đến hoạt động dạy học, tác giả Phạm Minh Hùng đã có công trình
nghiên cứu “M t số giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với hoạt đ ng dạy học
Trang 20của giảng viên v sinh viên trong đ o tạo theo hệ thống tín chỉ” [48] đề xuất xây
dựng công cụ giúp cho GV và SV những vấn đề cơ bản, cốt lõi trong ĐT theo HCTC; phát triển chương trình đào tạo, đảm bảo tính mềm dẻo và đặt trọng tâm vào việc học của SV; đổi mới phương pháp dạy và học; đa dạng hóa các hình thức dạy học; thực hiện tốt quy trình đánh giá KQHT của SV
Chất lượng chuyển đổi chương trình nghiệp vụ sư phạm, tác giả Bùi Thị Mùi
có bài “Góp phần nâng cao chất lượng chuyển đổi chương trình nghiệp vụ sư phạm sang hệ thống tín chỉ trong đ o tạo giáo viên trung học phổ thông” [64] nghiên cứu
sâu về Chương trình nghiệp vụ sư phạm trong đào tạo GV; một số hạn chế của chương trình nghiệp vụ sư phạm trong đào tạo giáo viên: Chương trình NVSP thiếu thống nhất, chưa đảm bảo tính toàn diện, chỉ chú trọng đến lý luận và phương pháp dạy học mà chưa chú trọng đến phần tâm lý học (TLH) và giáo dục học (GDH), tài liệu giảng dạy, kết quả đánh giá chưa sát; đề xuất một số ý kiến về xây dựng và phát triển chương trình nghiệp vụ sư phạm trong tương lai: xây dựng và thực hiện quy trình chuyển đổi chương trình NVSP sang HCTC một cách khoa học, thống nhất cân đối trong chương trình đào tạo NVSP, chương trình khung của Bộ; tăng cường biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện chương trình NVSP vững mạnh
Cùng với đó, phương pháp dạy học theo học chế tín được tác giả Trần Thị
Hương đề cập sâu trong bài “Đổi mới phương pháp dạy học trong đ o tạo theo học chế tín chỉ” [51] đã nghiên cứu về HCTC; đổi mới phương pháp dạy học đại học
theo hướng phát huy năng lực tự học của sinh viên trong đào tạo theo HCTC: Thiết
kế mục tiêu, tổ chức nội dung DH, sử dụng và phối hợp phương pháp dạy học tích cực, sử dụng phương tiện kỹ thuật (CNTT, E-Leanning…), đổi mới kiểm tra - đánh giá KQHT của SV
Những nghiên cứu về đ o tạo theo HCTC ở các cơ sở đ o tạo giáo viên trình
đ cao đẳng:
Tác giả Nguyễn Cư trong “Chu ển đổi phương thức đ o tạo từ học chế học phần sang học chế tín chỉ ở Trường cao đẳng sư phạm Kon Tum, vấn đề và giải pháp” [26] đã nghiên cứu về công tác tổ chức đào tạo; công tác chuyên môn; công
tác quản lý: đề cập cụ thể đến xây dựng phần mềm QLĐT, công tác chuyên môn,
Trang 21đoàn thể, công tác cố vấn học tập (vẫn giữ tên gọi là GVCN), (lớp học vẫn cố định theo ngành học, ngoại trừ môn chung) Việc chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo HCTC đối với Trường cao đẳng sư phạm Kon Tum chỉ bao gồm công việc sau: Chuyển đổi đơn vị học trình sang đơn vị tín chỉ; cấu trúc lại chương trình; điều chỉnh lại nội dung cho phù hợp với thời gian quy định; xây dựng quy chế học vụ; xây dựng phần mềm QLĐT; cho SV đăng ký môn học (môn chung); đổi mới cách đánh giá sang điểm chữ; không tổ chức thi tốt nghiệp mà xét tốt nghiệp
Tác giả Trần Linh Quân khi đề cập đến việc “Tổ chức chuyển đổi từ đ o tạo niên chế sang đ o tạo theo HCTC ở các trường cao đẳng sư phạm” [70] đã nghiên
cứu đến lợi ích của đào tạo theo HCTC; Các bước tổ chức chuyển đổi từ tổ chức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo HCTC trong trường cao đẳng sư phạm; Một
số vấn đề cần lưu ý trong quá trình chuyển đổi ở các trường cao đẳng sư phạm: Cấu trúc lại chương trình đào tạo và bổ sung các học phần/môn học tự chọn; xây dựng phần mềm quản lý đào tạo; xây dựng một kế hoạch chuyển đổi chi tiết, theo lộ trình
để thực hiện theo đào tạo HCTC phù hợp với điều kiện các trường CĐSP
Đề cập đến quá trình áp dụng chương trình đào tạo, tác giả Trương Thị Thu
Hà có bài “M t số vấn đề về học tín chỉ và quá trình áp dụng v o chương trình đ o tạo tại các trường đại học, cao đẳng” [34] đã nghiên cứu một số vấn đề về HCTC
và sự cần thiết của việc áp dụng HCTC vào chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng; tình hình áp dụng HCTC vào chương trình đào tạo của các trường đại học: về phía SV, nội dung và phương pháp giảng dạy, quản lý giáo dục… và đề xuất các biện pháp: đối với SV, GV, đối với QLGD đặc biệt quan tâm nhiều đến sử dụng công nghệ thông tin vào quản lý để tiết kiệm khối lượng nhân lực
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý đ o tạo theo học chế tín chỉ
Các nghiên cứu về quản lý đ o tạo theo học chế tín chỉ trên thế giới
Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, tài liệu liên quan đến quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ không nhiều Các nhà lý luận mới chỉ quan tâm đến triết lý
cơ bản, đặc điểm, lợi ích của đào tạo theo học chế tín chỉ so với niên chế Khi phân tích tiến trình phát triển của đào tạo theo học chế tín chỉ, một số nhà khoa học đã đề cập đến quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ Tuy mới được phát triển hơn một thế
Trang 22kỷ, nhưng cũng có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc và tiến trình phát triển đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ
Tác giả Arthur Levin đã nghiên cứu về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ
và văn bằng trong cuốn “The credit and degree” (Tín chỉ v văn bằng) Ông khẳng
định rằng có thể tham khảo mô hình Mỹ về đào tạo theo tín chỉ:“Trừ trường hợp ngoại lệ, hiện na mọi chương trình Đ dẫn đến văn bằng ở Mỹ được dựa trên hệ thống tín chỉ…”[5]
Raunger, Row, Piper và West đã chia lịch sử phát triển học chế tín chỉ thành
ba giai đoạn: [107]
- Giai đoạn 1 (1873 - 1908): sự bất mãn ngày càng gia tăng đối với quá trình xét tuyển vào đại học và với những mối quan hệ về học thuật giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học;
- Giai đoạn 2 (1908 - 1910): đề xuất và thực thi một đơn vị đo chuẩn mực cho các môn học thuộc chương trình trung học phổ thông, làm cơ sở cho việc tuyển chọn sinh viên vào các trường đại học, cao đẳng;
- Giai đoạn 3 (1910 đến nay): áp dụng đơn vị giờ tín chỉ Carnegie, sự thịnh hành, phát triển của đơn vị giờ tín chỉ Carnegie và tác động của nó vào chương trình trung học và đại học ở Mỹ
Gerhad (1955) lại chia tiến trình phát triển đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ ra thành hai giai đoạn: [98]
- Giai đoạn 1 (từ những năm 1870 đến những năm 1880): sự xuất hiện của hệ thống tín chỉ ở trung học phổ thông, các trường đại học bắt đầu đo hiệu suất giảng dạy và học tập theo môn học và theo các đơn vị giờ học;
- Giai đoạn 2 (khoảng cuối thế kỉ XIX đến nay): Các trường trung học
và đại học giao đơn vị tín chỉ cho các môn học và xác định những điều kiện tốt nghiệp theo tín chỉ
Nhà nghiên cứu giáo dục người Mỹ Jesica M Shedd cho rằng hệ thống đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ có nguồn gốc từ ba nguyên nhân:
- Nhu cầu cần phải xử lý sự đa dạng và sự gia tăng về số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học ở các trường đại học trong khi vẫn duy trì những tiêu chuẩn về học thuật
Trang 23- Động cơ thay đổi xuất phát ngay trong hệ thống giáo dục đại học Mỹ, thực
sự muốn có một cuộc cải cách về giáo dục đại học với những chương trình chứa đựng những môn học có độ mềm dẻo nhất định để người học có thể chọn chuyên ngành phù hợp, môn học họ thấy cần thiết cho phát triển nghề nghiệp Áp lực từ những tổ chức và cá nhân từ bên ngoài trường đại học: chính phủ, các nhà tài trợ, các nhà sử dụng nguồn lực sinh viên tốt nghiệp, buộc các trường đại học phải có những đơn vị đánh giá chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn cuộc sống Từ phân tích các nguyên nhân làm xuất hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, Jesica M.Shedd bước đầu phân tích mô hình quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ, đó là quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo Jesica M Shedd xác định đây là khâu quyết định chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ [104] Mặc dù vậy, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ: vai trò của giảng viên, tính chủ động tích cực của sinh viên, môi trường đào tạo chưa được nghiên cứu
Các nghiên cứu về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam:
- Nghiên cứu chung về quản lý đ o tạo theo học chế tín chỉ:
Các vấn đề liên quan đến học chế tín chỉ như: Đặc điểm và điều kiện triển khai; Tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của giảng viên và của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ; Vận dụng lý thuyết Quản lý sự thay đổi để chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học, cao đẳng giai đoạn hiện nay được tác giả Đặng Xuân Hải đề cập đến “ Đào tạo theo tín chỉ ở Việt Nam: vấn
đề và thực tiễn triển khai”, “Về tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của sinh viên và giảng viên trong phương thức đ o tạo theo học chế tín chỉ” Ông rất quan tâm đến
vấn đề thực tiễn ở Việt Nam với câu hỏi đặt ra, khi chuyển đổi phương thức đào tạo sang học chế tín chỉ đó sẽ là quản lý sinh viên và đánh giá lao động đối với giảng viên như thế nào Đối với sự đánh giá cụ thể với khái niệm tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong trường đại học, các giải pháp, điều kiện được nêu ra để có thể thực hiện được vấn đề trên [35]
Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 6 (41) 2010 có bài
“Những vấn đề của quản lý đ o tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học” của Lê
Quang Sơn Tác giả đã phân tích thấu đáo cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết
Trang 24phải chuyển đổi mô hình đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ và nhận định:
“Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới với hàng loạt các ưu thế: mềm dẻo, tính chủ động cao của người học, hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học Việc áp dụng học chế tín chỉ vào đào tạo làm nảy sinh một loạt vấn đề quản lý đào tạo liên quan đến toàn bộ các phương diện của quá trình đào tạo Đó là các vấn đề về: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung và chương trình, quản lý hoạt động dạy của giảng viên, quản lý hoạt động học của sinh viên, quản lý cơ sở vật chất, tài chính phục vụ dạy học, quản lý môi trường đào tạo, quản
lý các hoạt động phục vụ đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo” [72]
Nhận diện các vấn đề nêu trên là tiền đề cho những quyết sách đảm bảo sự vận hành chất lượng và hiệu quả phương thức đào tạo mới ở các trường cao đẳng sư phạm vùng Đông Nam Bộ Các nội dung quản lý đào tạo theo tín chỉ ở các trường cao đẳng sư phạm là những nội dung trong quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ đòi hỏi những cách tiếp cận mới, khác biệt với đào tạo theo niên chế hay theo học phần và đơn vị học trình Chúng tôi kế thừa quan điểm tiếp cận này để xây dựng các phương pháp đánh giá thực trạng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở các cơ sở đào tạo giáo viên có đào tạo trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
Sau khi phân tích quy trình và cách thức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
ở trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng, Lê Quang Sơn kết luận: Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới, xây dựng trên nền tảng
tư tưởng hướng vào người học, coi người học là trung tâm của quá trình dạy-học Đây là phương thức đào tạo mềm dẻo, tạo điều kiện cho người học thể hiện tính chủ động rất cao trong quá trình tiếp cận với môn học, tăng cường tính tự chủ, tự học, tự nghiên cứu cũng như chủ động về mặt thời gian và kế hoạch học tập Quy trình đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, việc đánh giá chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, thuận lợi cho người học khi muốn chuyển đổi ngành học, trình độ đào tạo hoặc học liên thông lên cao hơn” [72]
Việc áp dụng học chế tín chỉ vào đào tạo kéo theo sự thay đổi trên toàn bộ các phương diện của đào tạo và ở tất cả các nhân tố liên quan đến đào tạo, đặc biệt
là liên quan đến vấn đề quản lý đào tạo Điều này đòi hỏi từ phía các nhà quản lý
Trang 25những thay đổi căn bản Việc nhận diện các vấn đề của quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học sư phạm là tiền đề cho sự vận hành chất lượng và hiệu quả phương thức đào tạo mới Cùng với các nhà khoa học khác, những luận điểm khoa học mà Lê Quang Sơn đúc kết trên đây có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng tôi xác định hướng đi và triển khai nội dung của đề tài nghiên cứu
Hội thảo khoa học Đổi mới phương pháp đ o tạo theo học chế tín chỉ của
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn được tổ chức vào tháng 3 năm 2011 [24], với mục tiêu nhận diện thực trạng giảng dạy, học tập tại trường sau 2 năm triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ; thúc đẩy việc đổi mới quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở tất cả các khoa, phòng chức năng trong toàn trường Hội thảo có tác động tích cực đến hoạt động dạy và học vì mục đích nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ Các nhà khoa học đã phân tích quy trình và phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ, từ đó đặt ra cho ngành giáo dục những gợi ý quan trọng trong quản lý đào tạo:
Có thể liệt kê nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đào tạo theo tín chỉ như: Các bài của các tác giả Vũ Quốc Phóng, Phạm Thị Ly [68], Cùng nhiều bài viết về những vấn đề liên quan đến phương thức đào tạo theo tín chỉ đã được công
bày các giải pháp chủ yếu, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng cộng tác CVHT trong đào tạo theo HCTC [59]
Trang 26Tác giả Mai Sơn Nam đã nghiên cứu bài “ Cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ” [65] đã đề cập sâu đến việc cần thiết phải xây dựng đội ngũ cố vấn học tập (CVHT); chức danh CVHT; nhiệm vụ CVHT
Nghiên cứu quản lý đ o tạo theo HCTC ở các trường đại học:
- Tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã nghiên cứu: “Quản lý hoạt đ ng học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam” Quản lý đào tạo theo học
chế tín chỉ là sự sống động trong mọi hoạt động học tập của sinh viên theo hướng mở, nâng cao tính tự chủ và chịu trách nhiệm về kết quả và chất lượng học tập, nghiên cứu của từng sinh viên trước bản thân, gia đình và xã hội Tác giả đã phân tích được các nội dung hoạt động học tập và đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên, đã phân
tích được nội hàm của QLHĐ của sinh viên theo học chế tín chỉ; [40]
- Tác giả Trần Văn Chương đã nghiên cứu về “Quản lý đ o tạo tín chỉ của các trường đại học địa phương Việt Nam” [25] Nghiên cứu, hệ thống hóa góp phần làm rõ, bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ vận dụng trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam Nghiên cứu chuyên sâu về đào tạo và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương nhằm phát hiện những hạn chế và nguyên nhân Từ đó tác giả đã đề xuất sáu giải pháp quản lý đào tạo khắc phục hạn chế, đáp ứng yêu cầu
cơ bản của đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phục vụ hiệu quả nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương Luận án đã nghiên cứu sâu về từng giải pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương, nhất là các giải pháp quản lý: Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo; Quản lý quá trình dạy học; Xây dựng đội ngũ giảng viên…
- Tác giả Trần Đức Hiếu đã nghiên cứu “Quản lý đánh giá kết quả học tập trong đ o tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam” [45] đã hệ thống
hóa và mở rộng, làm sâu sắc thêm lý luận về quản lý đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo HTTC; góp phần phát triển lý luận cơ bản về quản lý đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo HTTC ở trường đại học Xác định vai trò và vị trí của đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo HTTC; Luận án đã đánh giá được thực
Trang 27trạng về quản lý đánh giá kết quả học tập của SV tại các trường ĐH hiện nay; chỉ ra những vấn đề cần được đổi mới trong quản lý đánh giá kết quả học tập đáp ứng yêu cầu phương thức đào tạo theo HTTC trong giáo dục đại học; đề xuất được năm biện pháp quản lý góp phần đáp ứng yêu cầu về quản lý đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo phương thức HTTC và phù hợp với thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Cùng với đó, tác giả Cao Thị Châu Thùy nghiên cứu về “Quản lý quá trình
đ o tạo theo tín chỉ ở trường Đại học quốc gia Th nh phố ồ Chí Minh” Luận án
tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lí luận về quá trình đào tạo và quản lí quá trình đào tạo theo tín chỉ theo hướng tiếp cận trách nhiệm, nhiệm vụ của từng chủ thể dựa trên những vị trí công việc đã được phân cấp, phân nhiệm; Luận án “phản ánh” chính xác, khách quan thực trạng thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ của các chủ thể liên quan trực tiếp, gián tiếp trong hoạt động quản lí quá trình đào tạo theo tín chỉ; Khung tham chiếu được đề xuất trong Luận án là công cụ quản lí và đánh giá công việc của các chủ thể liên quan trực tiếp, gián tiếp đến quản lí quá trình đào tạo theo tín chỉ; Luận án đưa ra các giải pháp để giải quyết các hạn chế trong hoạt động quản
lí quá trình đào tạo ở các trường ĐH thuộc ĐHQG - TPHCM [82]
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Mai Hương “Quản lý quá trình dạy và học theo CTC trong các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện na ”[50] Kết quả
nghiên cứu cho thấy việc vận dụng đồng bộ và triệt để các giải pháp quản lý quá trình dạy học thích ứng với HCTC ở đại học sẽ tháo gỡ được các rào cản và tăng thêm động lực trong quá trình chuyển đổi sang HCTC, góp phần thành công phương thức đào tạo theo HCTC trong các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận án Tiến sỹ của tác giả Bùi Thị Thu Hương [49] về “Quản lý chất lượng chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận
về quản lý chất lượng chương trình đào tạo và đề xuất một số biện pháp cụ thể
Nghiên cứu về quản lý đ o tạo theo HCTC ở trường cao đẳng:
Trang 28- Tác giả Vũ Thị Hòa đã nghiên cứu luận án “Quản lý đ o tạo theo học chế tín chỉ trong các trường cao đẳng ở Việt Nam” Luận án đã tổng hợp và hệ thống
hóa lý luận về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ, xây dựng khung lý thuyết về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ Luận án đánh giá thực trạng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường cao đẳng ở Việt Nam Xây dựng hệ thống các giải pháp quản lý đào tạo thích ứng với đặc điểm của học chế tín chỉ và có khả năng ứng dụng trong thực tiễn nhằm giúp các trường cao đẳng ở Việt Nam triển khai quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ có hiệu quả, tiến tới chuyển đổi thành công từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ [46]
- Tác giả Hồ Cảnh Hạnh đã nghiên cứu “Quản lý đào tạo giáo viên đáp ứng
nhu cầu giáo dục trung học cơ sở vùng Đông Nam Bộ” [41] đã nghiên cứu, hệ
thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn một cách đây đủ về quản lý đào tạo sẽ đề xuất được quy trình quản lý đào tạo giáo viên THCS hợp lý, đồng thời đề xuất được các giải pháp quản lý đào tạo đáp ứng nhu giáo dục THCS vùng Đông Nam Bộ
- Tác giả Đặng Lộc Thọ cũng đã nghiên cứu về “Quản lí hoạt đ ng đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Trung ương theo êu cầu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam” Tác giả đã làm rõ một số khái niệm, một
số nội dung và thuật ngữ về QL hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV các trường CĐSP; hệ thống hóa, lý giải có tính định hướng lý luận về quan điểm, nội dung, phương pháp và qui trình hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV và QL hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV theo chức năng; về thực tiễn đánh giá những hạn chế, bất cập trong công tác QL hoạt động đánh giá kết quả học tập của
SV ở các trường CĐSP Trung ương về quan điểm, nội dung, phương pháp đánh giá
và quản lí đánh giá, chỉ ra những yêu cầu đổi mới và các yếu tố ảnh hưởng đến QL hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu lực QL hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV ở các trường CĐSP Trung ương để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học” [31]
- Tác giả Nguyễn Văn Thu, “M t số biện pháp nâng cao chất lượng đ o tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường CĐSP Thừa Thiên - Huế”, đã xây dựng các biện
Trang 29pháp: xây dựng và kiện toàn cơ chế quản lý đào tạo; xây dựng cơ sở vật chất; xây dựng đội ngũ giảng viên, cố vấn học tập; ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin…Tuy nhiên, trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên-Huế vẫn gặp phải vướng mắc, bất cập cần được tiếp tục tháo gỡ như thủ tục hành chính phức tạp, cơ chế quản lý đào tạo chưa bắt kịp tiến trình phát triển của nhà trường và điều kiện xã hội… tác giả đã đề xuất các biện pháp: thiết lập mối quan hệ phối hợp các trường đại học, cao đẳng trong khu vực để xây dựng chương trình; đổi mới công tác quản
lý cán bộ, tổ chuyên môn…[77]
- Tác giả Lê Thị Hương Quê, trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An có bài viết
“Đ o tạo theo hệ thống tín chỉ bài toán khó giải cho các trường cao đẳng, đại học địa phương” [71] đã nghiên cứu về tín chỉ, những ưu điểm về tín chỉ, bài toán khó
giải với các trường cao đẳng, đại học địa phương khi áp đào tạo theo hệ thống tín chỉ; khó khăn của các trường cao đẳng, đại học địa phương khi áp dụng HTTC, về phía nhà trường: thiếu cơ sở vật chất, phòng ốc, chỉ tiêu đào tạo có hạn, lớp học không theo lớp cố định; về phía giáo viên: chưa có phương pháp dạy học tích cực tạo tình huống cho sinh viên, chưa phát huy tính tích cực của SV, lượng kiến thức lớn nhưng chưa đi vào trọng tâm bài giảng, nhiều giảng viên chưa nhận thức đúng
về dạy học HTTC và ngại thay đổi, chưa tìm tòi phương pháp dạy học mới; về phía sinh viên: Chưa có phương pháp tự học, thiếu tính tích cực, lớp học đông người khó tập trung cao, khó khăn tìm tài liệu tham khảo; đưa ra các biện pháp về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, về sinh viên
1.1.3 Đánh giá chung
Những công trình nghiên cứu nêu trên để chú ý đến vấn đề đào tạo, quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ và định hướng chỉ đạo triển khai đào tạo và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ, mà trọng tâm “tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo”
Cùng với sự phát triển công nghệ lần thứ tư, con người trong thế kỷ mới không ngừng trao đổi kinh nghiệm của mình vào quá trình phát triển thế giới Mỗi kinh nghiệm cá nhân, mỗi một thành tựu khoa học, mỗi một khám phá mới về kiến thức thông qua các nghiên cứu đều có xuất phát điểm là kinh nghiệm của nhiều thế
Trang 30hệ và cá nhân đi trước đặt nền tảng cho các bước kế tiếp sau này, mà cụ thể là thông qua các chương trình học ở cấp độ khác nhau trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua chương trình học được sắp xếp có hệ thống Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi sinh viên có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy các nhà khoa học, giáo dục, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là “hệ thống chuyển đổi tín chỉ” được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới
Khi tìm hiểu các nghiên cứu về học chế tín chỉ nói chung và dạy học phù hợp với yêu cầu của học chế tín chỉ cũng như các yêu cầu về điều kiện để triển khai thành công học chế đó, chúng tôi nhận thấy rằng ở Việt Nam hiện nay không có nhiều các cuốn sách nghiên cứu cơ sở lý luận về phương thức đào tạo theo tín chỉ và cách thức quản lý đào tạo này Hệ thống tín chỉ của một số nước và các bài học kinh nghiệm chủ yếu được các tác giả trong nước tìm hiểu và phân tích riêng lẻ hoặc biên dịch từ tài liệu nước ngoài
Tổng quan nghiên cứu quản lý đào tạo theo HCTC như trình bày ở trên, có thể thấy trong quá trình đào tạo theo HCTC trên thế giới và Việt Nam đến nay, đã
có nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, bài học kinh nghiệm…đã công bố ở các Tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu Hội thảo khoa học, các trang website, các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ và tài liệu nghiên cứu về HCTC Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ trình bày khái quát thực trạng đào tạo theo HCTC của hệ thống giáo dục đại học, của từng trường ĐH, cao đẳng, cao đẳng
sư phạm đề xuất giải pháp quản lý ở một số lĩnh vực của QLĐT theo HCTC, chưa
có công trình nghiên cứu sâu và toàn diện về quản lý đào tạo theo HCTC của các cơ
sở đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ.Bởi vậy, việc đi sâu nghiên cứu công tác quản lý đào tạo theo HCTC để có cơ sở xây dựng các giải pháp quản lý đào tạo phù hợp và đồng bộ đáp ứng yêu cầu cơ bản của quản lý đào tạo
Trang 31theo HCTC của các cơ sở đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng vùng Đông Nam Bộ
1.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2.1 Khái niệm đ o tạo, học chế tín chỉ v đ o tạo theo học chế tín chỉ
1.2.1.1 Khái niệm đào tạo
Đ o tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó
lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn
minh của loài người [86]
Đ o tạo đại học, cao đẳng là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, có
năng lực tư duy, có khả năng sáng tạo Trong hoạt động đào tạo cần triển khai đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, xây dựng danh mục ngành nghề đào tạo, hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng đào tạo đại học, tiến tới hội nhập với cộng đồng giáo dục đại học của các nước trong khu vực và trên thế giới [84]
Đ o tạo sư phạm là công tác nghiệp vụ của các trường sư phạm nhằm đào
tạo về nghề dạy học cho giáo sinh Nội dung đào tạo sư phạm thường có lý luận chung về khoa học giáo dục, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm, giảng dạy và nghệ thuật sư phạm, lý luận giáo dục chuyên ngành và bộ môn, nhân cách người giáo viên và những kỹ năng, kỹ xảo sư phạm chung và riêng biệt
1.2.1.2 Học chế tín chỉ (hệ thống tín chỉ)
Học chế tín chỉ là một cách miêu tả tính chất hệ thống một chương trình giáo dục bằng cách gắn đơn vị tín chỉ vào các thành tố, bộ phận của chương trình Tín chỉ trong giáo dục Hoa Kỳ dựa trên số giờ lên lớp của sinh viên và điểm số mà sinh viên đạt được trong môn học ấy Cary J Trexler cho rằng hệ thống tín chỉ trong các trường đại học Hoa Kỳ đòi hỏi phải hoàn thành thường là 120 TC trong vòng 4 năm
để có một bằng đại học Điều này tương đương với 15 TC mỗi học kỳ Tín chỉ phản ánh toàn bộ khối lượng công việc, cả trong và ngoài lớp học Một bài giảng tiêu biểu là 3 TC, trong đó 3 giờ lên lớp mỗi tuần (thường 3 lần/tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9 giờ làm việc ngoài lớp học (1 giờ trong lớp đòi hỏi phải 2-3 giờ
Trang 32chuẩn bị và tự học bên ngoài lớp học) Như vậy tổng khối lượng công việc của 1 TC
là 3-4 giờ (kết hợp cả giờ lên lớp và cả ngoài lớp) [19]
Vậy, hệ thống tín chỉ là các liệt kê: (1) Số tín chỉ được quy định cho mỗi môn học, cụ thể số giờ lên lớp học lý thuyết, thực hành cho mỗi môn học trong một tuần kéo dài suốt một học kỳ; (2) Số tín chỉ tích lũy để đạt một văn bằng; (3) Số lượng các môn học và phương thức tổ hợp các môn học để tích lũy số tín chỉ cần cho một văn bằng
Hệ thống tín chỉ cung cấp cho nhà quản lý một công cụ để phân tích hoạt động của nhà trường Nhà trường dùng đơn vị giờ tín chỉ để xây dựng các mức học phí, phân bổ nguồn lực về cơ sở vật chất và con người, phân tích năng suất của từng
cá nhân giảng viên, của khoa Đồng thời, HTTC cung cấp một thước đo cho năng suất lao động của 1 giảng viên Hệ thống tín chỉ thực hiện nội dung đào tạo linh hoạt Sinh viên được quyền thay đổi ngành học, chương trình học, chuyển từ trường này sang trường khác thông qua hệ thống chuyển đổi tín chỉ Sinh viên có thể tự đo lường được tiến độ học tập của mình
- Tín chỉ (credit)
Tín chỉ là đơn vị quy ước mà trường đại học dùng để đo khối lượng học tập
Số tín chỉ của một môn học là số giờ lên lớp của một môn trong tuần cho một học
kỳ [102]
Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ phần thời gian bắt buộc của một sinh viên bình thường để học một giáo trình cụ thể Thời gian toàn phần gồm 3 thành tố: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian trong phòng thí nghiệm, Studio, thực tập hoặc các công việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết các vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài [5]
Ở Việt Nam tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định 15 tiết lý thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45- 60 giờ tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm,
để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp
Trang 33với đặc điểm của trường [9]
Theo từ điển Giáo dục học: “Tín chỉ là đơn vị nội dung trong chương trình môn học bao gồm một khối lượng kiến thức và kĩ năng tương đối gắn kết với nhau
về chủ điểm cần được sinh viên hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định tương ứng (khoảng 15 tiết) và được kiểm tra đánh giá kết quả Mỗi môn học được chia thành nhiều học phần có tối thiểu từ 2 tín chỉ trở lên Sinh viên phải học và có điểm kiểm tra tất cả các tín chỉ quy định mới được coi là hoàn thành chương trình
bộ môn Cách tổ chức dạy học theo từng tín chỉ của học phần trong mỗi môn học tạo thuận lợi cho sinh viên phát huy hết năng lực học tập của mình vì được tự do lựa chọn và cơ động thực hiện những tín chỉ phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh của riêng mình” [44]
Theo Hoàng Văn Vân “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức,
kỹ năng một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) Học tập trên lớp; (2) Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập, hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn” [90]
Như vậy, tín chỉ được tính qua số giờ làm việc thực sự của người học, bao gồm cả số tiết lên lớp (nghe giảng, thực nghiệm) và số giờ ngoài lớp (thực tập, tự học, tự nghiên cứu, chuẩn bị đồ án, ) 1 tín chỉ được quy định bằng 45 giờ làm việc của người học Khái niệm tín chỉ có 2 ý nghĩa: (1) là đơn vị để đo khối lượng của các học phần; (2) Xác định khối lượng lao động học tập của người học Tín chỉ là đơn vị đo khối lượng lao động trung bình của người học, gồm: thời gian học tập trên lớp; thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành hoặc thực hiện các công việc khác có liên quan đến học tập được quy định trong đề cương môn học; Thời gian tự học ngoài giờ lên lớp, chuẩn bị bài, tìm tài liệu
Định nghĩa tín chỉ trên mới chỉ đo năng lực học tập của người học thông qua thời lượng và theo số lượng tín chỉ được tích lũy, nó chưa được đo được các mục tiêu hay chất lượng đầu ra của quá trình học tập Tuy nhiên, người học được cấp bằng không phải chỉ phụ thuộc vào tín chỉ mà họ tích lũy đủ mà còn phụ thuộc vào
Trang 34điểm trung bình chung quy định cho từng học kỳ, từng kiểu văn bằng (cử nhân cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ ) Những quy định này phần lớn do trường đào tạo quyết định
- Đơn vị tín chỉ (credit unit): “Đơn vị TC có nghĩa tương tự như thuật ngữ giờ TC Một hình thức tiêu chuẩn hóa việc tính đếm thời gian của khóa học.[19]
Trong quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ quy định: “(a) 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường; (b) 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu; (c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ” Quy định về đăng ký khối lượng học tập tối đa đối với sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu:
“Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối
lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ” [9]
Như vậy, sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng được công nhận khi tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo với “khối lượng mỗi chương trình không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm; 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm; 120 tín chỉ đối với khóa đào tạo 4 năm ; 90 tín chỉ đối với khóa đào
tạo cao đẳng 3 năm; 60 tín chỉ đối với khóa đào tạo cao đẳng 2 năm” [14]
- Giờ tín chỉ (credit-hour)
Theo James Quann cho rằng: “Các định nghĩa ban đầu về giờ tín chỉ đã cung cấp một công thức đơn giản để xác định số giờ mà một sinh viên dành cho lên lớp trong suốt một học kỳ 2 quí Chẳng hạn trong kế hoạch một học kỳ 2 quí, một tiến trình dạy 50 phút/tuần trong suốt 16 tuần (thường 15 tuần học và 1 tuần thi) được ấn định là một giờ tín chỉ của học kỳ 2 quí [5]
Theo O.Regel,”Một tín chỉ thông thường là 50 phút trên lớp tính trong 1 tuần
và kéo dài 1 học kỳ”.[102]
Trong Quyết định số 43 quy định về đào tạo theo HCTC, “một tiết học được tính bằng 50 phút” Vậy, giờ tín chỉ là 50 phút và gọi là 1 tiết học Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng quy định số tiết, số giờ đối với từng môn học cho phù hợp với thực tế nhà trường [9]
Trang 351.2.1.3 Đ o tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo cho phép sinh viên đạt được văn bằng hoặc chứng chỉ sau khi đã tích luỹ đủ hệ thống môn học (được đo bằng số tín chỉ) theo trình tự quy định của chương trình đào tạo đối với các văn bằng, chứng chỉ
đó [35]
Đào tạo theo tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức của sinh viên, sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp
bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, được ra trường, tín chỉ (Credit), giờ tín chỉ và
hình thức tổ chức giờ tín chỉ Sinh viên không hoàn thành nội dung của một môn học/học phần nào đó thì chỉ phải học lại chính học phần/môn học đó
1.2.2 Đặc trưng v các hệ thống tín chỉ đang sử dụng hiện nay
1.2.2.1 Các đặc trưng của đ o tạo theo học chế tín chỉ
Đặc trưng của học chế tín chỉ là kiến thức được cấu trúc thành các học phần Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần (đơn vị: tín chỉ); khác với học niên chế là lớp học được tổ chức theo một chương trình chung
áp dụng thống nhất cho tất cả người học Khi tổ chức giảng dạy theo tín chỉ, lớp học được tổ chức theo từng học phần; đầu mỗi học kỳ, sinh viên (SV) được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một ngành chuyên môn chính nào đó Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, SV có thể ghi tên học các môn liên ngành nếu họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn khác lĩnh vực, chẳng hạn SV các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần học một ít môn khoa học xã hội và nhân văn và ngược lại Về cách đánh giá kết quả học tập sẽ không tổ chức bằng một kỳ thi như hiện nay mà HCTC dùng cách đánh giá thường xuyên.Dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích lũy
để cấp bằng cử nhân Đối với các chương trình đào tạo sau đại học (cao học và đào tạo tiến sĩ) ngoài các kết quả đánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và các luận văn [53]
Trang 361.2.2.2 Các hệ thống tín chỉ đang được sử dụng hiện nay
Trong quá trình phát triển giáo dục- đào tạo trên thế giới, người ta nhận thấy rằng có một số mô hình tiêu biểu trong việc tổ chức quá trình đào tạo: Mô hình tổ chức quá trình đào tạo theo niên chế (mô hình Châu Âu cổ điển) và mô hình tổ chức quá trình đào tạo theo tín chỉ (mô hình Bắc Mỹ)
Có hai hệ thống tín chỉ được sử dụng tương đối rộng rãi hiện nay Đó là hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ (the United States Credit System -USCS), được thực hiện
từ những năm đầu tiên của thế kỷ 20 và hệ thống chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu (the European Credit Transfer System - ECTS) được xây dựng từ những năm giữa của thập kỷ 80 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong khuôn khổ các nước thành viên
EU từ năm 1997 ECTS là hệ thống phát triển rộng rãi nhất và được sử dụng cả ở các nước không thuộc Hiệp hội Châu Âu Các nước này sử dụng mô hình ECTS như là bước đầu trong việc xây dựng và phát triển các hệ thống tín chỉ quốc gia và dùng chúng để so sánh với ECTS cũng như để sinh viên có thể chuyển sang học ở các nước sử dụng hệ thống này
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ tạo cho giáo dục đại học và sinh viên nhiều tiện ích: nó giúp cho việc đánh giá kết quả học tập được dễ dàng hơn trong thời gian chuyển đổi và góp phần vào việc phát triển các chương trình trao đổi giữa các khoa trong cùng đơn vị trong trường và khác trường cũng như các chương trình trao đổi sinh viên giữa các nước khác nhau trên thế giới
Một chương trình đào tạo sử dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ ở Châu Âu Trong khuôn khổ một trường đại học, các tín chỉ được phân bổ theo hai nguyên tắc Nguyên tắc thứ nhất do một đơn vị của trường (trong ví dụ này là Phòng nghiên cứu khoa học và thiết kế các Chương trình giáo dục chuyên ngành đưa ra Nguyên tắc thứ hai được xây dựng trên cơ sở chính là của ECTS sau khi đã được thay đổi một
số thành phần cho phù hợp với chương trình đào tạo của nhà Trường Hệ thống tín chỉ của nhà trường hoàn toàn có thể chuyển đổi được với ECTS và được xây dựng trên cơ sở nền tảng sau đây: quá trình tính toán các tín chỉ là theo hai tiêu chí chính: khối lượng các giờ cần thiết để hoàn thành một môn học và trọng lượng của môn
Trang 37học đó trong một chuyên ngành cụ thể Cần chú ý là hệ thống này đòi hỏi các tín chỉ
bổ sung, hoặc các tín chỉ thưởng cho các sinh viên có thành tích học tập xuất sắc Điều này có nghĩa là bất cứ sinh viên nào thể hiện được sự nổi trội vượt bậc cũng có thể được ghi nhận thành tích đó vào trong bằng tốt nghiệp của mình Đôi khi cũng
có trường hợp một sinh viên có được các điểm tốt và xuất sắc trong một môn học nào đó thì số điểm sẽ được cộng thêm 0,25 hoặc 0,5 Tất cả những điều này đều được qui định rõ trong mỗi đầu khóa học.[27]
1.2.3 So sánh Đ o tạo theo niên chế v đ o tạo theo học chế tín chỉ [43]
Đào tạo theo niên chế Đào tạo theo tín chỉ
sâu
Hướng đến 4 trụ cột giáo dục của UNESCO đề ra năm 1996 (Học để biết, Học để làm, Học cách chung sống, Học làm người)
Mục tiêu đào tạo
Đào tạo ra nguồn nhân lực có trình
Tuyển sinh đầu vào
Tuyển sinh vào đầu mỗi NH Có thể tuyển sinh theo học kỳ
SV khó được chuyển ngành, chuyển
trường
SV được chuyển ngành, chuyển trường trên cơ sở các ngành/trường đáp ứng các yêu cầu về liên thông
Chương trình đào tạo
Căn cứ chủ yếu về thời gian để xây
dựng chương trình: Thời gian SV
có thể tham gia học tập trong 1 học
kỳ/ năm học
Căn cứ về thời gian để xây dựng chương trình: Khối lượng làm việc của sinh viên trong 1 học kỳ/năm học
Thời gian học tập của SV được xác
định bằng thời lượng SV phải lên
học và theo mục tiêu đào tạo của
Được thiết kế theo cấu trúc mô đun và đáp ứng khả năng liên thông, lắp ghép giữa các ngành
Trang 38ngành
Được thiết kế để cho cùng một đầu
ra
Được thiết kế để có thể có hơn 1 đầu ra
Tổ chức đào tạo theo năm học: mỗi
SV phải hoàn thành khối lượng học
- SV năm II: từ 30 đến dưới 60 TC
- SV năm III: từ 60 đến dưới 90 TC
Các môn học cơ bản được xây
dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu
của ngành đào tạo
Các môn học cơ bản được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu của nhóm ngành đào tạo
Không có môn học tự chọn Có các môn học tự chọn: môn tự chọn chính, môn
tự chọn tự do, môn dự thính, Các môn học được xây dựng chủ
yếu dựa trên năng lực của đội ngũ
giảng viên
Các môn học được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu xã hội và thị trường lao động
Tổ chức đào tạo
Mọi lịch học, lịch thi được phòng
Đào tạo chuẩn bị sẵn Các lớp sinh
viên được biên chế cố định ngay từ
ngày nhập trường và ít khi có sự
biến động Sinh viên chấp hành tốt
các lịch học, lịch thi, các quy định,
quy chế của nhà trường, tích cực
học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết
quả tốt Tổ chức đào tạo theo niên
chế tương đối thuận lợi, kế hoạch
đào tạo, lịch giảng, lịch thi có thể
làm ngay từ đầu năm học và ít khi
có sự biến động
Sinh viên phải tự đăng ký lịch học, sinh viên không đăng ký sẽ không có lịch học Để làm được việc đó sinh viên phải nghiên cứu kỹ quyển niên giám, sổ tay sinh viên, chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học song hành, kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức giáo dục chuyên nghiệp… để có thể có được đăng ký lịch học cho từng học kỳ cho phù hợp Sinh viên phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự
Có thể được đăng ký học thêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề sau này Trong thời gian học chính khóa có thể học thêm
Phương pháp giảng dạy
Ít nhấn mạnh đến vai trò trung tâm
của người học
Lấy người học làm trung tâm hoặc lấy sự học làm trung tâm
GV sử dụng các PPGD sao cho SV
chủ yếu làm việc tại lớp (vì SV
không có nhiều thời gian tự học)
GV sử dụng các PPGD sao cho SV phải sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp để tự học, tự nghiên cứu, làm việc nhóm
Trang 39Phương pháp học tập
SV không cần đăng ký kế hoạch
học tập, không cần quan tâm lựa
chọn môn học và xây dựng tiến độ
học tập riêng
SV cần đăng ký kế hoạch học tập cho từng HK, phải biết lựa chọn môn học và tiến độ học tập sao cho phù hợp với sở thích, năng lực và hoàn cảnh riêng
SV cần lên lớp đầy đủ hoặc đạt tỷ
lệ lên lớp tối thiểu
SV cần thõa mãn yêu cầu lên lớp (tính chuyên cần) đối với mỗi môn học
SV chủ yếu hoàn thành các nhiệm
vụ học tập cá nhân được GV giao
SV cần tự học, tự nghiên cứu, làm việc nhóm nhiều hơn ngoài thời gian lên lớp (1 TC cần khoảng 30 tiết tự học)
Không đặt nặng yêu cầu SV đọc tài
liệu trước khi đến lớp
SV cần đọc tài liệu trước khi đến lớp (vì GV không giảng giải cặn kẽ tất cả nội dung)
Ít đặt nặng yêu cầu về các KN mềm SV phải đạt được các kỹ năng mềm
SV tuân thủ lịch học và thi chung SV thực hiện lịch học và thi của cá nhân
Chương trình học là như nhau đối
với tất cả SV, không có sự lựa chọn
môn học
Mỗi SV có thể chọn lựa môn học thích hợp với sở thích, khả năng trong số các môn học tự chọn
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập được đánh giá theo
NH Nếu SV nào không đạt yêu cầu
học tập đối với một năm học thì có
thể phải học lại năm học đó (lưu
ban)
Kết quả học tập được đánh giá theo tổng số TC đã tích lũy SV bị buộc thôi học nếu không đạt được điểm trung bình chung tích lũy nào đó sau một giai đoạn nhất định
SV phải thi đạt tất cả các môn học
qui định
SV cần đạt đủ số TC và điểm trung bình chung tích lũy qui định theo từng năm và cả khóa
Sử dụng thang điểm 10 (hoặc 100)
và đề cao cách tính điểm tuyệt đối
Sử dụng thang điểm 4 kết hợp thang điểm chữ, cho phép cách tính điểm tương đối
Xem trọng các kỳ thi hết môn
(chiếm 70-100% điểm môn học)
Xem trọng đánh giá quá trình (chiếm cỡ 50% điểm môn học)
Tính liên thông trong đào tạo
Các môn học, bậc học trong phạm
vi một ngành học có tính liên thông
Các môn học, bậc học trong phạm vi một trường
có tính liên thông, hướng đến liên thông với các trường khác
Trang 40- Các ưu điểm của học chế tín chỉ:
Học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi nhờ có nhiều ưu điểm Có thể tóm tắt các ưu điểm cơ bản như sau:
+ Hiệu quả đ o tạo cao:
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích lũy kiến thức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, SV được chủ động thiết
kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích lũy được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích SV từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học một cách thuận lợi Về phương diện này có thể nói học chế TC là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa (elitist) thành nền đại học mang tính đại chúng (mass)
+ Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao:
Học chế tín chỉ, sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành học, chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu
Đối với học chế TC, các trường đại học, cao đẳng có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên
Học chế TC cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường, đổi ngành đào tạo
+ Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá th nh đ o tạo:
Học chế tín chỉ, kết quả học tập của SV được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá