1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án nghiên cứu nội dung môn giáo dục thể chất cho sinh viên trường đại học văn hóa thể thao và du lịch thanh hóa

297 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án nghiên cứu nội dung môn giáo dục thể chất cho sinh viên trường đại học văn hóa thể thao và du lịch Thanh Hóa
Trường học Trường Đại học Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Chuyên ngành Giáo dục thể chất
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 297
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục ký hiệu viết tắt Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án 1.2 Vị trí và vai trò của Giáo dục thể chất trong sự nghiệp Công nghiệp hóa –

Trang 1

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục ký hiệu viết tắt

Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án

1.2 Vị trí và vai trò của Giáo dục thể chất trong sự nghiệp

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

8

1.2.3 Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và cách thức tổ chức Giáo

dục thể chất

16

1.3 Vị trí, sứ mạng, đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại

học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

23

1.3.1 Vị trí, sứ mạng của Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Thanh Hóa

23

1.3.2 Đặc thù nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Văn hóa

Thể thao và Du lịch hanh Hóa đối với môn Giáo dục thể

chất

24

1.4 Cơ sở tiếp cận nội dung môn Giáo dục thể chất 26

1.4.2 Các cách tiếp cận trong việc xây dựng chương trình giáo dục 31

1.5 Đặc điểm tâm sinh lý và tố chất phát triển thể lực của

sinh viên

41

Trang 2

44

Chương 2: Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên

cứu

55

3.1.1 Thực trạng chương trình nội khóa môn Giáo dục thể chất

tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh

Hóa

68

Trang 3

của trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh

Hóa

3.1.3 Thực trạng về nhu cầu, thái độ, động cơ tập và các yếu tố

ảnh hưởng tới hiệu quả công tác Giáo dục thể chất của sinh

viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh

Hóa

82

3.1.4 Thực trạng kết quả học tập và thể lực của sinh viên Đại học

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thông qua kết

quả học tập môn Giáo dục thể chất

87

3.1.5 Thực trạng nội dung một số chương trình Giáo dục thể chất

trong và ngoài nước

93

3.2 Nghiên cứu nội dung môn Giáo dục thể chất cho sinh

viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Thanh Hóa

99

3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn nội dung giảng dạy môn Giáo dục thể

chất cho sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du

lịch Thanh Hóa

99

3.2.2 Tổng hợp nội dung môn Giáo dục thể chất cho sinh viên

trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

104

3.2.3 Đánh giá nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn 114

3.2.4 Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả nội dung môn Giáo dục

Các công trình khoa học đã công bố

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

3.1 Thực trạng nội dung môn Giáo dục thể chất trường Đại

học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

76

3.2 Thực trạng chế độ, chính sách của giáo viên thể dục tại

trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

77

3.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên thể dục tại trường Đại học

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

79

3.4 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ phục

vụ cho công tác Giáo dục thể chất của trường Đại học

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

80

3.5 Nhu cầu tập luyện thể thao của sinh viên trường Đại học

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

(n = 485)

82

3.6 Thái độ của sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Thanh Hóa về hoạt động Thể dục thể thao

(n= 485)

83

3.7 Động cơ tập luyện thể thao của sinh viên trường Đại học

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

(n = 485)

84

3.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác Giáo dục thể

chất tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Thanh Hóa (n = 20)

Sau Trang 86

3.9 Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên K1, K2 và K3

năm học 2014 – 2015 trường Đại học Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Thanh Hóa

Sau trang 87

3.10 Kết quả kiểm tra thể lực của 3 khóa học theo tiêu chuẩn

rèn luyện thân thể của sinh viên trường Đại học Văn hoá,

Thể thao và Du lịch Thanh Hoá

90

3.11 So sánh mức độ phát triển thể chất 3 năm học theo tiêu Sau

Trang 6

3.12 Phân phối thời lượng giảng dạy của môn Giáo dục thể

chất Đại học Giao thông Thượng Hải

94

3.13 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Thể dục giai đoạn 1,

cụ thể học phần 1 học phần bắt buộc (n = 20)

Sau trang 103 3.14 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Điền kinh giai đoạn 1,

cụ thể học phần 2 học phần bắt buộc (n = 20)

Sau trang 103 3.15 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Bóng đá giai đoạn 2,

học phần tự chọn (n = 20)

Sau trang 103 3.16 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Aerobic giai đoạn 2,

học phần tự chọn (n = 20)

Sau trang 103 3.17 Lựa chọn nội dung kiến thức môn khiêu vũ Thể thao giai

đoạn 2, học phần tự chọn (n = 20)

Sau trang 102 3.18 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Cầu lông giai đoạn 2,

học phần tự chọn (n = 20)

Sau trang 103 3.19 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Bóng chuyền giai

đoạn 2, học phần tự chọn (n = 20)

Sau trang 103 3.20 Lựa chọn nội dung kiến thức môn Bóng rổ giai đoạn 2,

học phần tự chọn (n = 20)

Sau trang 103 3.21 Nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn của trường

Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Sau trang 106 3.22 So sánh nội dung môn Giáo dục thể chất hiện hành và

nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn

Sau trang 111 3.23 Tổng hợp ý kiến lựa chọn nội dung môn Giáo dục thể

chất của giảng viên, chuyên gia, nhà quản lý về lĩnh vực

Thể dục thể thao trước thực nghiệm (n = 20)

Sau trang 117

3.24 Tổng hợp ý kiến lựa chọn nội dung môn học Giáo dục

thể chất của sinh viên trước thực nghiệm (n = 60)

Sau trang 117 3.25 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực của 2 nhóm thực Sau

Trang 7

3.26 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực của 2 nhóm thực

nghiệm và đối chứng môn Thể dục sau thực nghiệm lần

1 học kỳ I năm học 2015-2016

Sau trang 119

3.27 So sánh nhịp độ tăng trưởng của 2 nhóm thực nghiệm và

đối chứng sau thực nghiệm môn Thể dục

Sau trang 119 3.28 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực của 2 nhóm thực

nghiệm và đối chứng môn Điền kinh trước thực nghiệm

lần 1 học kỳ I năm học 2015-2016

Sau trang 119

3.29 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực của 2 nhóm thực

nghiệm và đối chứng môn Điền kinh sau thực nghiệm

lần 1 học kỳ I năm học 2015-2016

Sau trang 119

3.30 So sánh nhịp độ tăng trưởng của 2 nhóm thực nghiệm và

đối chứng sau thực nghiệm môn Điền kinh

Sau trang 119 3.31 Tổng hợp kết quả học tập của sinh viên nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm lần 1 học

phần bắt buộc môn Thể dục học phần I, Điền kinh học

phần II (nTN = 50; nĐC = 50)

Sau trang 119

3.32 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực cuả lớp Bóng đá

trước và sau thực nghiệm lần 2 (n = 25) học kỳ II năm

học 2015-2016

Sau trang 123

3.33 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực cuả lớp Bóng

chuyền trước và sau thực nghiệm lần 2 (n = 25) học kỳ II

năm học 2015-2016

Sau trang 123

3.34 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực cuả lớp Bóng rổ

trước và sau thực nghiệm lần 2 (n = 25) học kỳ II năm

học 2015-2016

Sau trang 123

3.35 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực cuả lớp Cầu lông

trước và sau thực nghiệm lần 2 (n = 25) học kỳ II năm

Sau trang 123

Trang 8

trước và sau thực nghiệm lần 2 (n = 25) học kỳ II năm

học 2015-2016

trang 123

3.37 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu thể lực cuả lớp Khiêu vũ

Thể thao trước và sau thực nghiệm lần 2 (n = 25) học kỳ

II năm học 2015-2016

Sau trang 123

3.38 Tổng hợp kết quả học tập của sinh viên sau thực nghiệm

phần tự chọn học phần II môn Bóng đá, Bóng chuyền,

Bóng rổ, Cầu lông, Aerobic, khiêu vũ Thể thao

Sau trang 123

3.39 Tổng hợp kết quả đánh giá của sinh viên trường Đại học

Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa) sau khi kết

thúc học tập nội dung môn học Giáo dục thể chất đã lựa

chọn (n = 150)

Sau trang 126

3.40 Tổng hợp đánh giá về nội dung và kết quả đào tạo của

tập thể giảng viên khoa Thể dục thể thao trực tiếp dạy

môn Giáo dục thể chất tại trường Đại học Văn hóa, Thể

thao và Du lịch Thanh Hóa (n = 8)

Sau trang 127

3.41 Tổng hợp đánh giá nội dung môn học và kết quả đào tạo,

của các nhà quản lý, các chuyên gia Thể dục thể thao về

nội dung môn Giáo dục thể chất đã xây dựng

Trang 9

3.1 Kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên

K1, K2, K3 năm học 2014 - 2015 trường Đại học Văn

hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

88

3.2 Nhịp tăng trưởng thể lực của nam nhóm thực nghiệm

và đối chứng sau thực nghiệm môn Thể dục

Sau trang 119 3.3 Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ nhóm thực nghiệm và

đối chứng sau nghiệm môn Thể dục

Sau trang 119 3.4 Nhịp tăng trưởng thể lực của nam nhóm thực nghiệm

và đối chứng sau thực nghiệm môn Điền kinh

Sau trang 119 3.5 Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ nhóm thực nghiệm và

đối chứng sau nghiệm môn Điền kinh

Sau trang 119 3.6 Tổng hợp kết quả học tập lý thuyết của sinh viên nhóm

thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm phần

bắt buộc môn Thể dục học phần I (nTN = 25; nĐC = 25)

Sau trang 119

3.7 Tổng hợp kết quả học tập thực hành của sinh viên

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

phần bắt buộc môn Thể dục học phần I (nTN = 25; nĐC =

25)

Sau trang 119

3.8 Tổng hợp kết quả học tập lý thuyết của sinh viên nhóm

thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm phần

bắt buộc môn Điền kinh học phần I (nTN = 25; nĐC = 25)

Sau trang 119

3.9 Tổng hợp kết quả học tập thực hành của sinh viên

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

phần bắt buộc môn Điền kinh học phần I (nTN = 25; nĐC =

25)

Sau trang 119

3.10 Nhịp tăng trưởng của nam và nữ sau thực nghiệm môn

Bóng đá

Sau trang 123

Trang 10

3.12 Nhịp tăng trưởng của nam và nữ sau thực nghiệm môn

Bóng rổ

Sau trang 123 3.13 Nhịp tăng trưởng của nam và nữ sau thực nghiệm môn

Cầu lông

Sau trang 123 3.14 Nhịp tăng trưởng của nam và nữ sau thực nghiệm môn

Aerobic

Sau trang 123 3.15 Nhịp tăng trưởng của nam và nữ sau thực nghiệm môn

Khiêu vũ thể thao

Sau trang 123 3.16 Tổng hợp kết quả học tập của sinh viên sau thực

nghiệm phần tự chọn học phần II môn Bóng đá, Bóng

chuyền, Bóng rổ, Cầu lông, Aerobic, khiêu vũ Thể thao

Sau trang 123

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của công tác TDTT đối với thế hệ trẻ Xem đó là động lực quan trọng và khẳng định cần phải có chính sách chăm sóc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hoà về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức Sức khỏe được xem như một bộ phận cấu thành của nền Văn hoá xã hội [21], [81] Đó là một mặt quan trọng của chất lượng đời sống,

là nguồn tài sản quý báu của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của ngành TDTT nói chung và GDTC nói riêng [4], [5], [6]

Giáo dục thể chất trong trường học là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện

mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [7] cho đất nước, để cho mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ có điều kiện “Phát triển cao

về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [6] Đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà trong đó yếu tố sức khoẻ là quan trọng nhất, gần đây ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành “Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020” [9]

Trong thực tế những vấn đề đổi mới công tác giáo dục đại học đa ngành

và đa dạng hoá loại hình đào tạo cùng với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng sinh viên thì vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục trong đó có GDTC đang đứng trước những thử thách to lớn Để đáp ứng mục tiêu yêu cầu giáo dục và đào tạo đã đề ra thì hiện nay công tác GDTC và thể thao học đường còn bộc lộ nhiều hạn chế [1], [2] Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

Trang 12

VIII và Chỉ thị 133/TTg ngày 07/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ

sự cần thiết phải chú trọng cải tiến nội dung, phương pháp nhằm đưa vào nề nếp, phát triển thể lực góp phần nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường các cấp, xây dựng quy hoạch phát triển và kế hoạch đổi mới công tác GDTC

và thể thao học đường từ nay tới năm 2025 Nghị định số 11/2015/NĐ-CP, ngày 31 tháng 01 năm 2015 quy định về GDTC và hoạt động Thể thao trong nhà trường Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 Điều 3, chương trình môn học GDTC do Giám đốc các đại học, học Viện và Hiệu trưởng các trường đại học chịu trách nhiệm xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo của trường, trong đó có chương trình môn học GDTC theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [5], [75]

Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa có khả năng đào tạo và cung cấp cán bộ thuộc lĩnh vực Văn hóa Thể thao và Du lịch cho tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh bắc Trung bộ nam Sông Hồng Giáo dục thể chất

và thể thao là một hoạt động sư phạm nhằm hoàn thiện phát triển thể chất, và nhân cách của sinh viên, “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” xây dựng lớp người mới, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước

Để thực hiện được mục đích trên, bộ môn GDTC đã áp dụng nội dung môn học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhưng do nhiều nguyên nhân

mà công tác GDTC cho sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá còn nhiều hạn chế Hiện nhà trường chưa có những giải pháp thích hợp để thực hiện tốt mục tiêu nâng cao thể lực của sinh viên

Trong nhiều năm qua nhà trường đã tiến hành đổi mới hình thức tổ chức, quản lý, phương pháp dạy và học các môn học nói chung và môn học GDTC nói riêng và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, căn

cứ vào điều kiện thực tiễn của nhà trường về yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và một số điều kiện khách quan khác, hiệu quả của các giờ học đối

Trang 13

với môn học GDTC cũng như phát triển thể lực chung cho sinh viên, vẫn còn nhiều hạn chế về việc tiếp thu kỹ thuật cơ bản Để nâng cao được trình độ thể lực chung, góp phần nâng cao hiệu quả công tác rèn luyện thể chất nói chung

và hiệu quả học tập môn học GDTC nói riêng, đáp ứng mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường, đòi hỏi sinh viên phải hiểu biết tương đối toàn diện về mục đích tác dụng của môn GDTC Cho đến nay, trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa đã tiến hành tổ chức học tập theo nội dung và các yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhưng trong những năm gần đây việc ứng dụng nội dung tập luyện vẫn còn nhiều bất cập như: Nội dung tập luyện, giáo án, phương pháp và phương tiện tập luyện còn chưa hợp lý nên tác dụng nâng cao thể lực của sinh viên còn hạn chế

Hiểu rõ tầm quan trọng của lĩnh vực nghiên cứu này, nhiều nhà khoa học giáo dục đã quan tâm nghiên cứu, các đề tài tiêu biểu có thể đề cập đến như: Vũ Đức Văn (2002), Hồ Đắc Sơn (2004), Nguyễn Trọng Hải (2010), Lê Trường Sơn Chấn Hải (2012), Hoàng Thị Minh Phương (2015), Trần Vũ Phương (2016), Nguyễn Văn Hòa (2016), Nguyễn Duy Hòa (2017) Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu theo hướng nghiên cứu nâng cao hiệu quả hoạt động GDTC nói chung là chủ yếu, đặc biệt xây dựng chương trình GDTC dành cho đối tượng sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thì chưa có đề tài nào đề cập tới [29], [33]; [34], [51], [52], [58], [70], [88]

Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng, tính bức thiết của vấn đề căn cứ vào các yêu cầu thực tiễn đòi hỏi nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu nội dung môn GDTC cho sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá”

Trang 14

Mục đích nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nhằm mục đích nghiên

cứu thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC, nội dung và quá trình tổ chức nhằm nâng cao chất lượng cho sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và

Du lịch Thanh Hoá Thông qua phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng công tác GDTC, những yếu tố chủ quan, khách quan có ảnh hưởng tới công tác GDTC như điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ, nội dung môn học chính khoá… qua tham khảo các tài liệu có liên quan, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nội dung môn GDTC nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá

Mục tiêu nghiên cứu:

Để giải quyết mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

Mục tiêu 1: Thực trạng công tác Giáo dục thể chất ở trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Thực trạng chương trình nội khóa môn Giáo dục thể chất tại trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Thực trạng chế độ, chính sách, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kinh phí dành cho các hoạt động tập luyện và thi đấu của trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Thực trạng về nhu cầu, thái độ, động cơ tập và các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác Giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Thực trạng kết quả học tập và thể lực của sinh viên Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thông qua kết quả học tập môn Giáo dục thể chất

Thực trạng nội dung một số chương trình Giáo dục thể chất trong và ngoài nước

Trang 15

Mục tiêu 2: Nghiên cứu nội dung môn Giáo dục thể chất cho sinh viên

trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá

Nghiên cứu lựa chọn nội dung giảng dạy môn Giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Tổng hợp nội dung môn Giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Đánh giá nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của nội dung môn Giáo dục thể chất

đã lựa chọn

Giả thuyết khoa học của đề tài

Trên cơ sở quan sát và đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC của sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá, đề tài nhận thấy trình độ thể lực chung của sinh viên còn yếu chưa mang lại hiệu quả cao về phát triển thể chất cho sinh viên

Giả thuyết nguyên nhân chủ yếu là do nội dung môn GDTC chưa phù hợp với đặc điểm, đối tượng sinh viên của trường

Nếu xây dựng được nội dung và phương pháp tổ chức dạy học môn học giáo dục thể chất phù hợp, có cơ sở khoa học, thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDTC của trường Đại học Văn hoá Thể thao và Du lịch Thanh Hoá

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN NGHIÊN CỨU

1.1 Bối cảnh Giáo dục thể chất và thể thao trường học trên thế giới

Thể dục thể thao trường học đã phát triển hơn một thế kỷ nay Tuy nhiên thể dục thể thao nội khoá trong trường học trước năm 2000 vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập ở nhiều quốc gia Năm 1999, Hội nghị cấp cao về thể dục thể thao trường học thế giới tổ chức tại Berlin (Cộng hòa liên bang Đức), Trường Đại học Manchester (Anh) được sự hỗ trợ của Uỷ ban Olympic quốc

tế đã báo cáo kết quả điều tra thực trạng về thể dục thể thao trường học trên thế giới Báo cáo này còn được trình bày trong hội nghị của Tổ chức văn hoá - khoa học - giáo dục của Liên hiệp quốc để đưa ra những quyết sách cải cách thể dục thể thao trường học sau năm 2000, như sau [44]

Thể dục thể thao trường học tổ chức theo hướng thoả mãn yêu cầu hoạt động, sinh hoạt tích cực gắn với sự phát triển cá nhân và xã hội Canada và nhiều quốc gia gắn thể dục và giáo dục sức khoẻ với sự phát triển cá nhân, xã hội; Phát triển nhiều nội dung thể dục thể thao tự chọn trong giờ nội khoá và phát triển hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá tự nguyện [56], [78], [96]

Mục đích của thể dục thể thao trường học là phát triển văn hoá thể chất

và giúp con người phát triển toàn diện, hài hoà; Thể dục thể thao giới thiệu một cách hệ thống sự vận động tích cực suốt đời, từng bước học tập và nắm vững tri thức, kỹ năng cần thiết cho công tác, sinh hoạt gia đình, giải trí nghỉ ngơi trong thế kỷ 21; Tính hệ thống và tính tuần tự là đặc điểm và hình thức nổi bật trong học tập thể dục thể thao so với học tập các lĩnh vực khác; Thể dục thể thao bao hàm hai mặt: “Học tập vận động” và “Học tập trong vận động” “Học tập trong vận động” chủ yếu có sự vận động của cơ thể là một quá trình học tập và tích lũy số lượng lớn các kỹ năng hoạt động, giao tiếp xã hội Đặc điểm và yêu cầu của thể dục thể thao trong quá trình giáo dục là [16]

Trang 17

Thể dục là nội dung trọng điểm duy nhất của hoạt động giáo dục tác động tới thân thể và phát triển thân thể; Giúp cho nhi đồng phát triển sự tôn trọng thân thể của mình và của người khác; Tăng cường sự hiểu biết về tác dụng đối với sức khoẻ của hoạt động ưa khí và yếm khí; Giúp cho sự phát triển hài hoà về thân thể và tâm lý, nhân cách; Nâng cao lòng tự trọng, tự tin; Nâng cao thành tích học tập, phát triển năng lực nhận thức xã hội

Chú trọng phát triển thể dục thể thao chất lượng cao với những đặc điểm: Giúp cho nhi đồng đáp ứng tốt với cạnh tranh, thành công và thất bại; Cống hiến đặc biệt cho sự phát triển kỹ xảo, đạo đức, mỹ thuật của xã hội; Cung cấp tri thức, kỹ năng cho tương lai trong lĩnh vực giải trí, vận động, hoạt động thân thể; Gây hấp dẫn thu hút tất cả thanh thiếu niên, nhi đồng; Giúp cho mọi thanh thiếu niên, nhi đồng những tri thức, kỹ năng cần thiết cho

Từ xu thế cải cách thể dục thể thao trường học ở nhiều quốc gia sau năm 2000 trở lại đây, người ta thấy rõ chức năng xã hội của thể dục thể thao trường học Hiệu quả nâng cao tố chất thể lực, sức khoẻ và hạnh phúc hoàn toàn có thể nhờ thể dục thể thao mang lại trong thời gian tương đối ngắn Ngày nay, xã hội yêu cầu cao hơn đối với thể dục thể thao trường học [24]

Trang 18

Thể dục thể thao trường học cần mang lại cho thế hệ con cháu hiệu quả vận động tích cực suốt đời Hiệu quả này chỉ có thể đạt được sau một thời gian dài học tập và tham gia hoạt động thể dục thể thao thường xuyên, liên tục [21], [56]

Hệ thống giáo dục cần hỗ trợ những vấn đề sau đây để TDTT trường học phát triển: Giới thiệu cho tất cả thanh thiếu niên, nhi đồng tri thức, kỹ năng để tham gia hoạt động TDTT không chỉ là môn học, mà là hoạt động rất cần thiết cho thanh thiếu niên, nhi đồng; Cần có giáo viên thể dục thể thao chuyên nghiệp và hợp quy cách để dạy thể dục và tổ chức hoạt động TDTT; Tăng cường tổ chức giao lưu TDTT; Người làm công tác TDTT phải tăng cường tuyên truyền để mọi người nhận thức đúng tầm quan trọng của TDTT trường học [2], [45], [47]

1.2 Vị trí và vai trò của Giáo dục thể chất trong sự nghiệp Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

1.2.1 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước

Các quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước, luôn coi phát triển sự nghiệp TDTT là một bộ phận quan trọng thuộc chính sách xã hội Do đó, công tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ của nhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội [4], [5], [6]

Các quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam; góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại của Đảng

và Nhà nước Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định

Trang 19

hướng cơ bản để xác định vị trí và mối quan hệ của toàn bộ sự nghiệp thể dục, thể thao đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội các mối quan hệ nội tại của TDTT Vì vậy, đó chính là các cơ sở để lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp

TDTT trong một thời kỳ tương đối dài [9], [73], [74]

Một trong những mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn

2006-2010 đã được Đại hội Đảng (khóa X) xác định là: “GD&ĐT cùng với

KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH-HĐH đất nước” Đề cập đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, Đại hội cũng khẳng

định cần phải “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc

con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanh niên” [6] Báo cáo chính trị tại Đại hội XI khẳng

định phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu

tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước Vì vậy, Đại hội yêu cầu

phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại

hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học”

[7] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội

(bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh

nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước ” Theo đó, cần phải “Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập Quốc tế” [7], [55]

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của BCT về tăng cường sự

lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020;

trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế đã chỉ rõ: “GDTC và hoạt động

thể thao trong học sinh, sinh viên chưa thường xuyên và kém hiệu quả”

Trang 20

Nghị quyết đã đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC và hoạt động thể thao trường học, một trong những giải pháp quan trọng là đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với GD ý chí, đạo đức, GD quốc phòng, GD sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ GV Thể dục, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Thể dục cho trường học…[9]

Hội nghị lần thứ 8 của BCH TW khóa XI đã ban hành Nghị quyết

29/NQ-TƯ “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; đáp ứng yêu cầu

CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” Nghị quyết đã đề ra quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [7] Có thể nói Nghị

quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung ương 2 khóa (VIII) về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH-HĐH, qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GD&ĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện…Mục tiêu của Nghị quyết sẽ tạo chuyển biến căn bản, mạnh

mẽ về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Đồng thời cũng

mở ra cơ hội để ngành GD&ĐT quyết tâm đổi mới toàn diện công tác GD&ĐT, trong đó có đổi mới, cải tiến công tác TDTT trường học ngày càng

hiệu quả, chất lượng hơn [18], [76]

Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc duy nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiến hành đào tạo từ nhà trường mẫu giáo đến đại học, điều đó không chỉ khẳng định vị thế của môn học trong công tác giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ, mà còn là điều kiện để GDTC trường học tác động có

Trang 21

chủ đích, có kế hoạch và khoa học đến từng giai đoạn phát triển của nhi đồng

và thanh thiếu niên Việt Nam Đối với học sinh, sinh viên, GDTC không chỉ

là môn học, mà còn là nội dung, hình thức và phương tiện hoạt động trong quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường; là nội dung và phương thức để nhà trường các cấp triển khai các hoạt động giáo dục học sinh GDTC trường học thực hiện chức năng giao tiếp và liên kết trong giáo dục học sinh, sinh viên, tạo ra bầu không khí thân thiết và hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh, giữa các nhà trường; truyền tải những giá trị chân chính của TDTT đến từng học sinh, sinh viên, thông qua đó giáo dục ở các em những tư tưởng, tình cảm

và nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa; góp phần giáo dục và phát triển thị hiếu, thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên [19], [38]

Giáo dục thể chất trong trường học là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện

mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước, để cho mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ có điều kiện “Phát triển cao về

trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà trong đó yếu tố sức khoẻ là quan trọng nhất, gần đây ban chấp hành Trung ương Đảng: “Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020” [9]

Giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay đang tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Vấn đề này được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI và được phát triển tại Đại hội lần thứ VII Gần đây nhất Nghị quyết Hội nghị lần thứ II của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đặc biệt quan tâm đến chất lượng và hiệu quả của giáo dục - đào tạo Đảng

Trang 22

ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu - là động lực cho sự phát

triển”, do đó, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” [5]

Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác GDTC cho sinh viên nhiều trường đại học không chỉ thực hiện đầy đủ những qui định của Bộ Giáo dục - Đào tạo về nội dung GDTC mà phải vận dụng sáng tạo trên cơ sở cải tiến, xây dựng các nội dung học tập mới cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường Điều đó đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thể lực và chất lượng GDTC cho sinh viên và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài ngành giáo dục [17], [22], [28], [29], [34], [43]

Trong tiến trình thực hiện chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và Nhà nước, những lợi thế nêu trên của GDTC trường học đã khẳng định trường học là địa bàn chiến lược và học sinh, sinh viên là lực lượng quyết định sự thành công của sự nghiệp xã hội hóa TDTT trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, GDTC trường học còn bộc lộ một số tồn tại cơ bản, hạn chế tính hiệu quả trong quá trình giáo dục học sinh, sinh viên nói chung và trong GDTC nói riêng [58], [62], [69], [87]

Đối với các nhà trường đại học và cao đẳng, GDTC chưa thực sự gắn liền với nhu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên, nội dung chương trình và hình thức tổ chức đào tạo chưa lôi cuốn và phát huy được tính tích cực, tự giác của họ trong quá trình học tập và rèn luyện

Về cơ bản, nội dung môn học GDTC trong trường học được thiết kế và xây dựng chưa xuất phát từ điều kiện sức khỏe, giới tính, năng lực sở trường

và trình độ thể lực của học sinh, sinh viên; người học không có nhiều lựa chọn đối với môn thể thao và hình thức tập luyện phù hợp với nhu cầu và điều kiện của bản thân; tiêu chí kiểm tra đánh giá được xác định mang tính đồng loạt (ngoài nhóm sức khỏe yếu), vì vậy đối với không ít học sinh, sinh viên, môn học GDTC trở thành “gánh nặng” trong quá trình học tập

Trang 23

Cùng với xu thế đổi mới đào tạo đại học, công tác GDTC đang hướng tới góp phần nâng cao năng lực hoạt động nghề nghiệp cho sinh viên sau khi

ra trường Vì vậy, GDTC mang “tính nghề” hiện đang là hoạt động chủ đạo trong nghiên cứu về đổi mới nội dung và hình thức; GDTC không chỉ vì sức khỏe mà còn phải hướng tới mục tiêu trang bị cho người học năng lực và nhu cầu tự rèn luyện, rèn luyện suốt đời; hướng tới góp phần rèn luyện tri thức và

kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp [55], [67]

Giáo dục thể chất ở bậc đại học phải trở thành một mặt của đào tạo nghề, sản phẩm không chỉ là thể chất thuần túy, mà là một bộ phận cấu thành năng lực nghề nghiệp cho sinh viên Điều đó, đòi hỏi hệ thống nhà trường phải tạo mọi cơ hội, điều kiện để đổi mới GDTC như một bộ phận cấu thành của chương trình đào tạo nghề, mang chức năng nghề nghiệp, định hướng nghề

nghiệp rõ ràng [28], [67]

1.2.2 Quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước

Định hướng cơ bản của đổi mới giáo dục đại học là chuyển từ phục vụ những yêu cầu và hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang đáp ứng những yêu cầu và hoạt động trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Đảng đã nhận định chỉ

có đổi mới giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ mới đẩy nhanh được quá trình phát triển kinh tế và nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi diện các nước nghèo Coi giáo dục đại học là cơ sở để bứt phá, đồng thời tranh thủ hợp tác, học tập, tiếp thu nền khoa học công nghệ của các nước tiên tiến Điều đó đòi hỏi hoạt động đào tạo đại học phải đổi mới để hội nhập quốc tế; đổi mới theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội; đổi mới theo hướng tích cực hóa quá trình học tập của sinh viên; đổi mới để hình thành năng lực tự học cho lực lượng lao động tương lai, có khả năng tự học suốt đời [3], [7], [8]

Trang 24

Đổi mới để hội nhập quốc tế: Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách

quan, đang lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, đồng thời cũng đặt các nước chậm phát triển trước những thách thức mới, những vận hội mới Xu thế toàn cầu hóa đã tạo cơ hội cho những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam, cơ hội tiếp cận với nền giáo dục phát triển, cho phép thực hiện chủ trương đa phương hóa về giáo dục đào tạo về khoa học công nghệ với thế giới, có khả năng khai thác những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của các quốc gia trên thế giới Trước xu thế hội nhập quốc tế, Đảng ta đã nhận định: “bước sang thế kỷ XXI thế giới đã có nhiều biến đổi, khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật

trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất” [5]

Hiện nay, trước sự phát triển của giáo dục đào tạo, trên thế giới số người lao động có trình độ cao ngày càng tăng, đồng thời những ngành nghề đòi hỏi trình độ cao cũng tăng Để thích nghi với toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao vai trò của giáo dục và đào tạo và

đã xây dựng những chính sách ưu tiên tập trung vào sự phát triển giáo dục coi: “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, đồng thời nhấn mạnh “giáo dục và đào tạo vừa phải đảm bảo giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa phải tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại” [9], [10], [11], [19]

Đổi mới đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội: Đổi mới giáo dục

đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu về sử

dụng lao động Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã xác định phương

hướng, biện pháp đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam phải “gắn với sử dụng, trực tiếp phục vụ đào tạo chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành” [6] Đào tạo nguồn

nhân lực đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp bách: vừa phải trang bị những

Trang 25

tri thức và kỹ năng mới, vừa phải thay đổi công nghệ và cách làm, nhà trường

từ chỗ đào tạo khép kín chuyển sang mở cửa, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt

để tự phát triển trình độ trong suốt quá trình lao động nghề nghiệp

Vì thế, đòi hỏi giáo dục đại học chỉ là quá trình truyền thụ và thu nhận kiến thức, mà còn là quá trình rèn luyện năng lực nghề nghiệp, đảm bảo cho sinh viên sau khi ra trường sớm thích ứng với yêu cầu của thực tiễn lao động Tạo điều kiện cho sinh viên nhận thấy thành quả của lao động học tập mà bản thân họ đã đạt được, kích thích ở họ thái độ trách nhiệm trước tương lai của chính mình Nội dung đào tạo và hệ thống kiến thức phải đem lại cho sinh viên niềm tin với chính những tri thức mà bản thân họ phải tiếp thu Đó phải

là những kiến thức hiện đại, cập nhật với thực tiễn lao động, tạo dựng cho sinh viên năng lực triển khai hoạt động nghề nghiệp một cách có hiệu quả Vì vậy, xây dựng và thiết kế chương trình không phải xuất phát từ những nội dung mà thầy và nhà trường sẵn có, mà là những tri thức và kỹ năng của thực tiễn lao động đòi hỏi Quá trình tích cực hóa học sinh, cũng chính là quá trình tích cực và chủ động tìm kiếm và hoàn thiện tri thức mới của nhà giáo, của hệ thống giáo dục đại học Phải đảm bảo tính đồng bộ trong hoạt động đào tạo: giữa đổi mới phương pháp với điều kiện đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp; giữa nguồn tài liệu với nhu cầu tự học, tự tìm kiếm tri thức của sinh viên; giữa yêu cầu đổi mới với sự tăng trưởng về trình độ của mỗi giảng viên

Trang 26

Giá trị của hoạt động học tập, không chỉ trở thành tài sản riêng của mỗi

cá nhân mà còn là tài sản và thành quả lao động của toàn xã hội, là động lực

để phát triển xã hội Vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trở thành mục tiêu phấn đấu của thầy và trò trong mỗi nhà trường nhằm nâng cao

“chất lượng” và “số lượng” của giá trị đạt được Phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa người học là cách thức, là con đường để phát triển những giá trị đó ngay trong quá trình đào tạo và trong hoạt động tự đào tạo Cũng như chương trình, đổi mới phương pháp dạy học vừa là xu thế mang tính tất yếu của quá trình phát triển đại học, vừa là hệ quả của quá trình đổi mới đảm bảo tính đồng bộ và logíc của hệ thống giáo dục Tuy nhiên, cần hiểu rằng,

“dạy học tích cực” không tồn tại như một phương pháp độc lập, một phương pháp mới được phát hiện Mà là sự tích hợp, phát triển theo hướng tích cực hóa người học trên nền tảng các phương pháp đã có Có nghĩa là, tích cực hóa người học là xu thế để vận dụng và phát triển các phương pháp dạy học, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao [10], [12], [16], [17]

1.2.3 Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và cách thức tổ chức Giáo dục thể chất

Quan điểm

Tăng cường GDTC trường học là góp phần thực hiện quan điểm của Đảng nêu trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc: Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanh thiếu niên Việt Nam Phát triển thể dục thể thao trường học là thiết thực góp phần phát triển nguồn nhân lực; Gắn kết nâng cao thể lực với trí lực, tâm lực và kỹ năng Kết hợp các ngành, các cấp; Kết hợp giữa Nhà nước với xã hội, trường học, gia

Trang 27

đình cùng chăm lo phát triển thể dục thể thao trường học, chăm sóc dinh

dưỡng và lối sống cho học sinh [5], [6], [7], [15], [19], [75]

Tạo sự chuyển biến rõ rệt về GDTC và thể thao trường học kết hợp với chăm sóc dinh dưỡng, lối sống cho học sinh để phát triển thể lực, tầm vóc con người

Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khóa: Cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng kết hợp với TDTT với hoạt động giải trí, chú trọng nhu cầu tự chọn của học sinh Kết hợp đồng bộ chương trình GDTC kết hợp với giáo dục quốc phòng; y tế học đường với dinh dưỡng học đường [15], [17], [19]

Phát triển hoạt động TDTT ngoại khóa: Xây dựng các loại hình Câu lạc

bộ TDTT trường học; khuyến khích học sinh dành thời gian từ 2 - 3 giờ/tuần

để tham gia hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ, các lớp năng khiếu thể thao; Xây dựng và phát triển các trường lớp năng khiếu thể thao bán tập trung và tập trung Củng cố và phát triển hệ thống thi đấu TDTT giải trí (chú trọng thể thao bãi biển) và thể thao dân tộc thích hợp với từng cấp học, từng vùng, địa phương [39], [54]

Tăng cường công tác đào tạo giáo viên TDTT, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa cho cộng tác viên TDTT [13], [25], [33] Ban hành cơ chế, chính sách, đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên TDTT [33] Tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo có cơ sở vật chất đáp ứng hoạt động TDTT trường học theo quy chuẩn quốc gia [79]

Đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trong các cơ sở giáo dục, đào tạo Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện TDTT, hướng dẫn viên TDTT

Trang 28

cho các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của Nhà nước; huy động, khuyến khích các tổ chức

xã hội, các doanh nghiệp tham gia tài trợ hoạt động thi đấu TDTT trong trường học [74], [93]

Tiến hành điều tra khảo sát thực trạng TDTT trường học, thực trạng phát triển thể chất và sức khỏe của học sinh theo định kỳ 10 năm/lần Phối hợp chặt chẽ với việc tổ chức triển khai đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030 và lồng ghép với các chương trình khác hiện hành như giáo dục sức khỏe, lối sống, xây dựng trường học thân thiện [75]

Mục tiêu: Phát triển thể lực của sinh viên, đặc biệt là sức bền chung;

Tận dụng tối đa tiềm năng di truyền của mỗi sinh viên để phát triển chiều cao thân thể; Cung cấp tri thức và kỹ năng để sinh viên đảm bảo hoạt động vận động tích cực suốt đời; Cải thiện đời sống tinh thần, thỏa mãn nhu cầu vận động kết hợp giải trí của giảng viên và sinh viên; Giúp sinh viên tự tin trong cuộc sống và tăng cường kỹ năng sống và xây dựng trường học thân thiện,

sinh viên tích cực [76]

Nhiệm vụ: Công tác GDTC trong các trường đại học nhằm giải quyết 3

nhiệm vụ cơ bản sau:

Giáo dục cho sinh viên đạo đức nhân cách con người Việt Nam Rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, năng động và sáng tạo trong học tập, xây dựng cuộc sống lành mạnh, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hình thành và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản của một

số môn thể thao và trang bị cho sinh viên những tri thức chuyên môn như lý luận cơ bản về tập luyện và thi đấu thể thao, trang bị cho họ những tri thức

Trang 29

cần thiết trong việc sử dụng các phương tiện, phương pháp GDTC để tự tập

và có thể tổ chức hướng dẫn cho mọi người

Phát triển cơ thể hài hòa, cân đối, củng cố và tăng cường sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực quy định của quốc gia theo lứa tuổi [76]

Cách thức tổ chức GDTC: Môn học GDTC theo định hướng mới diễn

ra dưới hai hình thức cơ bản [46], [68], [77]

Giờ học chính khoá: Là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến

hành trong kế hoạch học tập của nhà trường Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho sinh viên, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho sinh viên Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT

Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của sinh viên, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho sinh viên”

Do vậy, giờ học chính khoá TDTT mang tính hành chính pháp quy, quy định đối với sinh viên và cán bộ giảng dạy Đó là, giờ học theo chương trình

có quy định thời gian và quy cách đánh giá chất lượng, được bắt đầu làm quen

từ mẫu giáo, sau đó là dạy TDTT theo chương trình ở các cấp học cho đến đại học

Giờ học ngoại khoá - tự tập luyện TDTT ngoại khoá: Là quá trình tập

luyện của một bộ phận sinh viên có nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi với mục đích phát triển năng lực thể chất một cách toàn diện, đồng thời nâng cao thành tích thể thao của sinh viên Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của sinh

Trang 30

viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT hay hướng dẫn viên TDTT Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội tiêu biểu từng môn thể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập của sinh viên, phong trào tự tập luyện rèn luyện thể lực Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thể lực tham gia cổ vũ phong trào rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp [20], [50], [59], [82], [84], [85], [86]

Chương trình GDTC nội khóa, trên cơ sở chương trình khung do Bộ

GD và ĐT qui định (phần bắt buộc, phần tự chọn, phân phối số đơn vị học trình và học phần, thời lượng), các nhà trường được phép chủ động lựa chọn nội dung giảng dạy phù hợp với đối tượng và điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, năng lực đào tạo của đội ngũ giảng viên Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo được cấp chứng chỉ môn học, chứng chỉ là điều kiện tiên quyết

để sinh viên được xét công nhận tốt nghiệp Để phát triển phong trào luyện tập TDTT của sinh viên, việc xây dựng kế hoạch tổ chức và động viên sinh viên tham gia tập luyện Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện các hoạt động TDTT do Bộ GD và ĐT, hội thể thao sinh viên các cấp cũng là một trong những hình thức hoạt động ngoại khóa sôi nổi, có sức lôi cuốn mạnh mẽ sinh viên tham gia tạo điều kiện để phát triển các loại hình câu lạc bộ TDTT, coi

đó như một mặt của giáo dục toàn diện, giúp sinh viên sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách có hiệu quả, tích cực

Thuật ngữ “Chương trình giáo dục” hoặc “chương trình đào tạo” về giáo dục của tiếng Việt có hai nghĩa khác nhau, tương ứng với hai từ trong bảng từ vựng về giáo dục của tiếng Anh Nghĩa thông thường được sử dụng là một văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một

Trang 31

ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời lượng dành cho mỗi môn mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho sinh viên theo học một ngành nào đó Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “Curriculum” Nghĩa thứ hai tương đương với nội dung của thuật ngữ “Program” trong tiếng Anh Đó là “nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo đang triển khai để đào tạo một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được ký hiệu bằng mã ngành” [29], [38],

[48], [50], [51]

Chương trình giáo dục xem xét ở đây được hiểu theo nghĩa thứ nhất Trong lịch sử phát triển của giáo dục, có ba cách tiếp cận phổ biến về chương trình giáo dục đó là cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận mục tiêu và cách tiếp cận phát triển Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức, cách tiếp cận nội dung đưa ra định nghĩa: “Chương trình giáo dục

là bản phác thảo về nội dung giáo dục qua đó người dạy biết mình cần phải dạy những gì và người học biết mình cần phải học những gì” Theo cách tiếp cận này thì Chương trình = Nội dung Cách tiếp cận mục tiêu, quan niệm giáo dục là công cụ để đào tạo nên các sản phẩm với các tiêu chuẩn đã được xác định sẵn Vì vậy, chương trình giáo dục là một kế hoạch giáo dục phản ánh các mục tiêu giáo dục mà nhà trường theo đuổi, nó cho biết nội dung cũng như phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra [52]

Theo cách tiếp cận này: Chương trình = Nội dung + Mục tiêu + Phương pháp Theo quan niệm: chương trình giáo dục là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển, cách tiếp cận phát triển cho rằng: Chương trình giáo dục là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động giáo dục (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội

Trang 32

dung giáo dục, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khi học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung giáo dục, nó cũng cho biết các phương pháp giáo dục và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ Như vậy, tùy theo các quan niệm khác nhau của các cách tiếp cận để có khái niệm

về chương trình giáo dục khác nhau [17], [19], [95], [102]

Có thể khái quát các khái niệm về chương trình giáo dục nêu trên như sau: “Chương trình giáo dục là một tập hợp của các hoạt động gắn kết với nhau nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục của nhà trường”

Định nghĩa về chương trình giáo dục theo Luật Giáo dục năm 2005 như sau: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo” (Điều 6) [53]

Điều 41 Luật Giáo dục năm 2005 cũng quy định “Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác” Quan điểm về chương trình giáo dục đại học theo Luật Giáo dục năm 2005 còn được thể hiện rất rõ trong các quy chế của các loại hình đào tạo khác nhau [53]

Như vậy chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạy không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo

Trang 33

1.3 Vị trí, sứ mạng, đặc thù nghề nghiệp của trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

1.3.1 Vị trí, sứ mạng của trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa có khả năng đào tạo và cung cấp cán bộ thuộc lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh Bắc Trung Bộ Nam Sông Hồng, hiện nay còn mở liên thông, liên kết trên toàn quốc; tạo cơ hội và môi trường học tập thuận lợi

cho mọi đối tượng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và hội nhập quốc tế Là một trường công lập chuyên về Văn hóa, Thể thao và

Du lịch, duy nhất của Việt Nam, trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa có chức năng đào tạo ra những cán bộ có kiến thức về lĩnh văn hóa, Thể thao và Du lịch [31]

Theo xu hướng chung của ngành Giáo dục và Đào tạo trong nhiều năm qua nhà trường đã tiến hành đổi mới hình thức tổ chức, quản lý, phương pháp dạy và học các môn học nói chung và môn học GDTC nói riêng và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nhà trường về yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và một số điều kiện khách quan khác, hiệu quả của các giờ học đối với môn học GDTC cũng như phát triển thể lực chung cho sinh viên, vẫn còn nhiều hạn chế về việc tiếp thu

kỹ thuật cơ bản

Để nâng cao được trình độ thể lực chung, góp phần nâng cao hiệu quả công tác rèn luyện thể chất nói chung và hiệu quả học tập môn GDTC nói riêng, đáp ứng mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường, đòi hỏi sinh viên phải hiểu biết tương đối toàn diện về mục đích tác dụng của môn GDTC Thể lực là một điều kiện không thể thiếu đối với sức khỏe con người, đặc biệt là

Trang 34

học sinh, sinh viên đang trong giai đoạn phát triển về tất cả các mặt trí và lực, giải quyết được vấn đề trên thì sinh viên phải hiểu về tác dụng của thể lực của con người đối với xã hội hiện nay Cho đến nay, trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa đã tiến hành tổ chức học tập theo nội dung và các yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhưng trong những năm gần đây việc ứng dụng nội dung tập luyện vẫn còn nhiều bất cập như: Nội dung tập luyện, giáo án, phương pháp và phương tiện tập luyện còn chưa hợp lý nên tác dụng nâng cao thể lực của sinh viên còn hạn chế

Giảng dạy môn GDTC và tổ chức các hoạt động thể thao tại trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá là một hoạt động sư phạm nhằm hoàn thiện và phát triển thể chất, nhân cách người sinh viên, góp phần nhằm thực hiện nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” xây dựng lớp người mới, người chủ nhân của xã hội tương lai, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Để thực hiện được mục đích trên, bộ môn GDTC của nhà trường đã áp dụng nội dung GDTC theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhưng, do nhiều nguyên nhân mà công tác GDTC cho sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá còn nhiều hạn chế Nhà trường chưa có những giải pháp thích hợp để thực hiện tốt mục tiêu nâng cao thể lực của sinh viên

1.3.2 Đặc thù nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa đối với môn Giáo dục thể chất

Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa có nhiệm vụ Đào tạo đa ngành, nhiều lĩnh vực và trình độ khác nhau trong đó có trình độ Trung cấp, trình độ Cao đẳng, trình độ Đại học, đáp ứng yêu hiện nay của đất

nước Tạo cơ hội và môi trường học tập thuận lợi cho mọi đối tượng, đáp ứng

yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Là trường công lập đặc thù của ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch của Việt

Trang 35

Nam đào tạo các lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch, là Trung tâm nghiên cứu - phát triển - khoa học uy tín và tin cậy Theo xu hướng chung của ngành giáo dục và đào tạo, trong nhiều năm qua nhà trường đã tiến hành đổi mới hình thức tổ chức, quản lý, phương pháp dạy và học các môn học nói chung

và môn GDTC nói riêng và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nhà trường về nội dung môn học GDTC, yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực tính đặc thù nghề nghiệp của sinh viên đã ảnh hưởng phần nào đến tương lai của sinh viên Ba lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch có tính đặc thù riêng của nó, như lĩnh vực Nghệ thuật có các ngành đào tạo như Sư phạm Âm nhạc, Thanh nhạc, Sư phạm Mỹ thuật, Sân khấu, Hội họa, Đồ họa Nếu các ngành đào tạo này không lựa chọn nội dung môn GDTC phù hợp thì nó sẽ ảnh hưởng đến nghề nghiệp, tương lai của các em sau này Ví dụ nếu lựa chọn môn bóng chuyền, nội dung đẩy tạ thì sẽ ảnh hưởng đến tay của các sinh viên khi học môn đàn, múa Vì vậy khi lựa chọn nội dung học cho các ngành thì cần phải lựa chọn nội dung cho phù hợp với tính đặc thù của các em, để khi học môn GDTC vẫn phát huy thể lực chung cho sinh viên Lĩnh vực Du lịch có các ngành như Văn hóa Du lịch, Quản trị khách sạn, Quản trị dịch vụ Du lịch và Lữ hành các ngành trên lựa chọn các môn phát triển toàn diện, mang tính nâng cao năng lực nghề nghiệp cho các em Ví dụ như khiêu vũ Thể thao, Aerobic, các môn học này tạo cho sinh viên sự tự tin, sự năng động và sáng tạo, trong quá trình đưa đoàn

đi du lịch có thể tự tổ chức các buổi lễ hội, như khiêu vũ Thể thao, Aerobic… cho khách du lịch Lĩnh vực Văn hóa có các ngành Quản lý Văn hóa, Thông tin học, Công tác xã hội… tổ chức dạy học cho các em môn học như Bóng đá, Cầu lông, Bóng rổ các môn học này trang bị cho sinh viên các kỹ thuật, kỹ năng trọng tài, cách thức tổ chức điều hành trận đấu Trang bị những kiến thức mang tính nghề nghiệp để sau này khi ra trường có thể tổ chức, trọng tài

Trang 36

các giải đấu phong trào ở các cấp, như cấp xã, huyện, cấp tỉnh, các cơ quan tổ chức cá nhân Chính vì vậy giờ học chính khoá đối với môn GDTC cũng như phát triển thể lực chung cho sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế, chỉ đáp ứng được việc tiếp thu kỹ thuật cơ bản Để nâng cao được trình độ thể lực chung, góp phần nâng cao hiệu quả công tác rèn luyện thể chất nói chung và hiệu quả học tập môn GDTC nói riêng, đáp ứng mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường, cần phải có nội dung môn GDTC phù hợp với từng ngành học, để không làm ảnh hưởng tới nghề nghiệp tương lai của sinh viên, qua môn GDTC là một phương tiện hỗ trợ cho quá trình đào tạo của nhà trường, mà thể

lực chung của sinh viên vẫn đạt hiệu quả cao

1.4 Cơ sở tiếp cận nội dung môn Giáo dục thể chất

1.4.1 Một số khái niệm cơ bản về chương trình

Khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo [65]

Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (hoặc chương trình khung) được quy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng các chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo Chương trình đào tạo (Curriculum) là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khoá đào tạo phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khoá đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng Chương trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình đào tạo đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt [17], [31], [34], [46]

Trang 37

Như vậy chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạy không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình (Điều 41- Luật Giáo dục 2005) [53]

Quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu mới về nội dung và chương trình đào tạo ở các bậc học, ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân Thông báo số 242-TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 2 (Khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã chỉ rõ:

Chương trình, giáo trình chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp Thực trạng lạc hậu về

chương trình đào tạo có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân rất cơ bản là công tác nghiên cứu và ứng dụng trong phát triển chương trình đào tạo trong nhiều năm qua chưa được quan tâm đúng mức, việc thiết kế chương trình đào tạo ở các cấp còn nặng về kinh nghiệm, thiếu đội ngũ chuyên gia có nghề và chuyên nghiệp trong lĩnh vực quan trọng này [5]

Theo từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển bách khoa (2001) khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo [90], [91], [92]

Theo Wentling (1993), chương trình đào tạo (Program of Training) là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (khoá đào tạo) cho biết

Trang 38

toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ [16], [17]

Theo Tyler (1949) cho rằng, chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4 phần cơ bản: Mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương pháp hay quy trình đào tạo; Cách đánh giá kết quả đào tạo Văn bản chương trình giáo dục phổ thông của Hàn quốc (The School Curriculum of the Republic of Korea) bao gồm 4 thành phần cơ bản sau: Định hướng thiết kế chương trình; Mục tiêu giáo dục của các bậc, cấp học phỏ thông; Các môn, phần học và phân phối thời gian (nội dung, kế hoạch dạy học); Chỉ dẫn về tổ chức thực hiện và đánh giá chương trình

Trên cơ sở chương trình giáo dục chung (hoặc chương trình khung) được quy định bởi các cơ quan quản lý giáo dục các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng các chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo chương trình đào tạo (Curriculum) là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy trong một khoá đầo tạo phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giảng dạy cho toàn khoá đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng chương trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở chương trình đào tạo đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt

Như vậy chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạy không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo

Theo Luật giáo dục 2005 chương trình giáo dục được quy định theo điều 6 chương I là: chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy

Trang 39

định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hay trình độ đào tạo

Theo các bậc học loại hình giáo dục Luật giáo dục 2005 cũng quy định chương trình giáo dục cụ thể như sau [16], [17], [19], [53]

Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể hiện mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm liên thông với các chương trình giáo dục khác”

Chương trình khung về đào tạo trung cấp chuyên nghiệp bao gồm cơ cấu nội dung, số môn học, thời lượng các môn học, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, thực tập đối với từng ngành nghề đào tạo Căn cứ vào chương trình khung, trường trung cấp chuyên nghiệp xác định chương trình đào tạo của mình (Điều 35 - Luật Giáo dục 2005) [53]

Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục

Trang 40

đại học; bảo đảm liên thông với các chương trình giáo dục khác (Điều Luật GD 2005) [53]

41-Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ

lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình (Điều 41- Luật Giáo dục 2005) [53]

Thông thường các cơ quan quản lý đào tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tổng cục Dạy nghề) ban hành chương trình khung Chương trình khung là bản thiết kế phản ảnh cấu trúc tổng thể về thời lượng và các thành phần, nội dung đào tạo cơ bản (cốt lõi) của chương trình đào tạo là cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo cho từng ngành/nghề cụ thể Có thể hiểu chương trình khung là khung chương trình cộng với phần nội dung cốt lõi của chương trình đào tạo Ví dụ theo Quyết định số 21/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 6/6/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình khung giáo dục Trung học Chuyên nghiệp trong đó có nêu rõ quy định nội dung tổng thể các hoạt động giáo dục của một khoá học thành một hệ thống hoàn chỉnh

và phân bố hợp lý thời gian theo quy định của Luật giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng và mục tiêu giáo dục

Thông thường các cơ quan quản lý đào tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tổng cục Dạy nghề) ban hành chương trình khung Chương trình khung là bản thiết kế phản ảnh cấu trúc tổng thể về thời lượng và các thành phần, nội dung đào tạo cơ bản (cốt lõi) của chương trình đào tạo là cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo cho từng ngành/nghề cụ thể Trên cơ sở mục tiêu đào tạo chung cần xác định mục tiêu đào tạo cụ thể cho từng ngành/nghề đào tạo, mục tiêu của các phần học, môn học, bài học trong chương trình Trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên sẽ thiết kế mục tiêu từng chương mục,

Ngày đăng: 13/02/2023, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w