TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ =======000======= TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC T[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=======000=======
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: Trần Trung Hiếu
Mã sinh viên: 2211650017
Số thứ tự: 26 Lớp tín chỉ : TRIH114K61.4 Giáo viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức 4
1 Vật chất 4
1.1 Định nghĩa vật chất 4
1.2 Các phương thức tồn tại của vật chất 5
2 Ý thức 7
2.1 Nguồn gốc của ý thức 7
2.2 Bản chất của ý thức 7
2.3 Kết cấu của ý thức 8
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 8
3.1 Vật chất quyết định ý thức 9
3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 9
3.3 Ý nghĩa phương pháp luận 10
II Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 11
1 Đổi mới bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tế khách quan 11
2 Phát huy vai trò của tính năng động chủ quan trong công cuộc đổi mới. .15
3 Chú tâm mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, bất cứ sự vật, hiện tượng nào dù trong tự nhiên hay trong xã hội, dù là vật thể vô cùng lớn như các hành tinh, thiên hà,… hay vật thể vô cùng nhỏ như các hạt cơ bản cũng đều chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất Vật chất là cái có trước, ý thức
là cái có sau, vật chất quyết định ý thức nhưng cũng đồng thời chịu sự tác động
từ ý thức Đây là mối quan hệ biện chứng hoàn chỉnh, khoa học nhất, đem lại giá trị thực tiễn to lớn, được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng để tìm ra phương hướng phát triển cho mình, trong đó có cả Việt Nam
Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước cần tiếp tục được tiến hành và đẩy mạnh, trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt, giữ vị trí chủ đạo Đồng thời đổi mới về văn hóa cũng mang tính cấp bách bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới văn hóa có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau không thể tách rời nhau Chính vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu sâu sắc hơn mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, tạo cơ sở lý luận đúng đắn cho việc vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa của đất nước, xây dựng Việt Nam ngày càng giàu đẹp Có thể thấy việc nghiên cứu mối quan
hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có một ý nghĩa tích cực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Nhận thấy được điều này cùng với mong muốn hệ thống hóa những kiến thức liên quan đến triết học đã tích lũy được, tôi đã chọn nghiên cứu
thêm về đề tài “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất
với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.” Khi
nghiên cứu đề tài này, tôi muốn đi sâu phân tích và làm rõ những lý luận chung nhất về vật chất và ý thức, mối quan hệ biện chứng giữa chúng và sự vận dụng những lý luận trên vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Trang 4NỘI DUNG
I Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức
1 Vật chất
1.1 Định nghĩa vật chất
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ
XX, các quan điểm siêu hình về vật chất rơi vào khủng hoảng và dần phá sản Trong tình hình phức tạp đó, nhằm đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm, hoài nghi, đồng thời bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, V.I.Lênin
đã tiến hành tổng kết toàn diện những thành tựu mới nhất của khoa học cùng những tư tưởng đúng đắn của C.Mác và Ph.Ăngghen để đưa ra định nghĩa hoàn
chỉnh nhất về vật chất trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực
tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Định nghĩa về vật chất của Lênin bao gồm ba nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, khi nói vật chất là một phạm trù triết học, Lênin muốn nhấn
mạnh việc phải hiểu vật chất theo một cách khái quát nhất, không quy khái niệm vật chất về vật thể hay những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất
trong chủ nghĩa duy vật biện chứng là tồn tại khách quan, nằm ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó
Thứ ba, vật chất khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ
đem lại cho con người cảm giác Như vậy, vật chất là cái có trước, là cội nguồn của cảm giác (ý thức) Cảm giác không ngừng chép lại, chụp lại, phản ánh hiện thực khách quan, nên về nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới
Trang 5và giới hạn nhận thức có thể bị vượt qua khi con người phát triển, “nối dài” các giác quan
Định nghĩa về vật chất của Lênin đã giải quyết đúng đắn và triệt để cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học, triệt để khắc phục hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ, bác bỏ chủ nghĩa duy tâm bất khả tri, từ đó khắc phục khủng hoảng, đem lại niềm tin trong Khoa học Tự nhiên Đây còn là tiền đề xây dựng quan điểm duy vật về xã hội, lịch sử loài người và là nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng chặt chẽ giữa triết học duy vật biện chứng với khoa học
1.2 Các phương thức tồn tại của vật chất
a Vận động
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, vận động không chỉ đơn giản
là sự thay đổi vị trí trong không gian mà theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi
sự biến đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ Vật chất chỉ tồn tại bằng cách vận động và cũng chỉ thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình Qua việc xem xét những trạng thái vận động của giới vật chất, loài người mới có thể nhận thức sâu sắc về sự vật
Ph.Ăngghen cho rằng vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất, sinh ra cùng với vật chất và chỉ mất đi khi sự vật mất đi (chuyển hoá thành sự vật hay hình thức vận động khác) Nói cách khác, vật chất là vô cùng, vô tận nên
sự vận động là vĩnh cửu, tuyệt đối
Vận động có năm hình thức cơ bản: cơ học, vật lý, hoá học, sinh học và
xã hội Các hình thức vận động này khác nhau về chất, từ vận động cơ học đến vận động xã hội là sự khác nhau về trình độ của sự vận động Các hình thức vận động cao nhất xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp hơn, các hình thức vận động thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ở trình
độ cao hơn nó Tuy các hình thức vận động có thể chuyển hoá cho nhau, song quá trình đó phải tuân theo quy luật bảo toàn năng lượng
Trang 6Dù vật chất luôn trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng nhưng bản thân sự vận động bao hàm một trạng thái đặc biệt là hiện tượng đứng im tương đối Trạng thái này diễn ra khi sự vận động tiếp diễn trong cân bằng, chỉ biểu hiện khi sự vật vẫn còn là nó, chưa biến thành cái khác Dù xu hướng
chung của vận động là làm sự vật hiện tượng liên tục biến đổi, đứng im lại là sự vận động cá biệt có xu hướng hình thành, duy trì tính ổn định của sự vật, hiện tượng
b Không gian và thời gian
Không gian và thời gian là hai thuộc tính, hai hình thức tồn tại khác nhau, song đồng thời liên hệ chặt chẽ với nhau của vật chất vận động Vật chất có ba chiều không gian và một chiều thời gian Trong đó, không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùng tiếp diễn, kết cấu và ảnh hưởng lẫn nhau Thời gian chỉ hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài tồn tại, sự nối tiếp nhau của các giai đoạn Hai hình thức tồn tại trên của vật chất vận động đều mang tính khách quan, tính vĩnh cửu và vô tận
V.I.Lênin viết: “Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động
và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian.” Các đặc tính và sự biến đổi của không gian bao giờ cũng tác động tới tính chất cùng sự biến đổi của thời gian và ngược lại Như vậy, không gian và thời gian thực chất thuộc một thể thống nhất không – thời gian
c Tính thống nhất vật chất của thế giới
Các nhà duy vật biện chứng cho rằng chỉ có một thế gới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Nó tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và được phản ánh qua ý thức Mọi bộ phận của thế giới đều là các dạng tồn tại cụ thể của vật chất, chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến Do đó, chúng có mối quan hệ thống nhất với nhau trong thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại vĩnh cửu, vô tận, không phải do bất kỳ ý niệm
Trang 7siêu hình nào sinh ra và cũng không tự mất đi Mọi sự vật trong thế giới luôn biến đổi không ngừng, tác động lẫn nhau trong các quá trình vật chất Theo Ph.Ăngghen, tính thống nhất vật chất của thế giới đã được chứng minh bằng sự phát triển lâu dài và khó khan của triết học và khoa học tự nhiên
2 Ý thức
2.1 Nguồn gốc của ý thức
Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử Trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử của con người
Nguồn gốc tự nhiên hay điều kiện cần của ý thức là sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan Bộ óc con người được hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của Trái đất cũng như quá trình tiến hoá của giới tự nhiên Cũng theo lịch sử tiến hoá của thế giới vật chất, các thuộc tính phản ánh của vật chất phát triển dần từ thấp đến cao Bộ óc con người và mối quan hệ giữa con người với ý thức khách quan tạo
ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo, là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nguồn gốc xã hội hay điều kiện đủ của ý thức theo Ph.Ăngghen là lao động và ngôn ngữ Đây là hai sức kích thích chủ yếu đã cải biến tâm lý động vật, biến nó trở thành ý thức con người Qua quá trình sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải thoả mãn nhu cầu của mình, con người dần hoàn thiện chức năng bộ óc, bắt đầu nhận thức sự vật có hệ thống Trong hoàn cảnh đó, nhu cầu giao tiếp và trao đổi thông tin giữa các cá nhân trở nên cần thiết hơn, dẫn tới sự ra đời của ngôn ngữ Đây là công cụ hiệu quả để truyền tải tư duy, ý thức và cũng nhờ ngôn ngữ, con người đỡ lệ thuộc vào các đối tượng vật chất cụ thể, thông qua đó làm phát triển tư duy
2.2 Bản chất của ý thức
Trang 8Ý thức là hình ảnh về hiện thực khách quan trong bộ óc con người Nội dung được phản ánh là đối tượng khách quan song hình thức phản ánh là chủ quan, mang tính chọn lọc do nhiều yếu tố, đặc điểm hay mục đích của chủ thể phản ánh
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan một cách chủ động và sáng tạo vào trong bộ óc con người Sự phản ánh ý thức là quá trình trao đổi thông mang tính hai chiều giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Qua đó, con người mô hình hoá các đối tượng phản ánh để xây dựng các học thuyết, lý thuyết khoa học và vận dụng để cải tạo hoạt động trong thực tiễn
Ý thức mang bản chất lịch sử - xã hội Con người là một loài động vật xã hội, tồn tại dựa trên những mối quan hệ xã hội (không gian) nên ý thức bị quyết định bởi các điều kiện khác nhau trong xã hội Đồng thời, ý thức thực chất là thuộc tính phản ánh của bộ óc con người, bị ảnh hưởng, thay đổi theo những điều kiện lịch sử (thời gian) xảy ra quanh họ
2.3 Kết cấu của ý thức
Từ góc độ tiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức gồm nhiều lớp cấu trúc là tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí Trong đó tri thức là yếu tố quan trọng nhất bởi nó là phương thức tồn tại của ý thức
Xét theo chiều sâu nội tâm, ý thức được hợp thành từ tự ý thức, tiềm thức,
vô thức và nhiều yếu tố khác
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất
Trang 93.1 Vật chất quyết định ý thức
Trước hết, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.
Vật chất “sinh ra” ý thức, vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện cách đây 3 tới 7 triệu năm mà con người lại là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, của thế giới vật chất
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.
Dưới bất kỳ hình thức nào, ý thức đều là một thuộc tính phản ánh thực tại khách quan Nội dung của ý thức chẳng qua chỉ là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức
Tuy nói ý thức phản ánh hiện thực khách quan nhưng sự phản ánh đó mang tính tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của loài người, là cơ sở hình thành, phát triển ý thức Nói cách khác, ý thức con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
Cuối cùng, vật chất quyết định sự vận động, phát triển và mất đi của ý
thức
Mọi sự tồn tại và phát triển của ý thức đều gắn liền với sự vận động, chuyển hoá của vật chất Vật chất thay đổi thì dù sớm hay muộn, ý thức cũng sẽ thay đổi theo Như khi điều kiện về vật chất, kinh tế ngày càng phát triển, đời sống tinh thần và ý thức con người cũng sẽ có sự chuyển biến rõ rệt
3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức biểu hiện qua tính lạc hậu,
tính vượt trước hay tính kế thừa của ý thức Những tính chất ấy xuất hiện do sau khi được vật chất “sinh ra”, ý thức vận động, phát triển theo một quy luật riêng,
Trang 10có thể nhanh, chậm, song hành với hiện thực, không phụ thuộc máy móc vào vật chất
Thứ hai, ý thức tác động trở lại vật chất theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu
cực Khi con người có tri thức đúng đắn, có ý chí, nghị lực và tình cảm tích cực thì khả năng hành động hợp quy luật khách quan sẽ cao hơn Ngược lại, việc thiếu tri thức cần thiết, vô cảm, nhụt chí sẽ dẫn đến nhận thức sai lầm và hành động trái quy luật khách quan
Thứ ba, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động
thực tiễn của con người Bản thân ý thức không thể thay đổi vật chất mà nó cung cấp cho con người tri thức về thế giới khách quan và quy luật vận hành của thế giới ấy
Thứ tư, vai trò của ý thức chình là vai trò hoạt động thực tiễn của con
người được điều khiển bởi ý thức Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là với những tiến bộ vượt bậc của con người trong mọi lĩnh vực khoa học Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng
nó cũng không thể vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, nên phải dựa vào các điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động
3.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác – Lênin, các nhà duy vật biện chứng đã rút ra nguyên tắc phương pháp luận
là tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát huy tính năng động chủ quan
Khi xem xét bất ký sự vật, hiện tượng nào cũng cần đảm bảo tính khách quan, xem xét như chính nó đang tồn tại trên thực tế Về cơ bản, con người cần tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, lấy nhân tố vật chất làm cơ sở trong mọi hoạt động thực tiễn của mình