Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Kế hoạch và Giải pháp huy động vốn đầu tư trong nước của Việt Nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Huy động và tập trung nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế xã hộiđang trở thành một bộ phân chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hộicủa nước ta, bởi lẽ nhu cầu vốn đầu tư trong nước càng trở nên bức thiết trongđiều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ và sự phân công lao động quốc tế ngàycàng sâu rộng Việt Nam tiến hành xây dựng CNXH từ điểm xuất phát rất thấptrong khi đó lại cần một khoản vốn lớn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế, xây dựng các công trình công cộng phục vụ cho sự phát triển kinh tế
xã hội lâu dài Mặt khác mục tiêu của chiến lược 2001 - 2010 chỉ rõ "đưa nước
ta khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá,tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại…" Để thực hiện được mụctiêu chúng ta cần phải huy động được một nguồn vốn lớn để đáp ứng được yêucầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Vấn đề huy động và tập trung nguồn vốn trong nước là một đề tài rộng và
nó cần có sự đầu tư nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế, nhà quản lý nhà chính trị
Đề tài này là một trong những hướng tìm tòi nhằm bật mở các tiềm năng về vốntiền mặt, vốn sức người, vốn tài nguyên… và huy động tối đa nguồn vốn đó cho
sự thăng tiến của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và cả nền kinh tế
Đề tài: " Kế hoạch và giải pháp huy động vốn đầu tư trong nước của Việt Nam" nhằm góp phần nhỏ bé luận giải nhu cầu về vốn đối với nền kinh tế
nói chung Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình huy động
và tập trung vốn cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Mặc dù rất cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót em mongmuốn được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong Khoa để đề tài của emđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn TS Phạm Ngọc Linh đã giúp em hoàn thành
đề án này
Trang 2CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG
I- Khái niệm về đầu tư, kế hoạch khối lượng vốn đầu tư và vốn đầu tư
1- Khái niệm về đầu tư
Hoạt động đầu tư được hiểu là các hoạt động làm tăng thêm (bao hàm cảnghĩa khôi phục) uy mô của tài sản quốc gia
Tài sản quốc gia được phân chia thành 2 nhóm là tài sản quốc gia sảnxuất (gọi là vốn sản xuất) và tài sản quốc gia phi sản xuất Đầu tư vốn (hoạtđộng đầu tư vốn) là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì tiềm lực sẵn cóhoặc tạo ra tiềm lực mới, tiềm lực lớn hơn cho sản xuất - kinh doanh - dịch vụ
và sinh hoạt đời sống xã hội
2- Khái niệm kế hoạch vốn đầu tư
- Kế hoạch khối lượng vốn đầu tư là một bộ phận trong hệ thống kếhoạch phát triển, nó xác định quy mô cơ cấu tổng nhu cầu vốn đầu tư xã hộicần có và cân đối với các nguồn bảo đảm nhằm thực hiện mục tiêu tăngtrưởng và phát triển kinh tế trong thời kỳ khoa học
3- Khái niệm vốn đầu tư
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanhdịch vụ là tiết kiệu của dân và vốn huy đọng từ các nguồn khác được đưa vào
sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và duytrì tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội
Hình thức hữu hiệu, của vốn đầu tư dưới 2 dạng:
Trang 3Vốn đầu tư sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất
II- Vai trò, nhiệm vụ của kế hoạch huy động vốn đầu tư trong nước đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
1- Nhiệm vụ của kế hoạch huy động vốn đầu tư trong nước
1.1 Xác định nhu cầu khối lượng vốn đầu tư xã hội cần có kỳ kế hoạch
Để thực hiện được nhiệm vụ này, điều cơ bản là phải dựa vào kế hoạchtăng trưởng các mục tiêu đặt ra về tăng trưởng GDP kỳ kế hoạch Theo tínhtoán để đặt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm thời kỳ
2001 2005 là 7, 5 thì nhu cầu về vốn đầu tư tính theo mô hình Harrod Damras là 200 ngàn tỷ đồng tương đướng 30 tỷ USD
-1.2 Xác định tỷ lệ cơ cấu vốn đầu tu theo ngành theo các lĩnh vực đối tượng, khu vực đầu tư và xu hướng, chuyển dịch cơ cấu trong thời gian tới Cơ
cấu tăng trưởng nhanh trên cơ sở hướng ngoại trước đây của một số nướcĐông Á và Đông Nam Á còn hạn chế
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập như hiện nay nềnkinh tế mỗi nước phải tăng cường cạnh tranh để xuất khẩu, bởi lẽ nền kinh tếhội nhập không phân biệt thị trường trong nước và nước ngoài Thực hiện đổimới vừa qua ở nước ta và kinh nghiệm quốc tế cho thất một quốc gia khôngchỉ theo đuổi một mục tiêu được thể hiện ở một loại cơ cấu kinh tế nào đó Để
có cơ cấu phù hợp cho quá trình CNH - HĐH đất nước thì đòi hỏi phải phântích đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội trong nước, bối cảnh quốc tế tìm ra một
cơ cấu phù hợp với đất nước mình Trong bước chuyển đổi cơ cấu từ này đếnnăm 2020 cần thiết phải có những chính sách thoả đáng để tạo ra được cácngành mũi nhọn, các vùng động lực cho phát triển Để thực hiện được mục
Trang 4tiêu thì cần thiết phải có vốn đầu tư, vốn giúp cho quá trình thực hiện chuyểndịch cơ cấu một cách nhanh chóng và có hiệu quả bền vững
Bảng 1: Cơ cấu ngành đến 2010 và 2020 như sau:
1.3 Xác định nguồn đảm bảo vốn đầu tư có thể trong kỳ kế hoạch
a- Đối với nguồn vốn trong nước
Trong những năm tới vốn của khu vực kinh tế Nhà nước không lớn,trong khi nguồn vốn tiềm năng trong các tầng lớp nhân dân chưa thể xác địnhđược Tuy nhiên nếu có chính sách đúng thì sẽ huy động được và sẽ chiếm tỷtrọng ngày càng tăng trong tổng vốn đầu tư Cùng với việc huy động vốntrong dân, cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của khu vực Nhà nước
Theo tính toán và dự báo ban đầu, khả năng huy động các nguồn vốn chođầu tư phát triển trong 5 năm tới vào khoảng 830 - 850 nghìn tỷ đồng (theo giánăm 2000) tương đương 59 - 61 tỷ USD, tăng khoảng 11 - 12%/năm, trong đónguồn vốn trong nước chiếm khoảng 2/3 Tỷ lệ đầu tư so với GDP chiếmkhoảng 31 - 32%, đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,4%/năm
b- Vốn nước ngoài
Trang 5Vốn ODA trong những năm tới phụ thuộc vào quan hệ giữa nước ta với các nước, vốn ODA coi trong sử dụng cho các lĩnh vực phát triển nguồn nhânlực và vốn FDI chúng ta đã đẩy mạnh việc thu hút vốn FDI chúng ta đã đẩymạnh việc thu hút vốn FDI thông qua các dự án đầu tư vào các khu côngnghiệp và khu chế suất
2- Vai trò của vốn đầu tư trong nước
2.1 Vai trò của vốn trong nước đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 đã xác định mụctiêu: "đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000 Nâng cao rõ rệt hiệuquả và sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp và nền kinh tế, đáp ứng tốthơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng thiếtyếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu Văn kiện Đạihội Đảng lần thứ IX chỉ ra:
Đưa GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995, giá trị sản xuất nông lâm - ngư nghiệp tăng 4,8%/năm, công nghiệp tăng 13% /năm dịch vụ tăng7,5%/năm Để thực hiện được mục tiêu trên thì tỷ lệ tích luỹ nội địa sẽ có khảnăng nâng lên 28 - 30% GDP Trong đó tích luỹ từ khu vực ngân sách khoảng6% thì khu vực dân cư doanh nghiệp 22 - 24% GDP
-Các nhà khoa học cũng dự tính rằng cơ cấu ngành trong GDP của ViệtNam vào năm 2020 như sau: Nông nghiệp chiếm 15 - 20% GDP còn côngnghiệp và dịch vụ chiếm 80 - 85% GDP Theo nhiều tính toán cho thấy đếnnăm 2020 cơ cấu của sản phẩm xuất khẩu như sau: 10 - 15% sản phẩm sơ cấp,
85 - 90% sản phẩm chế biến lâm nghiệp Tổng kim ngạch xuất khẩu chiếmkhoảng 25 - 30 GDP.Để những nục tiêu trở thành hiện thực Trong thời gian
Trang 6tới Việt Nam cần có một nguồn vốn lớn đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, trong đó nguồn vốn trong nước là chủ yếu
2.2 Các nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước
Cơ sở hình thành vốn đầu tư theo JRQ Kynes đó là từ nguồn tiết kiệmông cho rằng:
Tổng đầu tư = Tổng tiết kiệm
Trong nền kinh tế, hàng năm người ta đều tạo ra một khối lượng giá trịhàng hoá và dịch vụ cuối cùng họi là tổng sản phẩm quốc dân GDP tuỳ theomục đích khác nhau Một trong những cách xác định GDP là căn cứ vào mụcđích sử dụng của nó, theo cách này GDP được chia thành 2 bộ phận chínhTiết kiệm quốc dân (Su)
Tiêu dùng quốc dân (C)
IY
Trong đó: S: Hệ số tiết kiệm
Trang 7Y: Tổng sản phẩm quốc dânSu: Mức đầu tư
a) Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là nguồn đầu tư được lấy từngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước được hình thành từ các khoản thu của Nhà nước baogồm:
Nguồn thu từ thuế và lệ phí
Nguồn viện trợ từ nước ngoài
Nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước Nguồn thu từ việc cho thuê đất
Nguồn thu từ việc cho vay nợ
Các khoản chi từ ngân sách Nhà nước chủ yếu chi cho các mục đích sau:Chi thường xuyên: Đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên của Nhànước như cho việc trả lương; chi cho trả nợ đén hạn
Chi bất thường: Khoản chi xẩy ra bất thường mà Chính phủ không thểlường trước được như chiến tranh, thiên tai
Chi cho các hoạt động đầu tư phát triển
Như vậy, cho đầu tư phát triển được thực hiện sau chi thường xuyên Dovậy phải đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách để có thể thực hiện các chi phíthường xuyên và chi cho hoạt động đầ tư Đầu tư phát triển từ ngân sách chính
là tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường đầu tư đồng
Trang 8thời nâng cao trình độ phát triển của đất nước, tác động đến nhiều mặt của nềnkinh tế
b) Nguồn vốn dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội
Đây là nguồn vốn đáng kể trong tổng các nguồn vốn có thể dùng cho đầu
tư phát triển Nguồn vốn này chủ yếu là các khoản tiết kiệm trong dân tiềnmua công trái, tín phiếu, kho bạc Nhà nước, tiền đang dự trữ trong dân Quathực tế điều tra thống kê ở hầu hết các nước trên thế giới người ta cho rằngnguồn vốn đầu tư trong dân là rất lớn hơn nhiều so với nguồn vốn từ ngânsách Nhà nước
Theo đánh giá của các nhà thống kê Việt Nam thì lượng vốn trong dânđược huy động cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam còn quá ít Nhưng lạiđược dùng để đầu tư vào các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ hay sản xuất lao độngnhỏ lẻ Đó là những lĩnh vực rủi ro ít vòng quay của vốn nhanh
Do vậy, cần có những biện pháp hữu hiệu để thu hút nguồn vốn này phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thông qua các chính sách vềthuế về tiết kiệm và trái phiếu
có một thực trạng là số lượng tiền gửi ở các ngân hàng quá lớn trong khilượng tiền này chưa được đầu tư hoặc cho vay và các dự án đem lại hiệu quảcao
Trang 9Nguồn vốn tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn lớn nhưng để phát huyhiện quả nguồn vốn này cần có các chính sách thông thoáng trong điều kiệncho vay quản lý tốt các hoạt động đầu tư để đảm bảo tính hiệu quả cáo, có khảnăng bù đắp các khoản vay tín dụng
d) nguồn vốn tự có của doanh nghiệp
Nguồn vốn này được hình thành từ sự góp vốn của chủ doanh nghiệp để thành lập và duy trì hoạt động của Công ty Nguồn vốn này được chia thành 2phần: Một phần dùng làm quỹ dự trữ, phần còn lại được đưa vào sản xuất kinhdoanh Lợi nhuận của doanh nghiệp được chia thành 3 1uỹ chính như sau:+ Quỹ phát triển sản xuất kinh doanh
+ Quỹ dự trữ dự phòng
+ Quỹ phúc lợi khen thưởng
Nguồn bổ sung vào vốn của doanh nghiệp được lấy từ quỹ phát triển sảnxuất kinh doanh Mặt khác doanh nghiệp cũng có thể đầu tư làm tăng vốnbằng quỹ kkhấu hao cơ bản hoặc có thể dùng khoản tiền để chi trả cho cổđông, khách hàng
2.3 Ý nghĩa của vấn đề huy động vốn trong nước
Kinh nghiệm trong nước và quốc tế đã chỉ ra rằng các nguồn vốn từ bênngoài là rất quan trọng nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển nguồnvốn tích luỹ trong nước còn thấp như ở nước ta nhưng nguồn vốn trong nướcđóng vai trò chủ đãouats phát từ quan điểm phát huy nội lực đảm bảo sự bềnvững
Ngoài việc tập trung nguồn vốn bằng tiền mặt chúng ta còn phải khaithác hữu hiệu các nguồn lực tự nhiên như: Vị trí địa lý, khí hậu, đất đa rừng
Trang 10biển, tài nguyên thiên nhien… đặc biệt là biết khai thác nguồn lực xã hội nhưnguồn lao động dồi dào có trình độ cao, giá rẻ so với các nước trong khu vựcChính những điều đó chứng tỏ rằng vứi những nguồn lực kinh tế của đấtnước hiện nay chúng ta hoàn toàn có khả năng và điều kiện huy động tậptrung được nguồn vốn trong nước nhằm góp phần đóng vai trò quyết định đểtiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên tiềmnăng thì còn nhiều nhưng chúng ta có những giải pháp huy động và tập trungnguồn vốn như thế nào để tung đồng vốn vào dòng chu chuyển của nền kinh tế
có hiệu quả nhất
III- Kinh nghiệm của một số nước về việc huy động vốn đầu tư trong nước
1- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Khu vực tư nhân, bao gồm hệ cá thể và doanh nghiệp tư nhân có vai tròngày càng quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc Trước năm 1985, sảnlượng công nghiệp của khu vực tư nhân chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổngsản lượng công nghiệp mặc dù lao động trong khu vực này đã chiếm khoảng2% tổng lao động phi nông nghiệp năm 1981 Trong giai đoạn 1991 - 1997vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm khoảng 15 - 17% nhưng việc vay vốnlại gặp nhiều khó khăn, lượng vốn vay chỉ chiếm khoảng 0,87% tổng dư nợcủa các ngân hàng
Từ những năm 90, Trung Quốc đã tiến hành quá trình tư nhân hoá, giaiđoạn 95 - 98 tư nhân hoá với tốc độ rất nhanh và tất nhiên đã nhanh chóngnhận được những chỉ trích mạnh mẽ không chỉ từ phía những người cókhuynh hướng ta mà còn từ phía các nhà khoa học Bên cạnh đó Trung Quốccòn thực hiện việc mở cửa thị trường cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là
mở cửa khu vực tài chính vì lý do:
Trang 11Thứ nhất, đó và vấn đề đối xử bình đẳng giữa các loại hình sở hữu
Thứ hai, Trung Quốc cần nhiều ngân hàng nhỏ cung cấp vốn cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ, mà phần lớn trong số đó là doanh nghiệp tư nhân
Thứ ba, các ngân hàng tư ngân không chịu sự can thiệp của Chính phủ về
các chính sách cho vay như ngân hàng quốc doanh
2- Khuyến khích đầu tư ở Malaysia
Kể từ khi chấm dứt chủ nghĩa thực dân đến nay đường lối phát triển kinh
tế nói chung và chính sách phát triển công nghiệp nói riêng ở Malaysia đã thayđổi 3 lần:
- Giai đoạn 1957 - 1970 Malaysia chủ trương chuyển từ chính sách mậudịch tự do nhập khẩu hàng phế phẩm, sang bảo hộ kinh tế dân tộc ở mức vừaphải, đa dạng hoá sản xuất, khuyến khích sản xuất thay thế nhập khẩu
- Giai đoạn 1970 - 1980, Malaysia chuyển sang công nghiệp hoá hướng
về xuấtkhẩu - trong đó chú trọng các ngành công nghiệp nhẹ Biện pháp cơbản đó là tiếp tục thu hút mạnh vốn nước ngoài và kích thích hoạt động của tưbản trong nước
- Từ 1980 đến nay Malaysia chủ trương công nghiệp hoá dựa vào nguồntài nguyên trong nước và chú trọng phát triển công nghiệp nặng sử dụng nhiềuvốn và kỹ thuật cao, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào xuất khẩu Đạo luật thúcđẩy đầu tư được ban hành năm 1986 thay thế cho luật khuyến khích đầu tưnăm 1968
Các biện pháp khuyến khích của Malaysia khá đa dạng và phong phú Đó làmiễn giảm các loại thuế khấu trừ khỏi căn cứ trính thuế các chi phí đầu tư Khấuhao nhanh, tái đầu tư… được tính gấp đôi các chi phí liên quan đến bảo hiểmvốn, đào tạo tay nghề và kiến thức quản lý, chuyển giao đổi mới công nghệ
Trang 12CHƯƠNG II: NỘI DUNG KẾ HOẠCH VỐN ĐẦU TƯ
TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
I- Nội dung kế hoạch vốn đầu tư
1- Xây dựng nhu cầu khối lượng vốn đầu tư xã hội
a- Tổng nhu cầu khối lượng vốn đầu tư
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia vốn đầu tư làmột trong những yếu tố quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhu cầuvốn đầu tư với quá trình tăng trưởng kinh tế có thể tính toán theo mô hìnhHassod - Domas, phản ánh mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tỷ
lệ tiết kiện đầu tư và hệ só ICOR của nền kinh tế
S
g =
KTrong đó: g: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc dân
S: Tỷ lệ tích luỹ K: Hệ số gia tăng vốn sản lượngCông thức trên thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) là một đại lượng tỷ
lệ thuận với tỷ lệ tích luỹ trong GDP (s) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR (k).nếu gọi K là hệ số gia tăng vốn sản lượng đầu ra thì hệ số này được xác địnhbằng công thức:
Trang 13Như vậy: Hệ số ICOR sẽ phụ thuộc vào năng suất vốn, phụ thuộc vào tốc
độ trang bị vốn trên lao động và sự gia tăng năng suất lao động trong nền kinh
tế Nếu năng suất lao động tăng nhanh hơn so với tốc độ trang bị vốn thì hệ sốICOR sẽ không tăng mà giữ ở mức độ thấp
Dựa vào mô hình Harrod - Domar và mục tiêu tăng trưởng kinh tế giaiđoạn 2001 - 2005 là 7,5, ước tính nhu cầu vốn đầu tư nguồn trong nướckhoảng 70% thì nguồn nước ngoài khoảng 30%,
b) Xác định khả năng tiết kiệm của nền kinh tế kỳ kế hoạch
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế lỳ k + 1
YK+1 = Y=k + YKH
Yk và YK +1: Thu nhập kế hoạch của nền kinh tế năm K và năm K + 1
KK: Tổng vốn sản xuất năm kế hoạch
: Hệ số khấu hao
K: Hệ số ICOR
IK: Nhu cầu tiết kiệm kỳ gốc của kế hoạch (k+1)
Từ công thức trên ta thấy, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng giai đoạn
2001 2005 là 7,5%/năm GDP được tạo ra trong 5 năm vào khoảng 2650
Trang 14-2660 nghìn tỷ đồng, thì tổng quỹ tiêu dùng dự báo tăng khoảng 5,5%/năm, tỷ
lệ tích luỹ nội địa khoảng 28 - 30% GDP Trong đó từ khu vực ngân sáchkhoảng 6% GDP, từ khu vực dân cư doanh nghiệp khoảng 22 - 24% GDP
c) Phân chia tổng nhu cầu vốn đầu tư theo ngành và địa phương
Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội sẽ được định hướng đầu tư vào một
số ngành và lĩnh vực chủ yếu như sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nâng tỷ lệ đầu tư lên đạtkhoảng 13% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư vào các ngành công nghiệp nhất là các ngành mũi nhọn, để tănglực sản xuất và khả năng cạnh tranh một số sản phẩm hàng hoá, dự kiếm tỷtrọng chiếm khoảng 44% đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư cho lĩnh vực giai thông vận tải, bưu điện khoảng 15% vốn đầu
tư toàn xã hội
- Đầu tư vào các ngành khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo y tế,văn hoá xã hội khoảng 8% vốn đầu tư toàn xã hội
- Đầu tư vào các ngành khai thác như công nghiệp, cấp thoát nướckhoảng 20%
Nhà nước có thể trực tiếp và chủ động bố trí theo cơ cấu chiến lược bìnhquân hằng năm vào khoảng 35 - 39% Tổng vốn 65 - 70% trong tổng nguồnvốn để tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế vàokhoảng 30 - 35% kết cấu hạ tầng xã hội
Trang 15Bảng 2: Vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001 - 2005 theo ngành kinh tế
Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng (giá năm 2000)
Ngành kinh tế
2001-2005
2 Nông nghiệp, thuỷ lợi lâm
Nguồn: Bộ kế hoạch & đầu tư
Như vậy cơ cấu đầu tư đã được điều chỉnh theo hướng đẩy mạnh hơnviệc phát triển kinh tế bền vững, chú trọng huy động mạnh mẽ và sử dụng cóhiệu quả các nguồn vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển mạnh mẽsản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế
Trang 16Đối với các vùng kinh tế mục tiêu đặt ra là tất cả các vùng trong cả nướcphải được phát triển cân đối, hài hoà, phát huy được lợi thế so sánh hỗ trợ lẫnnhau nhằm thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong từng vùng lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế -xã hội
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001 - 2005 phân theo vùng kinh tế
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng (giá năm 2000)
Trang 17khăn đồng thời giảm tương đối nguồn vốn đầu tư trong các vùng kinh tế ĐôngNam Bộ và đồng bằng Sông Hồng
2- Câu đối nhu cầu với các nguồn đảm bảo vốn đầu tư xã hội
Mục tiêu của Việt Nam kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là đảm bảo tăngtrưởng kinh tế bình quân hằng năm 7,5%, nhu cầu đầu tư toàn xã hội khoảng
55 - 57 tỷ USD, nguồn vốn trong nước khoảng 70%, được tập trung vào cácnhiệm vụ sau:
- Xây dựng mới, cải tạo nâng cấp, mở rộng, đầu tư chiều sâu, duy tu bảodưỡng các công trình thuộc hạ tầng kinh tế
- Đầu tư xây dựng mới và duy trì bảo dưỡng các công trình thuộc hạ tầng
Iy: Vốn từ khu vực Nhà nước Ie: Vốn từ các doanh nghiệp Ih: Vốn từ các hộ gia đìnhNếu chỉ tính riêng nguồn ngân sách và vốn tín dụng Nhà nước thì dự kiến
sẽ đầu tư là 387, 7 nghìn tỷ đồng, chiếm 43% tổng vốn đầu tư phát triển Nếutheo phân loại hợp hơn thì với tổng số 387, 7 nghìn tỷ đồng, có khoản vốn từnguồn hỗ trợ chính thức ODA là 137, 2 nghìn tỷ đồng chiếm 35% tổng vốn
Trang 18đầu tư công cộng và như vậy vốn do tích luỹ của ngân sách thuộc nguồn vốntrong nước chỉ cho đầu tư mới và duy tu bảo dưỡng chiếm 65%.
Bảng 4: Nguồn vốn chương trình đầu tư công cộng năm 2001 - 2005
Đơn vị: nghìn tỷ đồng (giá năm 2000)
2001 - 2005
2-Vốn chi thường xuyên duy tu bảo dưỡng công trình
công cộng từ ngân sách Nhà nước
51,8
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Tổng nguồn vốn thuộc chương trình đầu tư công nghiệp trong 5 năm vàokhoảng 550 nghìn tỷ, gấp gần 1, 7 lần do với 5 năm trước, chiếm trên 62%tổng vốn đầu tư phát triển Nếu chỉ kể vốn trực tiếp của ngân sách và tín dụngthì chiếm 43% tổng vốn đầu tư phát triển
II- Tình hình huy động vốn đầu tư trong nước
1- Tình hình huy động vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Tổng số vốn đầu tư được huy động đưa vào nền kinh tế trong 5 năm 2001