1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển

102 753 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Tác giả Trịnh Thị Ngà
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Quang Minh
Trường học Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Ngoại Thương
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 13,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ thương mại hàng hóa qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển

Trang 2

VlệT NOM - TRUNG QUỐC ọun BIÊN GIỚI TR€N BỘ

Trang 3

MỤC LỤC LỜI M Ở Đ Ầ U Ì

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VẾ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI HÀNG HOA

QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM V À TRUNG QUỐC 3

Ì Ì) LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG T H Ư Ơ N G M Ạ I H À N G HOA QUA

BIÊN GIỚI TRÊN B Ộ 3 1.1.1) Đặc điểm của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ 3

1.1.2) Vai trò của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ lo

Ì 2) TÍNH TẤT YẾU V À KHẢ N Â N G PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

HÀNG HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA V Ệ T NAM V À TRUNG QUỐC 11

1.2.1)Tính tốt yếu của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới

trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc 11

1.2.2) Những thuận lợi và khó khăn cơ bản của Việt Nam trong việc phát

triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Trung Quốc 15

1.3) THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG M Ạ I H À N G HOA QUA BIÊN GIỚI

TRÊN B Ộ CỦA TRUNG QUỐC VỚI MỘT số NƯỚC L Á N G GIỀNG 21

1.3.1) Hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung

Quốc với Myanmar 22

1.3.2) Hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung

Quốc với LB Nga 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOA

QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM V À TRUNG QUỐC 26

2.1) ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - X Ã HỘI CỦA CÁC TỈNH TRÊN ĐỊA B À N KHU

Vực BIÊN GIỚI VIỆT -TRƯNG 26

2.1.1) Đặc điểm của 2 tỉnh biên giới Trung Quốc tiếp giáp vái Việt Nam 26

2.1.2) đặc điểm chung của các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam tiếp

giáp với Trung Quốc và hệ thống cửa khẩu biên giới 29

Trang 4

2.2) HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH MẬU DỊCH BIÊN GIỚI CỦA VIỆT NAM VÀ

TRUNG QUỐC KỂ TỪ KHI HAI NƯỚC BÌNH THƯỜNG HOA QUAN HỆ.30

2.2.1) Chính sách mậu dịch biên giới của Việt Nam với Trung Quốc 30

2.2.2) Chính sách biên mậu của Trung Quốc với Việt Nam 33

2.3) THỰC TRấNG HOấT ĐỘNG THƯƠNG MấI HÀNG HOA QUA BIÊN

GIỚI TRÊN BỘ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC 35

2.3.1) Vài nét về quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc 35

2.3.2) Tình hình xuất nhập khẩu hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa

Việt Nam và Trung Quốc 38

2.4) MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ HOấT ĐỘNG THƯƠNG MấI HÀNG HOA QUA

BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM-TRUNG QUỐC 52

2.4.1) Những tác động tích cực 52

2.4.2) Những tồn tại, hạn chế cần giải quyết 56

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐAY MẠNH HOẠT

ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA

VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 65

3.1) XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOấT ĐỘNG XUẤT

NHẬP KHẨU HÀNG HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ

TRUNG QUỐC 65 3.1.1) Xu hướng phát triển kinh tế thương mại thế giới trong những

năm tới 65 3.1.2) Xu hướng phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa qua

biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đến năm 2010.66

3.2) QUAN ĐIỂM VÀ Dự BÁO PHÁT TRIỂN HOấT ĐỘNG XUẤT NHẬP

KHẨU HÀNG HOA Ở KHU vực BIÊN GIỚI VIỆT NAM-TRUNG QUỐC 68

3.2.1) Quan điểm 68 3.2.2) Dự báo về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa qua biên giới trên

bộ Việt Nam-Trung Quốc thời kỳ đến năm 2010 70

3.3) MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YÊU NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MấI

HÀNG HÓA QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ VỚI TRUNG Quốc 72

Trang 5

3.3.1) Đổi mới và hoàn thiện các chính sách xuất nhập khẩu 72

3.3.2) Đ ổ i mới về tổ chức quản lý hoạt động thương mại hàng hoa tại

khu vực cửa khẩu biên giới Việt Nam - Trung Quốc 74

3.3.3) Đầu tư phát triển các khu kinh tế kinh tế, khu thương mại cửa

khẩu và chợ biên giới tại các cửa khẩu 77

3.3.4) Tích cực phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại 82

3.3.5) Một số giải pháp đối với doanh nghiệp và các chẢ thể kinh doanh

khác 84 KẾT LUẬN 89

TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O 91

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Ì Tính cấp thiết của đề tài:

Trong bối cảnh toàn cầu hoa kinh tế hiện nay hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới là một yêu cầu khách quan đối với bất cứ quốc gia nào trên con đường phát triển Vì vậy, từ nhiều năm nay Đảng ta đã chủ trương làm bạn với tất cả các nước, tăng cường hợp tác kinh tế -thương mại với tất

cả các quốc gia ặ mọi châu lục, đặc biệt là các nước láng giềng có chung biên giới với Việt Nam

Thực hiện chủ trương trên, gần 15 năm qua kể từ khi hai nước chính thức bình thường hoa quan hệ năm 1991, kinh tế-thương mại giữa Việt Nam

và Trung Quốc không ngừng phát triển Với những đặc thù riêng về sự hấp dẫn, giao lưu buôn bán hàng hoa qua khu vực biên giới Việt -Trung đã thực

sự trở thành vấn đề nóng bặng, luôn thu hút sự quan tâm của nhà nước cũng như các doanh nghiệp nước ta Sau khi các cửa khẩu được mở cửa, hoạt động

thương mại nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng đã có sự phát triển nhanh chóng, tác động tích cực đến việc phát triển kinh tế -xã hội của các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh có đường biên giới với Trung Quốc

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa xứng với tiềm năng và thế mạnh

của hai nước, nhiều tồn tại vẫn nảy sinh không chỉ làm ảnh hưởng mà còn cản trở sự phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ Việt Nam-

Trung Quốc, nhất là khi Trung Quốc gia nhập WTO và các thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng lớn

Do đó việc đánh giá một cách khách quan, đầy đủ thực trạng thương

mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Trung Quốc trong thời gian vừa qua, làm rõ những thành công, tồn tại, các nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Việt

Nam-Trung Quốc trong thời gian tới là một vấn đề cần thiết Từ nhận thức

đó, đề tài "Quan hệ thương mại hàng hoa Việt Nam -Trung Quốc qua biên giới trên bộ: thực trạng và giải pháp phát triển" đã được tác giả lựa chọn

làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

Trang 7

2 Mục tiêu chính của đề tài:

- Phân tích và hệ thống hoa những cơ sở lý luận về thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ và phất triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ

- Đánh giá có hệ thống thực trạng hoạt động thương mại hàng hoa và hoạt động phát triển thương mại hàng hoa của Việt Nam với Trung Quốc qua biên giới bộ trong thời gian qua, trong đó khóa luận đi sâu vào phân tích hoạt động tại một số cửa khẩu biên giới đường bộ chính thuộc địa bàn các tỏnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai Trên cơ sở dó rút ra những thành công, tồn tại, nguyên nhân của nó và sự tác động của nó đối với kinh tế- xã hội của cả nước, của khu vực các tỏnh biên giới với Trung Quốc

- Đ ề xuất các giải pháp để phát triển hơn nữa hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa của Việt Nam ở khu vực thị trường biên giới trên bộ với Trung Quốc trước những đòi hỏi mới của tình hình trong nước và quốc tế

3) Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu về nội dung là các chính sách, cơ chế, quyết định của nhà nước Việt Nam về quan hệ thương mại hàng hoa qua biên giới trên

bộ với Trung Quốc

Về thời gian nghiên cứu, đề tài tập trung vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa Việt Nam-Trung Quốc qua biên giới trên bộ thời kỳ 1991-2004

4) Phương pháp nghiên cứu :

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như : phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích thống kê, phương pháp nghiên cứu lý luận, tham khảo qua tài liệu

5) Kết cấu của khoa luận : gồm 3 chương (ngoài phần mở đầu và kết luận)

Chương 1: Khái quát về phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới

trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Chương 2 : Thực trạng hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới

trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Trang 8

C H Ư Ơ N G Ị

K H Á I Q U Á T V Ề P H Á T TRIỂN T H Ư Ơ N G M Ạ I H À N G HOA QUA

BIÊN GIỚI T R Ê N B Ộ GIỮA VIỆT N A M V À TRUNG Q U Ố C

1.1) LÝ LUẬN CHUNG VẾ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ

1.1.1) Đặc điểm của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giói

trên bộ

1.1.1.1) Khái niệm và các hình thức của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ

* Khái niệm

Nhìn chung, quan điểm về thương mại hàng hoa qua biên giới có nhiều

thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, tùy thuộc vào cách nhìn nhận của từng quốc

gia về vai trò của thương mại biên giới Có thể tóm lược một vài quy định căn

cứ theo các văn bản pháp luật đã được Chính phủ nước CHXHCN Viồt Nam

và CHND Trung Hoa ký kết như sau:

- Theo "Hiồp định tạm thời về viồc giải quyết công viồc trên vùng biên

giới hai nước giữa chính phủ nước CHXHCN Viồt Nam và Chính Phủ CHND

Trung Hoa" ký ngày 7/1 l/1991(chương V), hoạt động thương mại tại khu

vực biên giới bao gồm hai hình thức.- mậu dịch biên giới và mậu dịch địa

phương với chủ thể kinh doanh là các tổ chức kinh doanh có quyền kinh doanh mậu dịch biên giới và mậu dịch địa phương của hai nước

- Theo "Hiồp định về mua bán hàng hoa ở vùng biên giới giữa Chính

Phủ nước CHXHCN Viồt Nam và Chính Phủ CHND Trung Hoa" ký kết ngày

19/10/1998 (điều 1) hoạt động thương mại tại khu vực biên giới bao gồm:

hoạt động mua bán hàng hoa của các doanh nghiệp được xuất nhập khẩu hàng hoa ở vùng biên giới theo quy định của mỗi bên và của các cư dân biên giới, thông qua các cửa khẩu biên giới trên bộ, chợ biên giới dược hai bên

Trang 9

đã cho phép điều chỉnh thêm phần hoạt động mua bán hàng hoa ở vùng biên

giới do cư dân thực hiện chưa được quy định trong hiệp định tạm thời

- Mới đây, theo quyết định số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24/11/2003 của Thủ tướng Chính Phủ về quản lý buôn bán hàng hoa qua biên giới với các nước có chung biên giới có quy định: (diềul) hoạt động buôn bán hàng hoa

qua biên giới gồm "hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoa của cư dân biên

giới; buôn bán tại các chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu và hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa qua biên giới"

Như vậy, có thử đưa ra một cách hiửu chung nhất về hoạt động thương

mại hàng hóa qua biên giới như sau:

Thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoa của các doanh nghiệp và cư dân được tiến hành trực tiếp tại khu vực biên giới đường bộ giữa hai nước

Thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa các nước không chỉ đơn thuần là hoạt động buôn bán hàng hoa qua các cửa khẩu biên giới mà nó

có phạm vi rộng hơn, bao trùm các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa được diễn ra ở dọc khu vực biên giới hai nước, có thử là ở các cặp chợ biên giới

hay thậm chí ở các đường mòn biên giới với khối lượng và giá trị xác định

theo quy định của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương nơi có cửa khẩu,

chợ hay đường mòn biên giới Đây là hình thái mở đầu của mậu dịch quốc

tế và là bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh tế đổi ngoại của mỗi nước

* Các hình thức :

Có thử nói, thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ bao bom các

hình thức cơ bản sau :

Một là xuất nhập khẩu chính ngạch: đây là hoạt động thương mại được

tiến hành theo tập quán và thông lệ quốc tế tại khu vực biên giới giữa các

nước mà theo đó các doanh nghiệp hoặc tư nhân căn cứ vào hiệp định thương mại giữa các Chính Phủ đử ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoa và chịu

sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền của hai bên tại biên giới Họ phải

tự cân bằng xuất- nhập, tự hạch toán lỗ lãi và tuân thủ mọi quy định về thương mại hàng hoa qua biên giới bộ của cả hai quốc gia

Trang 10

Đặc điểm của xuất nhập khẩu chính ngạch thường có quy m ô lô hàng lớn, đáp ứng cho những đoạn thị trường lớn, nghiệp vụ phức tạp, thời gian kéo dài và kém linh động nhưng thường chiếm tỉ trựng lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu ở mỗi khu vực biên giới

Theo Chỉ thị số 94/CT ngày 25/3/1992 về "Tổ chức và quản lý thị trường vùng biên giới Việt -Trung trong tình hình mới", những hàng hoa xuất nhập khẩu qua biên giới theo giấy phép của Bộ thương mại được gựi là mậu dịch (xuất nhập khẩu) chính ngạch Những hàng hoa xuất nhập khẩu chính ngạch phải lưu thông qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia, dồng thời phải chấp hành đầy đủ các thủ tục xuất nhập khẩu theo thông lệ và tập quấn quốc tế Mặc dù cho đến nay, Nhà nước đã bãi bỏ hình thức giấy phép xuất nhập khẩu nhưng vẫn chưa

có một văn bản nào quy định lại thế nào là mậu dịch chính ngạch

Hai là xuất nhập khẩu tiểu ngạch: hình thức này thường được tiến

hành giữa các thương nhân tại khu vực biên giới giữa hai nước trên cơ sở của nguyên tắc tự tìm kiếm nguồn hàng, khách hàng, tự đàm phán, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Xuất nhập khẩu tiểu ngạch là hoạt động xuất nhập khẩu của những người kinh doanh nhỏ Đặc điểm cơ bản của hoạt động này là những lô hàng

có quy mô nhỏ, dễ tiến hành, tiến hành nhanh chóng, có tính linh hoạt cao, nghiệp vụ đơn giản, tiến hành theo thói quen và tập quán kinh doanh của từng cửa khẩu, khi có tranh chấp thương mại thường tự giải quyết với nhau Đây là hình thức kinh doanh có tính đặc thù tại các khu vực biên giới, chủ yếu do cư dân tại các khu vực biên giới tiến hành, nhưng lại giữ một vị trí quan trựng trong hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ ở mựi quốc gia, làm tăng đáng kể kim ngạch xuất nhập khẩu, thúc đẩy nền kinh tế đất nước, đặc biệt là kinh tế của các địa phương khu vực biên giới phất triển Cũng theo quy định của Chỉ thị trên, hàng hoa xuất nhập khẩu theo giấy phép của Uy ban nhân dân tỉnh gựi là mậu dịch tiểu ngạch

Ba là trao đổi hàng hoa cửa cư dân biên giới: đây là hoạt động trao đổi

hàng hoa giữa dân cư các địa phương biên giới với dân cư nước láng giềng trong phạm vi địa lý quy định dực theo đường biên giới, được thực hiện tại các

Trang 11

cặp đường m ò n , cặp chợ đường biên do hai nước dồng ý mở Hàng hoa đ e m ra trao đổi thường do t ự sản xuất ra, không có tính chất mua đi bấn lại

Hình thức buôn bán này nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân vùng biên giới, do điều kiện đừa hình không thuận l ợ i , hàng hoa không thể chuyển t ừ miền xuôi lên được hoặc nếu được thì chi phí rất cao, trong k h i việc qua l ạ i biên giới để mua hàng rất dễ dàng, hàng hoa tại các chợ vùng biên giới sẵn có và giá rẻ

Tuy nhiên sự phân biệt trẽn không phải lúc nào cũng rõ ràng Nhiều

k h i hàng chính ngạch dược chuyển qua cấc cửa khẩu dành cho buôn bán tiểu ngạch, điều đó phụ thuộc vào mức thuế của các loại hàng hoa trong từng thời điểm khác nhau H ơ n t h ế nữa, quan niệm của hai nước V i ệ t Nam và Trung Quốc đối v ớ i hàng hoa xuất nhập khẩu qua biên giới cũng khác nhau

Đ ố i với Trung Quốc, thương mại quốc tế được phân chia làm hai loại: mậu dừch quốc gia (quốc mậu) và mậu dừch biên giới (biên mậu) Theo văn bản "Biện pháp tạm thời quản lý ngoại tệ mậu dừch biên g i ớ i " do cục quản lý ngoại tệ của Trung Quốc ban hành năm 1997 thì mậu dừch biên giới được giải thích bao gồm: mậu dừch chợ cư dân biên giới, mậu dừch tiểu ngạch biên giới, hợp tác kinh tế-kỹ thuật đối ngoại của k h u vực biên giới Do quan niệm khác nhau nên có những lô hàng qua biên giói m à Việt Nam gọi là chính ngạch thì phía Trung Quốc lại xem là hàng biên mậu Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khác biệt trong các con số thống kê giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc về hàng hoa xuất nhập khẩu qua biên giới

1.1.1.2) Đặc điểm của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ

Hoạt động thương mại thương mại qua biên giới trên bộ là một hoạt động thương mại quốc tế, cho nên nó mang đẫy đủ các đặc điểm chung của hoạt dộng thương mại quốc tế, ngoài ra nó còn có đặc điểm riêng của hoạt động thương m ạ i hàng hoa tại các đường biên giới bộ V i ệ c nghiên cứu và phân tích một cách hệ thống, đầy đủ các đặc điểm của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ tạo cơ sở vững chắc để đưa ra các biện phấp thích hợp phát triển hoạt động thương m ạ i hàng hoa qua biên giới trên bộ

Trang 12

trong điều kiện cụ thể nhất định Có thể nêu ra một số đặc điểm chính của hoạt động này là :

- Thứ nhất là chủ thể kinh doanh rất đa dạng: tham gia vào hoạt động

kinh doanh xuất nhập khẩu thường là các doanh nghiệp có quy mô, có trình

độ nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong hoạt động xuất nhập khẩu và phải là "các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật và phải đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tớnh, thành phố"

Nhưng hoạt động xuất nhập khẩu tại các khu vực cửa khẩu biên giới, các chủ thể kinh doanh rất đa dạng, bao gồm nhiều loại hình: doanh nghiệp quốc doanh, các công ty TNHH, công ty cổ phần, các hộ kinh doanh cá thể

và cả các thương nhân nước ngoài đến tham gia Các đối tượng này không còn giới hạn trong địa bàn vùng và các tớnh biên giới mà đã mở ra các tớnh, thành trong cả nước Trong đó các công ty TNHH, cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng khá lớn làm cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới trở thành da dạng, phong phú và cũng trở nên rất phức tạp

- Thứ hai là điều kiện kinh doanh tương đối thuận lợi: một đặc trưng

cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế là các bên tham gia mua bán ở các quốc gia khác nhau, nhiều khi có phạm vi địa lý rất xa nhau, có tập quán mua bán khác nhau, thể chế chính trị, văn hoa và luật pháp khác nhau, do đổ tạo nên những rủi ro và khó khăn chung trong hoạt động thương mại quốc tế như: quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường, giao dịch, đàm phán ký kết hợp đổng và tổ chức thực hiện các hợp đổng đó

Còn hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ có một thuận lợi cơ bản là hai bén có chung đường biên giới trên bộ với nhau, có một mối quan hệ gắn bó lâu đời của dân cư hai bên vùng biên giới, thậm chí có những tập quán văn hoa khá tương đồng nhau và giữa hai quốc gia thường ký kết các hiệp định và có các thoa thuận khác để tạo điều kiện phát triển thương mại giữa hai quốc gia nói chung và phát triển thương mại tại khu vực

Trang 13

biên giới nói riêng Do đó hoạt động thương mại tại khu vực biên giới có những thuận lợi cơ bản sau :

+ Tiến hành các nghiệp vụ xuất khẩu đơn giản và thuận tiện

+ Thuận lợi trong vấn đề nghiên cứu tiếp cận thị trường và hoạch định các chiến lược kinh doanh

+ Thuận tiện trong quá trình vận chuyển bảo quản hàng hoa, chi phí vận chuyển và chi phí bảo quản thấp, điều này có ý nghĩa quan trỷng đối với những mặt hàng có tỷ trỷng chi phí vận chuyển và bảo quản trong giá thành cao Giảm được chi phí này sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh cho những mặt hàng này Lợi thế cạnh tranh này các quốc gia ở xa không thể có được

- Thứ ba là phương thức kinh doanh linh hoạt: hoạt động xuất nhập

khẩu tại các khu vực cửa khẩu biên giới áp dụng nhiều phương thức kinh doanh khác nhau như xuất nhập khẩu trực tiếp, xuất nhập khẩu thông qua các đại lý, môi giới, mua bấn đối lưu, gia công quốc tế Điểm đáng chú ý là nhiều khi quy trình xuất nhập khẩu không được áp dụng và tuân thủ một cách nghiêm ngặt, mà đối với những lô hàng nhỏ hoặc đối với một số đối tượng kinh doanh nhất định người ta tiến hành theo thói quen, theo tập quán buôn bán tại các cửa khẩu biên giới

- Thứ tư là quy mô hoạt động rất khác nhau: hoạt động xuất nhập

khẩu tại các cửa khẩu biên giới có quy mô rất khác nhau Có thể có những lô hàng xuất nhập khẩu có quy mô rất lớn, được tiến hành bài bản theo đúng quy trình xuất nhập khẩu, áp dụng nghiêm ngặt các quy định và luật pháp quốc tế, hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Ngoài ra, những lô hàng

có quy m ô nhỏ cũng chiếm một tỷ trỷng rất lớn, nhiều khi có những lô hàng nhỏ chỉ đáp ứng nhu cầu cho một tập khách hàng rất nhỏ ở khu vực biên giới Những lô hàng này không yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng nghiệp vụ, tiến hành đơn giản, tính linh hoạt cao, khả năng đổi mới mặt hàng nhanh, nguồn hàng cũng rất đa dạng phong phú khác nhau, chỉ thích hợp xuất nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Và đây là những đặc thù của hoạt động thương mại ở khu vực biên giới

- Thứ năm là mặt hàng kinh doanh đa dạng và phức tạp: mặt hàng

kinh doanh xuất nhập khẩu cũng rất đa dạng và phức tạp, có tính linh hoạt

Trang 14

cao N ó có thể là những mặt hàng được sản xuất tại các k h u cửa khẩu biên giới, tại cấc tỉnh biên giới, tại các tỉnh trên toàn quốc, thậm chí tại các quốc gia khác C ơ cấu hàng hoa trao đổi có tính chất bổ sung ưu t h ế và h ỗ trợ cho nhau.Và những mật hàng này cũng có nhiều mức chất lượng khác nhau, phù hợp v ớ i trình đờ và l ợ i t h ế của m ỗ i nước Đ ặ c biệt, hoạt đờng xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới có thể mua bán những hàng hoa có thời gian bảo quản ngắn, dễ hư hỏng hoặc suy giảm chất lượng như hàng rau quả và các thực phẩm tươi sống

- Thứ sáu là phương thức thanh toán linh hoạt nhưng đầy rủi ro: trong

mua bán quốc tế, để hạn chế rủi ro có thể xảy ra các doanh nghiệp thường chọn ngoại tệ mạnh để làm đồng tiền thanh toán và thường tiến hành thanh toán qua hệ thống các ngân hàng với các phương thức thanh toán như chuyển tiền, nhờ thu, L/C Tuy vào quy m ô và tính chất của thương vụ m à lựa chọn các phương thức thanh toán phù hợp để đảm bảo an toàn cho quá trình thanh toán với chi phí thấp nhất Hoạt đờng thanh toán xuất nhập khẩu ở k h u vực biên giới ngoài những đặc điểm trên còn có những đặc điểm riêng biệt như thanh toán không thông qua hệ thống ngân hàng m à theo phương thức thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua (có thể trả ngay hoặc trả chậm) và

sử dụng đồng tiền thanh toán của nước người bán và người mua, chiếm mờt

tỷ trọng khá lớn trong các hoạt đờng mua bán ở k h u vực biên giới N ó đảm bảo tính linh hoạt cho hoạt đờng mua bán, nghiệp vụ tiến hành đem giản nhưng lại dễ xảy ra rủi ro

- Thứ bẩy là dễ phát sinh hiện tượng buôn lậu và gian lận thương mại:

do điều kiện thương m ạ i thuận l ợ i tại các cửa khẩu biên giới, lại được N h à nước áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển k i n h tế và đầu tư H ơ n nữa, địa hình các k h u vực biên giới thường rất hiểm trở, phức tạp, hoạt đờng thương mại tại các cửa khẩu biên giới lại rất đa dạng về nhiều mặt, cho nên rất dễ phát sinh các hiện tượng buôn lậu qua biên giới, gian lận thương mại

và các tệ nạn khác

T ó m lại, hoạt đờng thương mại tại các cửa khẩu biên giới có những đặc điểm riêng biệt của nó, do đó cần phải có những biện pháp tác đờng phù hợp với các đặc điểm trong những điều kiện cụ thể để có thể phát triển mờt cách

Trang 15

hiệu quả nhất hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ Do đặc điểm về chủ thể kinh doanh, về mặt hàng kinh doanh, tính đa dạng về phương thức và quy m ô , mức độ thuận tiện trong hoạt động kinh doanh nên hoạt động mua bán tại các k h u cửa khẩu có tính linh hoạt rất cao N ó có khả năng thay đổi rất nhanh và tuân thủ theo nguyên tắc "tăng t ố c " trong k i n h doanh thương mại quốc tế C ó nghĩa là nhu cờu thực tế của thị trường thay đổi một thì nhu cờu về xuất nhập khẩu có thể thay đổi nhiều lờn Các doanh nghiệp cờn hiểu rõ nguyên tắc này, nếu không dễ bị cuốn theo dẫn đến những rủi ro đáng kể 1.1.2) Vai trò của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trẽn bộ

Không thể phủ nhận được vai trò vô cùng quan trọng của hoạt động trao đổi hàng hoa giữa các quốc gia có chung đường biên giới trên bộ với nhau

C ó thể nói, nếu hợp tác trao đổi hàng hoa v ớ i các quốc gia trên thế giới

là một yêu cờu tất yếu khách quan trên con đường phát triển nền kinh tế đất nước, thì hợp tác kinh tế và trao đổi hàng hoa v ớ i quốc gia có chung đường biên giới là bước đờu tiên tập duyệt trong l ộ trình trao đổi hợp tác với các quốc gia khác trong k h u vực và trên toàn thế giới

Thông qua việc mua bán tại các cửa khẩu biên giới có thể gián tiếp hoặc trực tiếp m ở rộng buôn bán v ớ i các quốc gia khác, đặc biệt là những quốc gia có chung đường biên giới hoặc có quan hệ thương mại tốt với nước bạn, từ đó có thể m ở rộng buôn bán với các nước trong k h u vực và thế giới

T h ê m vào đó, hoạt động này góp phờn tích cực trong việc phát triển hoạt động thương m ạ i quốc tế của đất nước, làm tăng đáng kể k i m ngạch xuất nhập khẩu V ớ i tính linh hoạt, đa dạng của hoạt động xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu góp phờn m ở rộng thị trường quốc tế, phát triển sản xuất trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đặc biệt, v ớ i việc xuất nhập khẩu những mặt hàng có t h ế mạnh, chúng

ta có thể phát huy được l ợ i thế so sánh, sử dụng triệt để các nguồn lực, có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, cũng như tiếp cận được các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của nước bạn để phát triển k i n h tế đất nước và các địa phương ở k h u vực biên giới

Trang 16

Ngoài ra, hoạt động này không những tạo điều kiện phát triển k i n h t ế đất nước, k i n h t ế địa phương m à còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở các tỉnh biên giới, từ đó kết hợp hài hoa giữa tăng trưởng k i n h t ế

và công bằng xã hội, góp phần tạo nên sử cân đối đồng đều về k i n h tế giữa thành thị và các tỉnh miền núi H ơ n nữa, thửc hiện mua bán tại các cửa khẩu giúp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn, nhạy bén hơn, buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi m ớ i để thích nghi với điều kiện thị trường ngày càng yêu cầu cao hơn và khắt khe hơn

Cuối cùng, thông qua hoạt động buôn bán tại các cửa khẩu để m ở rộng

và phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, góp phẩn thửc hiện đường l ố i đối ngoại của Đảng và N h à nước, bảo vệ an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

1.2) TÍNH TẤT YẾU VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

1.2.1)Tính tát yếu của hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Ngày 18/1/1950 hai nước Việt N a m dân chủ cộng hoa và cộng hoa nhân dân Trung H o a chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.Tháng 4/1952, hai nước thông qua "BỊ vọng lục mậu dịch"; những n ă m sau đó lại ký tiếp các nghị định về buôn bán như Nghị định thư buôn bán tiểu ngạch biên giới Việt -Trung n ă m 1955, Nghị định thư trao đổi hàng hoa biên giới Việt -Trung năm 1957 Buôn bán qua biên giới giai đoạn 1959-1979 được thửc hiện chủ yếu thông qua các nghị định thư được ký kết hàng n ă m giữa Chính Phủ hai nước, trong đó ấn định m ở 3 cặp cửa khẩu và 28 điểm trao đổi hàng hoa Theo thoa thuận, có 2 hình thức buôn bán là tiểu ngạch (giữa nhân dân hai bên vùng biên giới) và các công ty quốc doanh của các địa phương hai bên dọc đường biên

Từ những n ă m 1965-1975, hoạt động giao lưu k i n h tế ngoài mục đích trao đổi, thương mại còn mang tính chất viện trợ cho V i ệ t N a m chống M ỹ cứu nước Lúc này trên biên giới đã có 28 cặp cửa khẩu (trong đó có 4 cứa

Trang 17

khẩu quốc tế, 10 cặp cửa khẩu quốc gia và 14 cặp cửa khẩu tiểu ngạch) Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách độc quyền ngoại thương, ngoại hối, cơ quan quản lý xuất nhập khẩu ở khu vực biên giới gồm 4 thành phần: Thương nghiệp (quản lý mậu dữch xuất nhập khẩu), Ngân hàng, Hải quan và Công an

vũ trang Tháng 2/1979 chiến tranh biên giới phía bắc xảy ra, từ đó quan hệ giao lưu giữa hai nước bữ gián đoạn Đến tháng 11/1988 hai nước tiến hành

mở cửa lại biên giới và ngày 7/11/1991 hai nước chính thức bình thường hoa quan hệ bắt đầu một thời kỳ phát triển mãnh mẽ trong quan hệ thương mại giữa hai nước nói chung và trong hoạt động mậu dữch biên giới nói riêng Sự phát triển mới này là một tất yếu do những nguyên nhân chủ yếu sau đây :

1.2.1.1) Nguyên nhân khách quan

Có thể nói, xu hướng quốc tế hoa và khu vực hoa đang diễn ra trên tất

cả các lục đữa, sự hợp tác kinh tế trên thế giới hiện nay phát triển hơn bao giờ hết Hợp tác khu vực để liên kết kinh tế cùng phát triển và khu vực hoa là nhữp cầu cần thiết để đi đến toàn cẩu hoa Việt Nam-Trung Quốc nằm trong khu vực ổn đữnh nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới Quanh khu vực, nhiều tam giác tâng trưởng, một hình thức hợp tác kinh tế khu vực mới ở Châu Á-Thái Bình Dương, đã hình thành tam giác như: tam giác Singapo - Malaixia - Indonesia hay tam giác biển vàng nối Đài Loan, Hàn Quốc với miền Đông Nam Trung Quốc Nhiều vùng tâng trưởng tiểu khu vực cũng bắt đầu hình thành như tiểu vùng sông MêKông (3 nước Đông Dương, Thái Lan, Mianma, Trung Quốc), tiểu vùng sông Tumen (Trung Quốc, Nga, Nhật, Mông cổ ) Mối quan hệ Việt -Trung cũng không thể tránh khỏi xu thế này

Hơn nữa, do nhân dân hai bên vùng biên giới có mối quan hệ lâu đời mật thiết, thậm chí là mối quan hệ họ hàng ruột thữt, nhiều khu vực có phong tục, tập quán giống nhau Khi có chiến tranh biên giới nổ ra các mối quan hệ này cũng bữ gián đoạn, do đó nhân dân hai vùng biên luôn mong mở cửa biên giới dể họ có thể qua lại thăm thân nhân

1 Theo " Đổi mới quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu trên đữa bàn các tinh biên giới Việt Trung Quốc" / trang 86 ( Lương Đãng Ninh)

Trang 18

Nam-Một nguyên nhân nữa xuất phát từ lợi ích của việc mở cửa và thực hiện các hoạt động mậu dịch biên giới Khi mở cửa khu vực biên giới, hàng hoa từ Trung Quốc sẽ sang Việt Nam và trước mắt giẹi quyết được tình trạng thiếu thốn của nhân dân khu vực này Hơn nữa, với hàng hoa có giá rẻ, hình thức đẹp, mặc dù chất lượng chưa cao song lại phù hợp vói thu nhập và sức mua không chỉ của cư dân biên giới mà cẹ cư dân nông thôn và thành thị có thu nhập thấp Mặt khác, khu vực biên giới mà tự cẹi thiện và nâng cao đời sống thì ngân sách nhà nước sẽ bớt đi phần gánh nặng

Hiện nay Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương APEC, đều có nghĩa vụ thực hiện các cam kết trong chương trình hành động riêng và chương trình hành động tập thể của các nước APEC nhằm xây dựng một khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tự do về thương mại và đẩu tư Và như vậy, việc tự do lưu chuyển hàng hoa giữa Việt Nam và Trung Quốc qua biên giới trên bộ là tất yếu không thể thiếu nhằm thực hiện tự do hoa thương mại và đầu tư nội bộ khối trong khoẹng thời gian không chậm hơn năm 2020

1.2.1.2) Nguyên nhãn chủ quan

Về phía Trung Quốc, mậu dịch biên giới được coi là bước đi đầu tiên mang tính chất mở đường cho chiến lược mở cửa ven biên giới đất liền của Trung Quốc

Năm 1978, sau hội nghị Trung ương khoa l i của Đẹng Cộng sản

Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc bắt đầu mở cửa từ từ từng khu vực hình

thành "thê mở cửa đối ngoại nhiều tầng nấc, ra mọi hướng, theo phương

châm mở cửa từ điểm tới tuyến, từ tuyến tới diện" Cụ thể là mở cửa toàn

phương diện, nhiều hình thức, nhiều tầng: từ đặc khu kinh tế đến thành phố

mở cửa ven biển- mở cửa nội địa và ven biên giới đất liền Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới được xác định chung là: lấy mậu dịch biên

giới dẫn đường, coi hỗp tác kinh tế là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ

dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh làm mục tiêu Việt

Nam giáp với 2 tỉnh Quẹng Tây và Vân Nam của Trung Quốc -2 tỉnh nằm trong vành đai kinh tế "đại Tây Nam"của Trung Quốc bao gồm Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Tây Tạng và Quẹng Tây Trong đó Quẹng Tây được

Trang 19

xem là hành lang r a biển cho toàn bộ vùng Tây Nam này N h ư vậy, tăng cường giao lưu k i n h tế với V i ệ t N a m không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển của bản thân 2 tỉnh trên m à còn phát huy tác dụng đối với sự phát triển của toàn vùng Tây Nam rộng lớn

V ề phía V i ệ t Nam, Chính sách của Đ ả n g và N h à nước ta là kiên trì thực hiện đưòng l ố i k i n h tế m ở và hội nhập k i n h tế thế giới V i ệ t Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trửng chủ quyền của nhau và hai bén cùng có lợi, vì vậy nếu quan hệ Việt -Trung vẫn căng thẳng thì không thể thực hiện được chính sách đối ngoại của mình M ở cửa biên giới được coi là bước đi đáu tiên để tiến tới bình thường hoa quan hệ giữa hai nước Ngoài ra, để đảm bảo an ninh quốc phòng, vùng biên phải là k h u vực

ổn định về k i n h tế và chính trị Do tình hình đòi hỏi V i ệ t Nam và Trung Quốc phải m ở lại các cửa khẩu biên giới để nhân dân vùng biên được tự do buôn bán, trao đổi hàng hoa nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng và của sản xuất, tạo điệu kiện nâng cao đời sống kinh tế của các tỉnh biên giới, từ đó m ớ i có thể

N h ư vậy, trong x u thế hợp tác phát triển, thực hiện tự do hoa thương mại giữa các nước trên thế giới, nhất là với quan hệ đặc biệt của hai nước láng giềng hữu nghị giữa V i ệ t Nam và Trung Quốc, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa 2 nước được diễn ra như một tất yếu

M ộ t điều cần nhấn mạnh là hiện nay, k i n h tế t h ế giới và mậu dịch toàn cầu đang phát triển với tốc độ nhanh Các cam kết đa phương và toàn cầu đã

và đang làm cho biên giới quốc gia về thương m ạ i và đầu tư dần đến không tồn tại, các doanh nghiệp được tự chủ k i n h doanh và phát triển ở tất cả các nước Nếu không đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia láng

Trang 20

V i ệ t -Trung, cả hai nước sẽ không thể dấp ứng được yêu cầu chung của quá trình phát triển thương m ạ i và mậu dịch toàn cầu

1.2.2) Những thuận lợi và khó khăn cơ bản của Việt Nam trong việc phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Trung Quốc

1.2.2.1) Những thuận lợi cơ bản

Sau k h i bình thường hoa quan hệ giữa Việt Nam-Trung Quốc, hoạt động thương m ạ i hàng hoa trên thị trường k h u vừc biên giới hai nước đã đạt được những kết quả đáng kể Trong tương lai, hoạt động này sẽ còn phát triển với tốc độ cao hơn nhiều so với hiện tại Điều này có khả năng trở thành hiện thừc do có được những thuận lợi cơ bản sau :

- Thứ nhất, chính phủ Việt Nam và Trung Quốc đều ủng hộ việc phát triển thương mại hàng hoa qua các cửa khẩu biên giới:

Chính Phủ Việt Nam đang chủ trương phát triển kinh tế theo hướng mở cửa và hội nhập, do đó việc m ở cửa biên giới và phát triển thương mại hàng hoa trên thị trường k h u vừc biên giới với Trung Quốc sẽ ngày càng m ở rộng

Từ nhiều năm nay, Chính Phủ 2 nước đã ký rất nhiều các Hiệp định về mậu dịch biên giới và các hiệp định về các vấn đề có liên quan đến mậu dịch biên giới để phát triển thương mại hàng hoa trên k h u vừc thị trường này Gần đây nhất "Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong t h ế kỷ m ớ i giữa Chính Phủ nước cộng hoa nhân dân Trung Hoa và Chính Phủ nước cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" sẽ là cơ sở vững chắc cho quan hệ hợp tác kinh tế nói chung

và quan hệ thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa 2 nước nói riêng được phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng ổn định

Đặc biệt, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã h ộ i của V i ệ t Nam đến năm 2010 và chiến lược xuất khẩu đến năm 2010, Đ ả n g ta chủ trương đẩy mạnh phát triển hoạt động xuất nhập khẩu v ớ i các nước nói chung và v ớ i Trung Quốc nói riêng V ớ i những thuận l ợ i về từ nhiên và xã h ộ i của hai nước, Việt Nam không thể không quan tâm đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường đông dân nhất t h ế giới (1,2887 tỷ người n ă m 2003) và tốc độ tâng trưởng kinh t ế cao (bình quân giai đoạn 1991-2001 là 9.5%/năm), sức tiêu thụ hàng hoa rất lớn như Trung Quốc

Trang 21

T h ê m vào đó, cấc tỉnh thuộc k h u vực thị trường biên giới Việt Trung Quốc trong k h i xây dựng chiến lược phát triển k i n h tế-xã hội và Chương trình xuất khẩu của mình cũng rất chú trọng đến việc thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hoa với Trung Quốc qua các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu quốc gia trên địa bàn tỉnh Theo tinh thản Nghị quyết Trung ương 7 về hội nhập k i n h tế quốc tế, các tỉnh đang tiến hành xây dựng Chiến lược hội nhập k i n h tế trên phạm v i địa bàn tỉnh nhằm thực hiện Chiến lược hội nhập của cả nước

Nam-V ề phía T r u n g Quốc, phát triển mậu dịch trên thị trường k h u vực biên giới dược coi là bước đi có tính chất m ở đường cho chiến lược mở cửa ven biên giới đất liền m à mục tiêu chủ yếu của nó là khai thác và m ở rộng thị trường sang các nước láng giềng, các nước lân cận, các nước trong khu vực và các nước khác trên thế giới, trong đó m ở rộng xuất nhập khẩu hàng hoa với Việt Nam và qua Việt Nam được đặc biệt chú trọng Trung Quốc hiện đang thực hiện hai chiến lược phát triển kinh tế liên quan trực tiếp đến các nước Đông Nam Á N h ư chúng ta đã đề cập đến, đó là chiến lược "phát triển khu vực Đại Tây Nam" và "phát triển ba ven", trong đó Quảng Tây và Vân Nam là những cửa ngõ m ở ra thế giới ở phía nam Trung Quốc, nơi m à nếu có sự hợp tác tốt với các nước ASEAN, Trung Quốc sẽ có những l ợ i ích hết sức to lớn

Ngoài ra có thể nhận thấy rằng, các doanh nghiệp thuộc các thành phản k i n h tế của Trung Quốc rất chú trọng đến việc làm ăn buôn bán với các doanh nghiệp Việt Nam Nguyên nhân cơ bản là do tiềm năng về lượng hàng hoa trao đổi của V i ệ t Nam là rất lớn, loại mặt hàng phong phú, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam có thể bổ sung cho nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp Trung Quốc, các hình thức mua bán trao đổi được thực hiện khá đa dạng và cơ bản là doanh nghiệp Việt Nam đã ngày càng gây được uy tín với doanh nghiệp và người tiêu dùng Trung Quốc

N h ư vậy, phát triển thương mại hàng hoa Việt Nam - Trung Quốc là chủ trương của cả Chính Phủ Việt Nam và Trung Quốc N ó không chỉ được các tỉnh khu vực biên giới m à cả các k h u vực khác trong cả nước quan tâm

Trang 22

- Thứ hai, các tỉnh khu vực biên giới giữa hai nước đều có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi :

V i ệ t N a m có chung đường biên giới trên bộ v ớ i Trung Quốc dài 1350

k m trải dài t ừ đông sang tây qua 7 tỉnh vùng cao phía Bấc V ớ i trên 4 triệu

người tiêu dùng, các tỉnh có biên giới đất liền v ớ i Trung Quốc đã trở thành

khu vực thị trường tiêu t h ụ hàng hoa khá lớn kể cả hàng hoa sản xuất trong

và ngoài k h u vực cũng như hàng hoa nhập khẩu qua biên giới trên bộ với

Trung Quốc Mợc dù có địa hình phức tạp, vói 8 0 % diện tích là vùng núi cao, rừng rậm nhưng dây là k h u vực có nhiều tài nguyên, khoáng sản, có khả

năng phát triển lâm, nông nghiệp, năng lượng và các ngành kinh tế khác

Đ ợ c biệt hơn, các tỉnh có biên giới trên bộ v ớ i Trung Quốc là vị trí tiền

tiêu của Tổ quốc, có vai trò đợc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng, và là

nơi hàng ngày hàng giờ diễn ra hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa, là nơi giao

lun kinh tế, văn hoa, xã hội giữa các dân tộc của hai quốc gia láng giềng

- Thứ ba, tập quán buôn bán và thị hiếu tiêu dùng của cư dân hai nước khá tương đồng :

V ớ i đường biên trên bộ khá dài, cư dân hai nước V i ệ t -Trung sống rất

đông dọc theo đường biên giới, và từ lâu đã có m ố i quan hệ mật thiết vì họ có

hoàn cảnh kinh tế-xã hội, tự nhiên tương tự nhau, có văn hoa, ngôn ngữ, tập quán sinh sống và tập quán tiêu dùng gần giống nhau

Mợc dù người tiêu dùng trên thị trường k h u vực biên giới ở hai nước

chịu sự tác động của các chính sách phát triển kinh tế-xã h ộ i (nhất là chính

sách phát triển thương mại và mậu dịch biên giới) của hai nước khác nhau, song trên thực t ế h ọ đã có m ố i quan hệ lâu đời v ớ i phương châm h ỗ trợ lẫn nhau để cùng nhau tồn tại Nhưng cũng do sự khác biệt trên nên hoạt động

thương m ạ i hàng hoa trên thị trường k h u vực biên giới trên bộ vừa có tính đa dạng vừa mang tính đợc thù Đây là cơ sở để cho các địa phương, các tỉnh có biên giới trên bộ giữa V i ệ t Nam-Trung Quốc có k h ả năng phát triển kinh tế theo hướng vừa hợp tác vừa bổ xung h ỗ trợ n t»ạ để M 3ùng ì phát triển

Trang 23

- Thứ tư, hai nước đều có nhu cầu phát triển kinh tế theo xu hướng hội nhập:

Phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa hai nước sẽ

là cơ sở, là cầu nối để các tỉnh, các doanh nghiệp của cả V i ệ t N a m và Trung

Quốc có thể liên kết và hợp tác Đ ồ n g thời cũng là cơ hội để hai nước thâm

nhập lửn nhau và thâm nhập vào thị trường các nước A S E A N , APEC, EU

và các nước khấc trên thế giới

T ó m l ạ i , là hai nước đang phát triển, Trung Quốc và Việt N a m đều

đang tiến hành cải cách, m ở cửa và đổi m ớ i kinh tế M ặ c dù thời gian bắt đầu

và mức độ cải cách, m ở cửa có khác nhau nhưng cả hai quốc gia đểu rất cần

môi trường quốc tế hoa bình, ổn định để phát triển kinh tế, hiện đại hoa đất

nước và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh

tế ngày càng sâu sắc V ớ i nỗ lực vượt bậc của cả hai phía, với những lợi t h ế

trong quá trình phát triển thương mại hàng hoa giữa hai nước, với chiến lược

phát triển kinh tế mở, ưu tiên phát triển hợp tác và giao lưu kinh tế, hoạt động

thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Việt N a m và Trung Quốc sẽ

có điều kiện để phát triển ở mức cao Đây sẽ là cơ sở ban đầu, có tác động

quan trọng trong quá trình hợp tác cùng phát triển giữa hai nước Việt -Trung,

giữa các địa phương và doanh nghiệp của hai nước

1.2.2.2) Những khó khăn chủ y ế u

Phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Việt

Nam-Trung Quốc bên cạnh những thuận l ợ i cơ bản nêu trên thì những khó khăn,

thách thức được đặt ra cũng là không nhỏ Nhìn một cách khái quát, các khó

khăn cơ bản phải kể đến là :

- Một là, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém:

K h u vực biên giới trên bộ của V i ệ t N a m v ớ i Trung Quốc chủ yếu là

các tỉnh miền núi và miền núi cao D o cấu tạo địa hình, đặc điểm của l ố i

sống d u canh d u cư và khả năng đầu tư có hạn của cả nhà nước, các địa

Trang 24

phương có biên giới và cư dân nên cơ sở hạ tầng của các tỉnh thuộc khu vực biên giới trên bộ là rất yếu kém

Đa số các huyện, thị biên giới đều ở cách xa cửa khẩu và các trung tâm giao lưu kinh tế, văn hoa của tỉnh và của vùng Có nhiều nơi chưa có đường ôtô về đến xã, phương tiện giao thông hạn chế, đường xá đi lại khó khăn, chủ yếu là đường rải cấp phối hoằc đường đất (trừ một số vùng cửa khẩu ở Lạng Sơn, Quảng Ninh ) Gần đây Chính Phủ hai nước đã chú trọng đầu tư nâng cấp cải tạo đường xá nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa hai nước (nâng cấp quốc lộ 1A đi qua thị xã Lạng Sơn của Việt Nam để nối Bằng Tường đi Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây-Trung Quốc) nhưng vẫn chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu về vận chuyển hàng hoa trong mua bán, trao đổi qua biên giới trên bộ của cả 2 nước

Mằt khác, hệ thống thông tin liên lạc được đầu tư thoa đáng, chủ yếu chỉ được sử dụng ỏ khu vực thành thị nên các thông tin kinh tế-xã hội và thương mại đều đến chậm, nhiều khi thiếu hoàn chỉnh, thiếu chính xấc Thêm vào đó, cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại tại các tỉnh có biên giới trên bộ với Trung Quốc rất nghèo nàn, lạc hậu, chủ yếu là nhà tạm, điện nước không có thường xuyên, máy móc thiết bị thô sơ, phương tiện cân đong

và kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoa đang ở mức thủ công nên hiệu quả hoạt động không cao

Tuy nhiên, so với Việt Nam thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật của phía Trung Quốc khá hơn do Chính Phủ nước này đang chủ trương kiến tạo con đường từ các tỉnh vùng Tây Nam Trung Quốc ra biển Đông, xây dựng đường sắt nối các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên với các cảng phía Đông Nam Á Trong tương lai gần, Quảng Tây thực sự sẽ trở thành cẩu nối các tỉnh phía Nam Trung Quốc với Việt Nam, các nước Đông Nam Á và các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương

- Hai là, hoạt động thương mại hàng hoa tại các khu vực biên giới Việt-Trung được tiến hành trong điều kiện nguồn lực tại chỗ rất hạn chế:

Hiện nay, nhà nước đang có các chương trình đầu tư phát triển các khu vực thương mại, khu vực mậu dịch dọc tuyến biên giới phía Bắc Để thực hiện các chương trình này cần huy động nguồn lực khá lớn của cả nước, đằc

Trang 25

biệt là của các địa phương biên giới Trong k h i đó, hầu hết các tỉnh dọc biên giới Việt -Trung đều là các tỉnh nghèo, kinh tế k é m phát triển, nguồn lực tại chỗ vừa yếu vừa thiếu, chưa đủ sức giải quyết những yêu cầu đỏt ra cho phát triển k i n h tế tại chính địa phương của mình H ơ n nữa, quá trình chuyển dịch

cơ cấu k i n h tế t ừ công nghiệp nông nghiệp dịch vụ sang công nghiệp nông nghiệp - dịch vụ ỏ các địa phương biên giới là rất chậm chạp và gỏp

-n h i ề u khó khăn

- Ba là, mặt bằng dân trí tại các khu vực biên giới còn rất thấp :

Các tỉnh có biên giới trên bộ với Trung Quốc của V i ệ t Nam có dân số khoảng 4 triệu người, đa số là người dân tộc thiểu số Tỷ trọng dân cư sống ở thành thị đạt mức trên 2 1 % , chủ yếu tập trung ở các tỉnh lỵ, thị xã, thị trăn còn ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa thì mật độ dân cư thưa t h ớ t

V ớ i đa số dân cư thuộc các tỉnh biên giới trên bộ v ớ i Trung Quốc là đồng bào dân tộc, đời sống kinh tế và văn hoa ở mức thấp, chưa định cư ổn định (trừ Ì số thị xã có cửa khẩu như M ó n g Cái-Quảng Ninh, Đ ồ n g Đăng- Lạng Sơn và thị xã Lào Cai ), nên khả năng sản xuất, tiêu thụ và xuất nhập khẩu hàng hoa theo hướng tập trung và qui m ô l ớ n là rất khó khăn Trình độ dân trí thấp, văn hoa, tập quán cùng với l ố i sống và ngôn ngữ đa sắc tộc là nguyên nhân chính gây nên khó khăn l ớ n cho các hoạt động giao tiếp, giao dịch, trao đổi mua bán hàng hoa

- Bốn là, khả năng thu hút đấu tư của các địa phương biên giới ở cả hai nước còn yếu :

Do điều kiên tự nhiên-xã hội và kha nâng phát triển kinh tế của các tỉnh có biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều khó khăn và yếu kém dãn đến khả nâng thu hút đẩu tư cả trong nước và ngoài nước ở mức thấp Đây cũng là lý do làm cho khoa học công nghệ trong các ngành sản xuất- kinh doanh ở k h u vực biên giới Việt - Trung còn rất lạc hậu, trình độ lành nghề của người lao dộng chưa cao do trình độ văn hoa thấp, không đủ điều kiện để tiếp cận với khoa học kỹ thuật và kỹ năng quản lý hiện đại

Vấn đề này đang được Đảng và nhà nước ta có các chính sách hỗ trợ từng bước để vừa nâng cao mức sống văn hoa cho dân cư vừa tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận v ớ i khoa học công nghệ hiện đại, và k i n h nghiệm

Trang 26

quản lý doanh nghiệp tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoa và doanh nghiệp trên thị trường khu vực biên giới nói riêng và thị trường nước ngoài nói chung

- Năm là, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn khu vực biên giới hai nước chưa cao :

V i ệ t N a m là thành viên của ASEAN, Trung Quốc và V i ệ t N a m đều là thành viên của APEC K h u vực mậu dịch tự do A S E A N ( A F T A ) , K h u vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc ( A F C T A ) đang hình thành, các cam kết thực hiện tự do hoa thương mại trong A P E C được thực hiện các doanh nghiệp Việt N a m nói chung và doanh nghiệp tại k h u vực có biên giới trên bộ với Trung Quốc nói riêng phải cạnh tranh trực tiếp v ớ i các doanh nghiệp nước ngoài, kể cả các doanh nghiệp thuộc các nước có nền kinh tế hùng mạnh như Nhật Bản, Mỹ, Canada Vì vậy sẩc ép cạnh tranh là rất cao, đòi hỏi doanh nghiệp Việt N a m phải biết thích úng và nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh nếu không muốn bị thua l ỗ và phá sản

- Sáu là, cơ chế chính sách về thương mại hàng hoa qua biên giới trên

bộ của Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt:

Sự khác biệt trong cơ chế chính sách về thương m ạ i hàng hoa qua biên giới của Việt N a m và Trung Quốc cũng là khó khăn lớn cho các doanh nghiệp Việt N a m trong việc chuẩn bị nguồn hàng có k h ố i lượng lớn và ổn định để xuất khẩu sang Trung Quốc H ơ n thế, việc không có đủ thông t i n về chính sách, giá cả và cách thẩc thanh toán của phía Trung Quốc cũng gây hạn chế rất lớn cho hiệu quả xuất khẩu của Việt N a m

C ó thể nói, những khó khăn trên đòi h ỏ i phải có những chính sách h ỗ trợ thích hợp của Chính Phủ hai nước và những n ỗ lực lớn của các tỉnh, địa phương dọc tuyến biên giới trong việc thực hiện những mục tiêu đặt ra cho sự phát triển mậu dịch biên giới giữa hai nước nói riêng và phát triển kinh tế khu vực biên giới V i ệ t Nam-Trung Quốc nói chung

1.3) THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG T H Ư Ơ N G MẠI H À N G HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN Bộ CỦA TRUNG QUỐC VỚI MỘT số NƯỚC LÁNG GIỀNG

T r u n g Quốc là một trong những nước có đường biên giới trên bộ v ớ i các nước khác dài nhất t h ế giới V ớ i 22.000 k m đường biên giới trên bộ,

Trang 27

Trung Quốc tiếp giáp với 15 nước trên thế giới là: Việt Nam, LB Nga, Myanma, Mông cổ, Nepan, Bắc Triều Tiên

Tương ứng với các tỉnh có biên giới trên bộ với Trung Quốc của các nước láng giềng, về phía Trung Quốc là các tỉnh Quảng Táy, Vân Nam, Cam Túc, Hắc Long Giang Các tỉnh này chiếm 61,7% diện tích và 21,2% dân số của Trung Quốc Các địa phương có biên giới trên bộ với Trung Quốc chủ yếu là vùng núi, sa mạc, xa các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoa, xã hội của cả nước nên trình độ phát triển thấp và ít được Nhà nước đầu tư

Tỗ khi tuyên bố độc lập (1/10/1949), Chính Phủ nước CHND Trung Hoa đã tỗng bước thiết lập quan hệ ngoại giao và mậu dịch với các nước có chung đường biên giới trên bộ với Trung Quốc Tỗ đó đến nay, quan hệ thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ của Trung Quốc với các nước láng giềng đã không ngỗng phát triển Tuy vậy, đối với mỗi nước, do quá trình phát triển của quan hệ hợp tác về chính trị và ngoại giao khác nhau, chính sách thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ được Trung Quốc áp dụng không giống nhau nên khả năng phát triển của thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Trung Quốc cũng khác nhau

Trong số các nước kể trên, ngoài Việt Nam ra thì thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung Quốc với Myanmar và LB Nga được bộc lộ

rõ nét và đạt kết quả đáng kể Tỗ kinh nghiêm phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới với hai nước trên, Trung Quốc đã có các chính sách phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới trẽn bộ với các nước khác một cách

có hiệu quả Do đó, tìm hiểu vài nét về hoạt dộng thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung Quốc với LB Nga và Myanmar sẽ tạo cơ sỏ và cung cấp những bài học bổ ích cho Việt Nam để có thể phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Trung Quốc một cách có hiệu quả nhất 1.3.1) Hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung Quốc với Myanmar

Trung Quốc lấy hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Myanmar để mở đường ra biển ở Châu Á, bên cạnh Việt Nam, Trung Quốc cũng rất chú trọng phát triển thương mại hàng hoa qua biên giới với Myanmar và xác định qua Myanmar là con đường ngắn nhất, thuận lợi nhất

Trang 28

để ra Ấn Đ ộ Dương Là nước đang phát triển, Myanmar hiện đang trong quá trình cải tổ nền kinh tế vốn đã tụt hậu rất xa so với các nước láng giềng, đặc biệt là so với láng giềng Trung Quốc Để khắc phục vấn đề này, Myanmar đã từng bước thực hiện tự do buôn bán qua các cửa khủu biên giới trên bộ vói Trung Quốc Hiện nay, thực hiện chính sách mở cửa biên giới, các thị trấn Wanding và Ruili đã trở thành các đặc khu kinh tế của Trung Quốc nhằm thực hiện các hoạt động hợp tác về dầu tư và thương mại với Myanmar Quan hệ thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung Quốc

và Myanmar đã có từ lâu đời và ngày càng phất triển Các sản vật đưa ra trao đổi từ phía Myanmar thường là nông sản, hải sản, và các tài nguyên khác rất cấn cho sự phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến của Trung Quốc nói riêng Trong khi đó, Myanmar cũng là thị trường thích hợp với hàng hoa Trung Quốc Các sản phủm của các ngành công nghiệp của Trung Quốc lại có thể đáp ứng nhu củu sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người Myanmar

Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc2 thì giá trị thương mại hàng hoa của Myanmar với Trung Quốc năm 2001: 632 triệu USD (xuất khủu: 497triệu

; nhập khủu: 134 triệu); năm 2002: 862 triệu USD (xuất khủu: 725 triệu, nhập khủu:137 triệu); năm 2003: 1.077 triệu USD, trong đó xuất khủu: 908 triệu; nhập khủu: 170 triệu Số liệu cho thấy Myanmar luôn xuất siêu sang Trung Quốc, tuy nhiên kim ngạch trao đổi giữa hai nước còn chưa cao (chỉ chiếm 1,38% kim ngạch của Trung Quốc với các nước ASEAN)

Vừa qua, để thúc đủy thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa hai nước, Trung Quốc đã giúp Myanmar nâng cấp một số đường quốc lộ và cầu cống nối các tỉnh của Myanmar với thủ phủ Côn Minh của tỉnh Vân Nam

và sắp tới sẽ xây dựng tuyến đường sắt dài 1300 km từ Côn Minh qua Lào,Vân Nam, Bắc Thái Lan và Bắc Myanmar Thông qua hệ thống giao thông này, hàng hoa của Trung Quốc sẽ từ Côn Minh (Vân Nam-Trung Quốc) di Rangoon (thủ đô Myanmar dẫn tới Bhamo (bắc Myanma), sau đó xuôi theo dòng Iravvadi ra Ân Đ ộ Dương

Theo " Tổng hợp hành lang kinh tế H à N ộ i -Lào Cai -Côn M i n h " ( V i ệ n ngiên cứu thương mại )/trang 39

Trang 29

Con đường qua Myanmar tới Ấn Đ ộ Dương có ý nghĩa rất to lớn đối với Trung Quốc Việc tiếp cận nhanh với đại dương này sẽ giúp Trung Quốc

có nhiều thuận lợi hơn trong việc vận chuyển và xuất khẩu mót lượng hàng hoa khổng lổ với giá rẻ từ Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á, Ấn Đ ộ và các nước láng giềng khác Và cũng thông qua thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Myanmar, tỉnh Vân Nam và các tỉnh khác sâu trong lực địa Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc, giao lưu với các nền kinh tế có tốc

độ tăng trưởng nhanh trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, với sự hình thành Hành lang Côn Minh - Mangdalay (liên kết vùng Tây Nam Trung Quốc, Myanmar và Thái Lan), quan hệ thương mại giữa hai nước chắc chắn

sẽ có thêm những bước tiến đáng kể

1.3.2) Hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung Quốc vói L B Nga

Khu vực Viễn Đông của LB Nga có đường biên giới trên bộ rất dài với nước láng giềng Trung Quốc Chỉ tính riêng tỉnh G a i đã có 1000 km biên giới với Trung Quốc Thông qua đường biên giới này, nhiều hàng thực phẩm

và hàng tiêu dùng rẻ tiền được Trung Quốc mang bấn trên thị trường LB Nga

Từ lâu, Chính Phủ LB Nga đã khuyến khích hoạt động mậu dịch qua biên giới với Trung Quốc Theo tài liệu của Ban kinh tế đối ngoại tỉnh Crai, năm

2000 Chính Phủ LB Nga và Trung Quốc đã đàm phán để thiết lập khu vực kinh tế dọc theo các tỉnh thuộc khu vực biên giới trên bộ giữa hai nước Khu vực tự do kinh tế này sẽ nằm ở các khu vực thuộc: Chi ta, Amua, Jewish, Khabarovsk, Primoyre Từ năm 1998 đến 2001, tỉnh Primorye của LB Nga và Tsilin của Trung Quốc sẽ thiết lập một tổ công tác về hợp tác biên giới để xúc tiến và phát triển hoạt động hợp tác lẫn nhau giữa hai bên Theo đó, Ì dự

án về khu kinh tế sông Tumen được đưa vào hoạt động nhằm thiết lập hành lang thương mại giữa tỉnh Primorye (LB Nga) và các tỉnh có chung biên giới đường bộ với LB Nga ở phía Bắc Trung Quốc

Các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc qua biên giới trên bộ sang các tỉnh của LB Nga là: hàng tiêu dùng, hàng thực phẩm, nguyên liệu thô và một

số thiết bị Đa số những hàng hoa từ Trung Quốc vận chuyển sang bằng xe tải qua đường bộ biên giới hoặc tàu hoa sang vùng viễn đông của Nga

Trang 30

Theo số liệu của The us commercial service chỉ ra rằng : k i m ngạch trao đổi hàng hoa qua biên giới của Trung Quốc và Primoye hàng năm đạt mức trung bình 250 triệu rúp Khách hàng ở L B Nga đôi k h i cũng than phiền

về những hàng hoa có chất lượng thấp và không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật của các nhà sừn xuất Trung Quốc đưa vào L B Nga Đ ó là chưa kể đến vấn đề buôn lậu và gian lận thương mại Ngoài ra, do chính sách m ở cửa biên giới giữa L B Nga và Trung Quốc nén trong 2 năm vừa qua lượng khách du lịch ra vào các nước là khá đông Đây cũng là cơ hội để xuất khẩu qua biên giới trên

bộ của hai nước có cơ hội phát triển

T ó m l ạ i , v ớ i chính sách láng giềng thân cận, nguyên tắc trao d ổ i thương mại hàng hoa qua biên giới nhằm mục tiêu cùng có l ợ i và cùng tổn tại hoa bình, thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ giữa Trung Quốc và L B Nga chắc chắn sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới

Như vậy, qua phân tích ở chương Ì cho thấy, hoạt động thương mại

hàng hoa qua biên giới là bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của m ỗ i nước N ó mang những nét đặc thù về chủ thể k i n h doanh, mặt hàng kinh doanh, tính đa dạng về phương thức và quy mô và đặc biệt nó có tính linh hoạt rất cao Hoạt động này đóng vai trò quan trọng đối v ớ i các quốc gia chung đường biên không chỉ ở chỗ nó đáp ứng tốt hơn nhu cầu về hàng hoa phục vụ cho sừn xuất và tiêu dùng m à còn góp phẩn đáng kể trong việc phát triển kinh tế đất nước, kinh tế tại các địa phương, tạo nên sự cân đối đồng đều về k i n h tế giữa thành thị và các tỉnh miền núi

Sau k h i chính thức bình thường hoa quan hệ vào 11/1991, hoạt động thương mại hàng hoa qua các cửa khẩu k h u vực biên giới Việt - T r u n g thực sự bước sang những trang mói hứa hẹn một viễn cừnh rất sáng sủa do những thuận lợi mang lại nhưng cũng không kém phần khó khăn bởi các trở ngại m à hai bên sẽ phừi đương đầu Việc phân tích cụ thể những thuận l ợ i và khó khăn trên sẽ tạo cơ sở vững chắc để có thể nghiên cứu thực trạng hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới Việt -Trung ở chương sau

Trang 31

C H Ư Ơ N G 2

T H Ự C T R Ạ N G H O Ạ T Đ Ộ N G T H Ư Ơ N G MẠI H À N G HOA QUA

BIÊN GIỚI T R Ê N B Ộ GIỮA VIỆT NAM V À TRUNG Q U Ố C

2.1) ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN KHU Vực BIÊN GIỚI VIỆT -TRUNG

2.1.1) Đặc điểm của 2 tệnh biên giói Trung Quốc tiếp giáp với Việt Nam

2.1.1.1) Tỉnh Ván Nam

Vân Nam là điểm xuất phát của con đường tơ lụa phương Nam nên có

quan hệ buôn bán từ lâu đòi và được coi là "vương quốc kim loại", "quê

hương của hương liệu" Vân Nam là cửa khẩu tuyến đầu của vùng Đại Tây Nam (gồm 4 tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Quộng Tây) để mở cửa sang khu vực Đông Nam Á và Nam Á Hiện nay,Việt Nam là một trong

những bạn hàng lớn nhất của tỉnh Vân Nam về mậu dịch biên giới, Việt

Nam là đối tác thứ hai của Vân Nam sau Myanma về mậu dịch chính ngạch, Việt Nam đứng thứ ba trong 93 đối tác mậu dịch chủ yếu của tỉnh Vân Nam Năm 2003 tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Vân Nam là 280 triệu USD, chiếm 5,8% tổng kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc

Từ năm 1987, chính quyền tỉnh Vân Nam đã đưa ra "biện pháp khuyến khích ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Vân Nam" làm cơ sở hình thành nên các khu khai phát kinh tế du lịch Côn Minh và Hà Khẩu (với Việt Nam)

Vân Nam thực hiện mở cửa với chiến lược buôn bán biên giới để thúc đẩy mở cửa toàn tuyến Bốn cửa khẩu cấp ì quốc gia: Côn Minh, Thụy Lệ, Uyển

Đĩnh, Hà Khẩu được mở chính thức từ 1992 Mới đây Quốc Vụ viện Trung

Quốc đã cho phép Hà Khẩu mở rộng cửa đối ngoại và được hưởng các chính sách ưu đãi như các thành phố mở cửa ven biển Các hình thức buôn bán biên giới chủ yếu:

•s Buôn bán địa phương : hình thức chủ yếu trong quan hệ với Myanma

•S Buôn bán dân gian theo con đưòng tiểu ngạch: phát triển mạnh

trong quan hệ với Việt Nam từ 1991 đến nay

s Chợ chung biên giới: là hình thức đang có chiều hướng tăng

Trang 32

Hàng đổi hàng là hình thức xuất phát và vãn đang là loại hình phổ biến song hiện cũng đã phát triển thanh toán ngoại tệ và kết hợp giao lưu công nghiệp kỹ thuật với buôn bán Vân Nam hiện đang là thị trường cung cấp thiết bị quan trọng cho các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Mặc dù Vân Nam tiếp giáp với ba tỉnh cộa Việt Nam là Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai và Hà Giang, nhưng quan hệ thương mại Việt Nam - Vân Nam lại chộ yếu tập trung qua các cửa khẩu thuộc tỉnh Lào Cai do có đường giao thông thuận lợi Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoa qua cửa khẩu Lào Cai chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Vân Nam, năm 2003 chiếm tới 9 7 % tổng kim ngạch

Các cửa khẩu chính giữa Việt Nam và Vân Nam là: Cặp cửa khẩu

quốc tế: Lào Cai - Hà Khẩu; Cặp cửa khẩu quốc gia: Mường Khương - Kiều

Đầu, Bát Xát, Bắc Hà; Cặp cửa khẩu tiểu ngạch: Y Tý - Ma Ngán Tỷ, Trịnh

Tường - Tiểu Đông Sơn, Bản Vược - Pả Sa, Quang Kim - Toong Kẻng, Bản Lầu - Bạc Chì, Pha Long - Lao Kha và Si Ma Kai- Seo Pả Chư

Cửa khẩu Hà Khẩu (dường sắt và đường bộ)- cửa khẩu cấp ì quốc gia cộa phía Trung Quốc, đối diện với cửa khẩu quốc tế Lào Cai và cửa khẩu cộa Châu Vân Sơn đối diện với cửa khẩu quốc gia Thanh Thúy (Hà Giang) -Hà Khẩu đã xấc lập phương châm: lấy buôn bán biên giới làm "đầu rồng", lấy cải cách thúc đẩy mở cửa, dùng mở cửa để thúc đẩy phát triển Chính sách cửa khẩu (bao gồm các chính sách ưu đãi, liên kết với bên trong, thu hút bên ngoài, tích cực tổ chức và khai thác phát triển buôn bán biên giới) đã tạo cho

Hà Khẩu điều kiện xây dựng khu hợp tác kinh tế biên giới, thực hiện việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển buôn bán với kỹ thuật, trọng điểm là phắt triển ngành công nghiệp gia công xuất khẩu

2.1.1.2) Tỉnh Quảng Tây (khu tự trị dân tộc Choang )

Quảng Tây là tỉnh duyên hải duy nhất cộa khu đại khai phát miền Tây với 5 thành phố trực thuộc, 8 địa khu, 83 huyện thị, trong đó có 8 huyện thị vùng biên giới (Phòng Thành, Ninh Minh, Long Châu, Tĩnh Tây, Nà Bạ, Bằng Tường Đại Tân) giáp với 3 tỉnh Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Điện Biên Mặt hướng Đông Nam Á, lưng dựa Tây Nam tạo nên ưu thế địa lý đặc biệt cho Quảng Tây, khiến cho Quảng Tây trở thành con đường ra

Trang 33

biển thuận tiện nhất của khu vực Tây Nam Cùng với sự thiết lập khu vực mậu dịch tự do AFCTA, Quảng Tây sẽ là cầu nối giữa Trung Quốc và ASEAN, ưu thế địa lý sẽ đem lại cho Quảng Tây nhiều thuận lợi Đầu tư vào Quảng Tây vừa được hưởng chính sách mở cổa đối ngoại của nhà nước đối với các vùng duyên hải, ven sông, vừa được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt đối vối khu vực miền Tây và khu tự trị dân tộc thiểu số, đổng thời bản thân tỉnh Quảng Tây cũng có rất nhiều chính sách thu hút đầu tư

Từ năm 1992 Chính Phủ Trung Quốc đã quyết định" cẩn phất huy đầy đủ vai trò của Quảng Tây trong việc mở cổa ra biển cho toàn bộ vùng Tây Nam Trung Quốc" Từ năm 1992 với việc Quốc vụ viện phê chuẩn mở cổa Nam Ninh, Bằng Tường và Đông Hưng, Quảng Tây đã nhanh chóng tiến tới mở cổa toàn phương vị trên cơ sở những lợi thế trong mậu dịch đối ngoại

Hiện dọc tuyến biên giới Quảng Tây-Việt Nam có 4 cặp cửa khẩu cấp Ị

quốc gia là Bằng Tường-Đồng Đăng; Hữu Nghị Quan, Thúy Khẩu-Tà Lùng;

Đông Hưng-Móng Cái Ngoài ra còn có 7 cửa khẩu cấp Ì! quốc gia, 25 chợ

đường biên, 4 chợ cảng ven biến Trong những năm mở cổa, tổng kim ngạch

mậu dịch của Quảng Tây đã tâng từ 249 triệu USD năm 1978 lên 3 tỉ 60 triệu USD năm 1997, trong đó tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mậu dịch biên giỗi năm 1997 đạt 2 tỉ 950 triệu NDT (tương đương 354 triệu USD) Năm 2001, kim ngạch xuất nhập khẩu mậu dịch biên giới theo đường tiểu ngạch đạt 167,08 triệu USD, trong đó xuất khẩu là 57,51 triệu USD; nhập khẩu là 109,57 triệu USD N ă m 2003, tổng kim ngạch giữa Quảng Tây và các nước ASEAN là

826 triệu USD, trong đó kim ngạch với Việt Nam đạt 660 triệu USD Mậu dịch giữa Quảng Tây và Việt Nam chủ yếu là mậu dịch tiểu ngạch biên giới, với kim ngạch là 535 triệu USD, chiếm 81.06% mức mậu dịch hai bên Việt Nam hiện là bạn hàng lớn nhất trong mậu dịch giữa Quảng Tây với các nước Đông Nam Á.3

Quảng Tây hiện có quan hệ buôn bán với hơn 138 quốc gia, khu vực trên thế giới, có han 2400 chủng loại sản phẩm xuất khẩu, trong đó có những sản phẩm như đá "trọng tinh", đá trơn, tùng hương, kim loại màu chiếm thị

3 Nghiên cứu Trung Quốc- số 2/2005 : ý tưởng xây dựng hành lang kinh tế Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng / trang 40

Trang 34

phần tương đối trên thị trường quốc tế Đến năm 2002, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2,4 tỷ USD (tăng 33,6%) Năm 2004, giá trị lên tới 3,1 tỷ USD tăng 27,6%, trong đó xuất khẩu đạt 1,9 tỷ USD, tăng 26%, đạt mức cao nhất

từ năm 1998 trở lại đây Hơn 7600 hạng mục có vốn đẩu tư nước ngoài được phê duyảt, các hợp đồng có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,3 tỷ USD, vốn nước ngoài lợi dụng thực tế là 685 triảu USD Hiản đã có 63 quốc gia, khu vực đến Quảng Tây đầu tư Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm và số vốn đầu tư nước ngoài được sử dụng trên thực tế của Quảng Tây đứng hàng đầu trong số

13 tỉnh khu tự trị miền Tây.4

2.1.2) Đặc điểm chung của các tỉnh biên giói phía Bác Viảt Nam tiếp giáp với Trung Quốc và hả thống cửa khẩu biên giới

Biên giới phía bắc Viảt Nam liền kề với Trung Quốc kéo dài từ Đông sang Tây khoảng 1.350 km, qua các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Điản Biên và Hà Giang Các tỉnh trên có diản tích tự nhiên: 55.584 km2 (chiếm 1 7 % diản tích cả nước): dân số 3.861.000 người (bằng 5 % dân số cả nước), trong đó phần lớn là dân tộc thiểu số, nhiều nhất

là ở Cao Bằng (96%), ít nhất là ở Quảng Ninh (11,26%), trung bình toàn vùng là 66,08% Vùng biên giới phía Bắc có địa hình phức tạp, hiểm trở Đây

là thượng nguồn của các hả thống sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình,

là mái nhà "xanh"của cả vùng Bắc Bộ rộng lớn Tài nguyên ở đây phong phú

về lâm nghiảp, khoáng sản và năng lượng, lại có tiềm năng du lịch khá hấp dẫn và đa dạng

Được sự uy nhiảm của Chính Phủ Viảt Nam và Trung Quốc, chính quyền các tỉnh biên giới đã thành lập các đoàn đại biểu tổ chức hội đàm để

cụ thể hoa những vấn đề qua lại biên giới, trao đổi hàng hoa, hợp tác đầu tư Với nỗ lực của hai bên, đến nay trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đã có 33 cặp cửa khẩu 10 chợ cửa khẩu (3 chợ trong khu kinh tế cửa khẩu), 36 chợ biên giới để phục vụ cho các hoạt động giao lưu kinh tế và qua lại của cư dân dọc biên giới 2 nước.Có thể nói, các loại hình cửa khẩu, khu Kinh tế cửa

4 Báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội của Quàng Tây nam 2003-2004 tại kỳ họp thứ 2 Đ ạ i hội đai biểu nhàn dân khoa l ũ k h u tự trị năm 2004/ Ngân hàng d ữ liảu thị trường Lang Sơn-Quảng Tây: http://vietnamchinalink.com)

Trang 35

khẩu, các loại chợ và lối mòn tham gia biên mậu rất nhiều, bố trí hầu như đều khắp trên các tỉnh biên giới Cụ thể:

+ Cửa khẩu Quốc tế: 4 cửa khẩu bao gồm:

- Lạng Sơn: Hữu nghị - Hữu nghị quan và

Đồng Đăng - Bổng Tường

Lào Cai: Lào Cai - Hà Khẩu

Quảng Ninh: Móng Cái - Đông Hưng

+ Cửa khẩu Quốc gia: 8 cửa khẩu

+ Cửa khẩu địa phương: 21 cửa khẩu

+ Khu kinh tế cửa khẩu:

- Lạng Sơn: Khu Kinh tế cửa khẩu Tân Thanh

- Lào Cai: Khu Kinh tế cửa khẩu Lào Cai

- Quảng Ninh: Khu Kinh tế cửa khẩu Móng Cái

Hầu hết các cửa khẩu, chợ biên giới, lối mòn trên toàn tuyến biên giới,

cư dân 2 nước qua lại thăm thân nhân, trao đổi mua bán hàng hóa diễn ra khá tấp nập, nhưng không đều Các cửa khẩu lớn, thuận lợi giao thông như cửa khẩu Quốc tế, Quốc gia hoạt động buôn bán qua lại nhộn nhịp, sôi động Một

số cửa khẩu, lối mòn cư dân hoạt động biên mậu mang tính nhỏ lẻ, thời vụ và

ít sôi động

2.2) HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH MẬU DỊCH BIÊN GIỚI CỦA VIỆT NAM

VÀ TRUNG QUỐC KỂ TỪ KHI HAI NƯỚC BÌNH THƯỜNG HOA QUAN HỆ

2.2.1) Chính sách mậu dịch biên giới của Việt Nam với Trung Quốc Tháng 1/1991, hai nước Việt Nam-Trung Quốc đã thống nhất "khép lại quá khứ, mở ra tương lai"- bắt đầu thời kỳ bình thường hoa và mở cửa Thực hiện chủ trương trên, ngày 7/11/1991 Chính Phủ hai nước đã ký " Hiệp định tạm thời về giải quyết công việc trên biên giới" Tiếp theo đó là một loạt các Hiệp định khác liên quan đến thương mại như : Hiệp định thương mại giữa Chính Phủ hai nước (7/11/1991), Hiệp định thanh toán qua Ngân hàng (26/5/1993), Hiệp định quá cảnh hàng hoa (9/4/1994) nhổm thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác thân thiện và phát triển quan hệ thương mại giữa 2 nước trên cơ sở tôn trọng, bình đẳng

Trang 36

Để thực hiện các Hiệp định đã dược ký kết, Hội đồng Bộ trưởng (nay

là Chính Phủ) và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ )

dã có các Nghị định, Chỉ thị về triển khai một số công việc liên quan đến mậu dịch biên giới như: Chỉ thị số 32/CT ngày 19/11/1991 về tổ chức quản lý thị trưẳng biên giới Việt-Trung, Chỉ thị số 94/CT ngày 5/3/1992 về mở cửa khẩu trên biên giới Việt -Trung, Chỉ thị 98/CT ngày 27/3/1992 ban hành bẳn Quy chế khu vực biên giới Việt-Trung Nội dung chủ yếu của các vãn bản là :

- Khẩn trương xây dựng Chương trình hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học-kỹ thuật với khu tự trị Quảng Tây và tỉnh Vân Nam

- Công tác tổ chức, quản lý thị trưẳng vùng biên giới Việt -Trung phải nhằm mục tiêu mở rộng giao lưu hàng hoa giữa hai nước và nhân dân hai bên biên giới, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi Mặt khác, cẩn phải

buôn lậu qua biên giới, góp phần đảm bảo trật tự, an ninh chính trị và xã hội

- Mọi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoa và xuất nhập cảnh qua biên giới bắt buộc phải thông qua các của khẩu, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Đồn biên phòng và Hải quan cửa khẩu

- Tổng cục Hải quan cần định kỳ tổ chức tiếp xúc với Hải quan Trung Quốc để thông báo cho nhau danh mục hàng hoa cấm xuất khẩu, nhập khẩu của mỗi bên, có biện phấp thông báo cho nhân dân vùng biên giới mỗi bên nghiêm chỉnh chấp hành, đồng thẳi phải phối hợp kiểm tra xử lý

Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các Bộ,

ngành hữu quan ở Trung ương đã tiến hành đàm phán ký kết một số Hiệp

định chính thức với phía Trung Quốc về Bưu điện, Hàng hải, Hàng không, Đưẳng sắt ( Hiệp định vận chuyển hàng không dân dụng; Hiệp định đưẳng sắt biên giới; Hiệp định hàng hải ngày 8/3/1992), đồng thẳi ban hành các văn bản pháp quy (Thông tư, Chỉ thị) thuộc thẩm quyền để chỉ đạo, hướng dẫn công tác nghiệp vụ chuyên môn Tổng cục Hải quan cũng dã có các công văn

SỐ91/TCHQ-PC ngàyl2/12/1991, số 21/TCHQ-GQ ngày 11/1/1992, số 875/

TCHQ-GSQL ngày 26/4/ 1994, số 79/TCHQ-GSQL ngày 14/6/1994 hướng dẫn việc triển khai các nhiệm vụ về thủ tục Hải quan, chế độ kiểm tra, giám

Trang 37

sất hải quan đối với hàng hoa xuất nhập khẩu, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới

Ngày 19/10/1998, Chính Phủ Việt Nam và Chính Phủ nước CHND Trung Hoa đã ký Hiệp định về mua bán hàng hoa ỏ vùng biên giới tại Bắc Kinh Cùng với quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 26/5/1998 của Thủ tướng Chính Phủ về quản lý xuất nhập khẩu hàng hoa giai đoạn 2001-2005, hoạt động thương mại hàng hoa qua biên giới trên bộ với Trung Quốc không còn phân biệt chính ngạch, tiểu ngạch Sau "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa" ngày 30/12/1999, để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động buôn bán tại các cửa khẩu, một loạt các văn bản đưởc ban hành:

+ Nghị định số 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của Chính Phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước CHXHCN Việt Nam;

+ Thông tư số 179/2001/TT-BQP ngày 22/1/2001 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định số 34/2000/NĐ-CP;

+ Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19/4/2001 của Thủ tướng Chính Phủ về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới;

+ Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg 24/11/2003 của Thủ tướng Chính Phủ

về quản lý, buôn bán hàng hoa qua biên giới với các nước có chung biên giói Các văn bản trên là cơ sở pháp lý, làm thông thoáng hơn quan hệ buôn bán qua biên giới Việt -Trung Đối tưởng tham gia mua bán đưởc mỏ rộng ra tất cả các thương nhân Việt Nam là "doanh nghiệp thuộc các thành phẩn kinh

tế dưởc thành lập theo quy định của pháp luật, có dăng ký mã số hải quan",

kể cả các hộ kinh doanh cá thể thể theo quy định tại nghị định

02/2000/NĐ-CP của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh ngày 03/02/2000 Hàng hoa mua bán qua biên giới không khống chế về khối lưởng và chủng loại, chỉ cần phù hởp với nội dung ghi trong giấy đăng ký kinh doanh, trừ những mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu Đ ố i với hàng hoa thuộc danh mục hàng xuất nháp khẩu theo giấy phép của Bộ thương mại hoặc của Bộ quản lý chuyên ngành thì phải đưởc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép

Đặc biệt, với sự ra đời của Luật biên giới quốc gia năm 2003 và các Chỉ thị, Nghị định hướng dẫn việc thực hiện: Chỉ thị 28/2003/CT-TTg ngày

Trang 38

19/12/2003 của Thủ tướng Chính Phủ về việc triển khai thi hành Luật biên giới quốc gia; Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật biên giới, hoạt động mậu dịch tại các cửa khẩu biên giới Việt -Trung càng trở nên sôi nổi Mới dây, Quyết định số 689/2004/QĐ-NHNN ngày 7/6/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế thanh toán trong mua bán trao đổi hàng hoa và dịch

vụ tại khu vực biên giới và khu vực kinh tế cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc; Quyết định số 849/2004/ QĐ-BCA ngày 27/8/2004 của Bộ trưởng Bộ công an về việc ban hành Quy chế về tổ chỏc và quản lý công dân Trung Quốc sử dụng giấy phép xuất nhập cảnh do Trung Quốc cấp vào Việt Nam du lịch càng chỏng tỏ được sự quan tâm của Đảng và Chính Phủ trong việc đẩy mạnh hoạt động mậu dịch biên giới với nước bạn láng giềng Trung Quốc

2.2.2) Chính sách biên mậu của Trung Quốc với Việt Nam

Kể từ năm 1991, Chính Phủ Trung Quốc đã thực hiện chiến lược mở cửa ven biên giới đất liền, lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế-kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh làm mục tiêu, hình thành một cục diện mới gọi là "mở cửa toàn phương vị, nhiều hình thỏc, nhiều tầng nấc: đặc khu kinh

tế, thành phố mở cửa ven biển, mở cửa nội địa và ven biên giới "

Để thúc đấy hoạt động mậu dịch biên giới với Việt Nam, một loạt các chính sách và biện pháp đã được ban hành và thực thi

+ Năm 1992, Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định mở cửa thêm 4 thành phố biên giới trong đó có Bằng Tường, Đông Hưng (Quảng Tây) và Hạ Khẩu (Vân Nam) Trong thông báo số 62 cũng quy định chính sách ưu đãi đối với 5 thị trấn biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây và Vân Nam

+ Ngày 3/1/1996, trong văn kiện số 2 Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định mở cửa đối ngoại tại Bằng Tường, Đông Hưng, Thúy Lệ, Hà Khẩu nhằm thực hiện chính sách mở cửa biên giới đất liền

Nhằm thực hiện các chính sách nêu trên, Chính Phủ Trung Quốc đã tiến hành một loạt các biện pháp thúc đẩy mậu dịch biên giới đối với Việt Nam, trong đó quan trọng nhất là việc chú trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng khu vực biên giới và phê chuẩn 9 thành phố mở ven biên giới, hình thành hơn 100 cửa

Trang 39

khẩu và chợ biên giới nhằm liên kết chặt chẽ khu vực ven biên giới Trung Quốc với các nước xung quanh

Hiện nay, chính sách biên mậu của Trung Quốc chưa có sự thay đổi gì đáng kể so với những năm trước đây Điều đáng chú ý là Trung Quốc đã có những điều chỉnh nhất định nhằm đẩy mừnh xuất khẩu chính ngừch Do vậy,

tỷ lệ xuất khẩu hàng tiểu ngừch đã giảm xuống từ 10-20% so với trước Đối với hoừt động nhập khẩu qua biên giới đường bộ, Trung Quốc ưu tiên nhập khẩu những hàng hoa là nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, đảm bảo cho sự hoừt dộng bình thường và nhịp nhàng của nhà máy, xí nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Đối với hàng tiêu dùng, Trung Quốc chủ trương chỉ nhập khẩu một số lượng nhỏ đối với một số mặt hàng thực sự cần thiết cho nhu cầu của nhân dân mà trong nước chưa tự sản xuất

và cung ứng đủ nhu cầu, chú trọng thực hiện nhập khẩu hàng có chất lượng đảm bảo và giá nhập ở mức thấp Đặc biệt, Trung Quốc đã áp dụng thuế suất nhập khẩu ưu dãi đối với nguyên liệu thô như thuế dầu dừa khô chỉ có 7%, trong khi đó đối với dầu dừa tinh luyện nhập khẩu thuế suất lên tới 50% Đáng chú ý, từ năm 2001 trở lừi đây, Trung Quốc đã thực hiện điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu như nâng thuế nhập khẩu tiểu ngừch từ 0-

5 % lên 2-15% tuy theo loừi hàng Từ 8/2001, Trung Quốc đã thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với những lô hàng có trị giá dưới 3.000 NDT do một người mang vác qua cửa khẩu đối với hàng tươi sống hoặc muối sổi và lương thực, thực phẩm nhập khẩu theo đường tiểu ngừch Những hàng hoa không nằm trong phừm vi nêu trên phải được khai báo Hải quan và làm thủ tục nhập khẩu chính ngừch Từ tháng 10/2001, Trung Quốc nâng thuế nhập khẩu tôm

sú nuôi và cá nước ngọt lên mức cao chưa từng thấy: 5 0 % đối với tôm nuôi

và 2 0 % đối với cá nước ngọt nhằm mục đích bảo hộ nghề nuôi tôm, cá của

họ Tháng 2/2002 Trung Quốc đã dành cho Việt Nam Quy chế tối huệ quốc MFN về thuế suất đối với hàng xuất khẩu, từo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường xuất khẩu vào thị trường đầy tiềm năng này, đặc biệt là nhóm hàng nông-lâm-hải sản và thực phẩm chế biến

Trang 40

2.3) THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG T H Ư Ơ N G MẠI HÀNG HOA QUA BIÊN GIỚI TRÊN Bộ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC

2.3.1) Vài nét về quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc

2.3.1.ĩ) Kim ngạch xuất nhập kháu

Hiện nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch mậu dịch song phương duy trì đà tăng trưởng liên tục Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2004 kim ngạch song phương đạt gần 7,2 tỷ USD, tăng 47,68% so với năm 2003 (tăng 190 lần trong 13 năm, kể từ năm 1991) Trong đó, năm 2004 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 2,73

tỷ USD, tăng 56,5% Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 4,45 tỷ USD, tăng 42,7% Trong 5 tháng đầu năm 2005, giá trị kim ngạch đạt hơn 3,2 tỷ USD, tăng

Phan Văn Khải tháng 5/2004, hai bên nhất trí nâng kim ngạch song phương lên

l o tỷ USD vào năm 2010 Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng thương mại liên tục

như hiện nay, mục tiêu này có thể về đích sớm trước 3 năm

Bảng 2.1: Thương mại Việt Nam - Trung Quốc 1991-2005 (triệu USD)

Năm Tổng kim ngạch % xuất khẩu % Việt Nam nhập khẩu Việt nam % Cán cán thương

Ghi chú: (-) Nhập siêu , (+) Xuất siêu

Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác biên mậu 7 tỉnh biên giới phía bắc với Trung Quốc thời gian từ 1991 đến nay (Bộ thương mại)

Ngày đăng: 27/03/2014, 07:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thương mại Việt Nam - Trung Quốc 1991-2005 (triệu USD) - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2.1 Thương mại Việt Nam - Trung Quốc 1991-2005 (triệu USD) (Trang 40)
Bảng 2.2: kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoa của các tỉnh biên giỏi - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2.2 kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoa của các tỉnh biên giỏi (Trang 46)
Bảng 2.3: Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu chính ngạch, tiểu - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2.3 Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu chính ngạch, tiểu (Trang 49)
Bảng 2.4: kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2.4 kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn (Trang 50)
Bảng 2.5: kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh  Quảng Ninh thời kỳ 2001-7 tháng đầu  n ă m 2005 - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2.5 kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2001-7 tháng đầu n ă m 2005 (Trang 53)
Bảng 2.6: kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tinh Lào Cai - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 2.6 kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tinh Lào Cai (Trang 55)
Bảng 3.1:  D ự báo kim ngạch và khối lượng hàng hoa - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 3.1 D ự báo kim ngạch và khối lượng hàng hoa (Trang 75)
Bảng 3.2: Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 3.2 Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu (Trang 76)
Bảng 3.3: Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu trực tiếp của các tỉnh - Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 3.3 Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu trực tiếp của các tỉnh (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w