1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

114 925 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả Lê Thị Hòa
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Minh Phương
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Luật Hợp Đồng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 15,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn.

Trang 3

ZKitứá luận tết ttụiệệt ưhốnụ nhôi pháp luật hóp- đồng à (Việt Qlnnt

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn bốn năm học tập ở Trường Đ ạ i Học Ngoại Thương, và sau hơn hai tháng nghiên cứu viết khoa luận, em đã hoàn thành khoa luận này

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

- Đảng uy, ban giám hiệu Trường Đ ạ i Học Ngoại Thương

- Các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế Ngoại Thương và toàn thế các thầy cô giáo trong trường - những người đã dạy dỗ chúng em trong suốt hơn bốn năm qua

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Cô giáo- Ths Nguyễn M i n h Phưộng- người đã cho em ý tướng khoa luận văn này, đồng thời đã tận tình hướng dẫn và động viên em rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoa luận

Cuối cùng, em xin đưộc gửi lời cảm ơn tới các cô, các bác, các anh các chị làm việc tại thư viện trường đã tạo điều kiện cho chúng em trong việc tham khảo tài liệu

Hà Nội, ngày 20 tháng lo năm 2005

Sinh viên

Lê Thị H à

sv líu//' kiện: Mi <Jhị Tôi

Trang 4

b Hình thức của pháp luật điều chỉnh hợp đồng 13

c Vai trò của pháp luật điều chỉnh hợp đồng 15

d Yêu cầu chung đôi với pháp luật điều chỉnh hợp đồng 17

a Kinh nghiệm của Cộng hoa Pháp 19

b Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 21

c Kinh nghiệm của Trung Quốc 22

e Bài học kỉnh nghiệm cho Việt Nam 28

SU) thực hiện: Mi QUỊ 76à

Trang 5

Te ít ná inận tót rtụìệp &hấnạ tỉ/ì lì/ pháp tuột hợp đẦnụ À <vụt Qlutn

Chương 2: T H Ự C T R Ạ N G T Í N H T H Ố N G N H Ấ T C Ủ A P H Á P L U Ậ T

H Ợ P Đ Ổ N G Ở V I Ệ T N A M T R Ư Ớ C KHI B Ộ L U Ậ T D Â N sự N Ă M

2005 V À L U Ậ T T H Ư Ơ N G M Ạ I N Ă M 2005 Đ Ư Ợ C B A N H À N H 30

1 Pháp luật hợp đồng ố Việt Nam - những mốc lịch sử 30

a Thời kỳ Phong kiên 31

b Thời kỳ Pháp thuộc 32

2 Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng ố Việt Nam

trước khi Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005

được ban hành 42

a Các văn bản pháp luật chủ yếu về hợp đồng dân số ở Việt Nam

trước khi Bộ luật Dân số năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005

được ban hành 42

b Các văn bản pháp luật chủ yếu về hợp đồng kinh tế ở Việt Nam

trước khi Bộ luật Dán số năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005

được ban hành 43

c Các văn bản pháp luật chủ yếu về hợp đồng thương mại ở Việt

Nam trước khi Bộ luật Dân số năm 2005 và Luật Thương mại năm

2005 được ban hành 44

3 Sự phân định hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng thương

mại trong pháp luật hợp đồng Việt Nam trước khi Bộ luật Dân sự

năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 được ban hành và hệ quả

của sự phân định đó 44

,VO thốe hiện: £i Qhị 7ốà

Trang 6

a Khái niệm hợp đồng kinh tế, hợp đồng dán sự, hợp đồng thương

1 Pháp luật hợp đồng ở Việt Nam từ n ă m 2006- tính thống nhất 84

ã Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2005 84

b Những điểm mới của Luật Thương mại năm 2005 86

c Sự chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh hợp đồng kinh tê năm 1989 93

Trang 7

L Ờ I N Ó I Đ Ầ U

Sau gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã tạo

ra được những chuyển biến to lớn về mặt kinh tế, xã hội Pháp luủt Việt Nam nói chung và pháp luủt Việt Nam về hợp đổng nói riêng đã có những điều chỉnh đáng kể để thích ứng với những thay đổi của điều kiện kinh tế,

xã hội

Pháp luủt hợp đồng luôn đóng vai trò quan trọng trong pháp luủt kinh

tế Hiện nay, pháp luủt hợp đổng ở Việt Nam đang bị chia tách thành các cơ chế điều chỉnh khác nhau và không thống nhất Các qui định về hợp đổng nằm rải rác trong các văn bản pháp luủt như Bộ luủt Dân sự năm 1995, Luủt Thương mại năm 1997, Pháp lệnh hợp đổng kinh tế năm 1989 và các văn bẳn pháp luủt khác đôi chỗ có sự chổng chéo, loại trừ nhau, có khi tạo ra những lỗ hổng pháp lý khiến người áp dụng và các cơ quan tài phán gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong quá trinh phân biệt và lựa chọn các qui phạm áp dụng Như vủy, pháp luủt về hợp đổng không những không tạo được sự điều chỉnh pháp lý thuủn lợi hơn cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng m à còn gây nhiều cản trở, thủm chí thiệt hại về mặt kinh tế chơ các chủ thể Đ ế loại bỏ những cản trở này, việc thống nhất pháp luủt hợp đồng làm đồng bộ hoa các qui định của pháp luủt Việt Nam về hợp đổng, tạo cơ

sở pháp lý ổn định, minh bạch và tin củy trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng là hết sức cấp thiết trước những yêu cầu của nền kinh tế thị trường

và quá trình hội nhủp kinh tế quốc tế

Mục đích và nhiệm vụ của khoa luủn

Khoa luủn tủp trung nghiên cứu cơ sở lý luủn và thực tiễn của pháp luủt điều chỉnh hợp đồng ở Việt Nam trước khi Bộ luủt Dân sự năm 2005 và

Ì

Trang 8

~Khoú luân tài nạiịp QhổnỊi nhải pháp tuột hạp điữtiạ Á <Vĩịt QUMML

Luật Thương mại năm 2005 được ban hành, xác định những hạn chế, bất cập; nghiên cứu kinh nghiệm trong việc xây dựng pháp luật hợp đổng ở một

số nước trên thế giới; phân tích tính thống nhất của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam khi Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 được ban hành và khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực; tờ đó đưa ra một số đề xuất nhằm làm tăng tình thống nhất trong pháp luật hợp đồng ở Việt Nam

Bô cục của khoa luận

Bên cạnh lời nói đáu và kết luận, khoa luận được chia thành ba chương như sau:

Chương Ì: Những vấn để pháp lý cơ bản về hợp đổng

Chương 2: Thực trạng tính thống nhất của pháp luật hợp đổng ở Việt Nam trước khi Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 được ban hành

Chương 3: Pháp luật hợp đồng ở Việt Nam tờ năm 2006- tính thống nhất

,VO thực /Uột: Mi Qttị ~3ũà

Trang 9

* Khái niệm hợp đồng theo cách hiểu của các nước:

Trang 10

~Khoú luân tơi nụ ỉ Ị ụ ~7tĩÃtiụ nhối pháp luật ít ti ọ đểnự é <Vĩịt GlaML

kỷ nay và cho đến tận bây giờ thì chế định hợp đồng của phần lớn các nước thuộc hệ thống Civil Law như Cộng Hoa Pháp, Đức, Liên Bang Nga vẫn còn in đậm phương thức tư duy ấy

Cộng Hoa Pháp cũng là một nước có nền khoa học lập pháp phát

triữn và đạt được nhiều thành tựu m à điữn hình là Bộ luật Napoleon của Pháp Đây là một trong những bộ luật lớn và được coi là bộ luật kinh điữn nhất về dân luật N ó có ảnh hưởng lớn tới hầu hết các bộ luật dân sự của các nước trong hệ thống Luật Civil Law Điều l o n của Bộ luật dân sự Pháp

định nghĩa về hợp đồng như sau: "Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay

nhiêu bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc nào đó" 1

Như vậy, định nghĩa về hợp đổng của Bộ luật dân sự Pháp cho chúng

ta thấy, theo quan điữm của luật này, trước hết hợp đồng chính là một hành

vi pháp lý- hành vi có ý chí của con người làm phát sinh các hệ quả pháp lý, hơn thế nữa, đó còn là một hành vi pháp lý đặc biệt: có sự thoa thuận giữa các bên V ớ i tư cách là một hành vi pháp lý, tính chất cơ bản của hợp đổng

đó là sự thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều người M ỗ i bén trong quan hệ hợp đổng đều theo đuổi những mục đích riêng của mình và hợp đồng là kết quả của sự dung hoa các lợi ích đối lập nhau Ngoài ra, hợp đổng còn là một hành vi pháp lý đặc biệt, nó làm phát sinh một loại hệ quả pháp lý đặc biệt

đó là nghĩa vụ

Khác với Pháp, Hoa Kỳ là một nước theo truyền thống án lệ

(Common Law) Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ đó là "sự thoa thuận có hiệu lực bắt buộc" Nếu hiữu khái niệm này theo nghĩa rộng hơn

1

"Đại cương về pháp luật hợp í/ổíỉg".Nhà pháp luật Việt Pháp- Nhà xuất bản Vãn hoa thôngtin, trang 3.4

Trang 11

thì h ợ p đ ồ n g đ ư ợ c h i ể u là m ộ t h o ặ c n h i ề u s ự h ứ a h ẹ n m à v i ệ c t h ự c h i ệ n

c h ú n g đ ư ợ c c o i là các n g h ĩ a v ụ p h á p l u ậ t b ắ t b u ộ c p h ả i t h i hành S ự h ứ a h ẹ n

n à y c ó t h ể là t h ự c h i ệ n h a y k h ô n g t h ự c h i ệ n m ộ t h o ặ c m ộ t s ố h à n h v i n h ấ t định N ế u v i p h ọ m n g h ĩ a v ụ này, p h á p l u ậ t q u i định các c h ế tài n h ấ t định

C ũ n g tương t ự n h ư l u ậ t p h á p m ộ t s ố n ư ớ c , B ộ l u ậ t d â n s ự Nhật Bản

x e m xét h ợ p đ ồ n g d ư ớ i p h ư ơ n g d i ệ n là m ộ t q u a n h ệ p h á p l u ậ t và c ũ n g là căn

c ứ p h ổ b i ế n v à q u a n t r ọ n g l à m phát s i n h n g h ĩ a v ụ C ụ t h ể , t h e o q u a n đ i ể m

c ủ a l u ậ t này, h ợ p đ ổ n g đ ư ợ c định n g h ĩ a là "Một loại giao dịch dân sự thể

hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên Mục đích của hợp đồng thông thường làm phát sình nghĩa vụ"}

"Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bàn" Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- Nhà xuất bản Chính

trị quốc gia 1995 trang 489

Trang 12

Qttữnụ nhôi phán luật hóp- đềnự lí (Vụt (ìlíun

xác lập nghĩa vụ Tuy nhiên, điểm khác biệt là Luật Trung Quốc có nhấn mạnh yếu tố bình đẳng trong quan hệ giữa các chủ thể tham gia hợp đồng Ngoài ra, vấn đề tự do ý chí cũng được đề cao trong Luật hợp đồng

của Trung Quốc Tại Điều 3 và Điều 4 Luật hợp đồng qui định: "Đương sự

trong hợp đồng có địa vị bình đẳng, không bèn nào được phép áp đặt ý chí của mình cho bên kia " và "Đương sự có quyền tự nguyện lập hợp đồng theo pháp luật".'

* Khái niệm hợp đổng theo pháp luật Việt Nam :

Tiếp nối những tư tướng đó, đến lượt mình, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 đã thể hiện tương đối đặy đủ và toàn diện khái niệm hợp đồng, theo đó "Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm đút quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 394, Bộ luật Dân sự năm 1995) Như vậy, có thể thấy, định nghĩa về hợp đồng của Bộ luật Dãn sự Việt Nam năm 1995 rất gặn với định nghĩa hợp đồng trong Luật La M ã cũng như trong Điều 2 Luật hợp đồng Trung Quốc, theo đó, coi hợp đồng dân sự là căn cứ phát sinh, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ Điểm khác biệt lớn nhất chỉ ở chỗ: Bộ luật Dàn sự Việt Nam năm 1995 dùng thuật ngữ "hợp đồng dân sự", còn các nước sử dụng khái niệm "hợp đồng" Điều này là do giữa hệ thống pháp luật của Việt Nam và hệ thống pháp luật của phặn lớn các nước có những điểm khác biệt sau:

Thứ nhái, pháp luật Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống luật

xã hội chủ nghĩa (Sovieticque) Vì vậy, ở Việt Nam không có sự phân chia

hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư, cũng như không coi Bộ luật dân sự là luật chung, luật gốc trong luật tư

ThS Đinh Thị Mai Phương " Thống nhất luật hợp đóng ờ Việt Nam"- Nhà xuất bản Tư Pháp, trang 14

15

Trang 14

ị Ì) Sự thoa hiệp ý chí

Nguyên tắc thoa hiệp ý chí hay còn gọi là nguyên tắc hiệp ý- tức là có

sự ưng thuận giữa các bên với nhau- là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng Khi giao kết hợp đổng, các bên được tự do qui định nội dung của hợp đổng,

tự do xác định phểm vi quyền và nghĩa vụ của mỗi bên

Hợp dồng luôn gắn liền với sự tự do thể hiện ý chí của các chủ thê Tự

do ý chí trong giao kết hợp đồng được hình thành và phát triển mểnh mẽ ờ Pháp từ thế kỷ X V I I I Lúc đẩu nó được gọi là nguyên tắc độc tôn ý chí, nó cho phép các cá nhân được tự do quyết định trong việc giao kết hợp đổng và khẳng định quyền của mỗi cá nhân chỉ phụ thuộc vào chính họ m à không phụ thuộc vào pháp luật Ý chí của họ được thể hiện một cách độc lập và xuất phát từ lợi ích cá nhân Nguyên tắc này dẫn đến một hệ quá pháp lý là hợp đồng khi đã được ký kết thì có giá trị bắt buộc thực hiện Việc thay đổi hợp đồng cũng chi có thế được thực hiện bởi sự thỏa thuận của các chủ thể

và không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ cũng như không có quyền làm thay đổi ý chí của họ

Tuy nhiên trong thực tế, không tồn tểi một quyền tự do hợp đồng tuyệt đối, m à tự do ở đây phải trong khuôn khổ pháp luật Việc hình thành những hển chế đối với nguyên tắc tự do trong giao kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm lợi ích công Nhà nước buộc các bên khi tham gia giao kết hợp đồng phải tôn trọng đểo đức, trật tự xã hội và trật tự công cộng, vì thế, nhà nước sẽ can thiệp trong những trường hợp cẩn thiết để bảo vệ lợi ích công Tuy nhiên, sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật qui định chặt chẽ đế tránh sự lểm dụng, vi phểm quyền tự do hợp đồng

Trang 15

"Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp dồng luôn được đề cao Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận, tuy nhiên, không phải mọi sự thỏa thuận đều là hợp đồng"' Chúng chỉ được

coi là hợp đồng khi thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận thực sự giữa các bén và sự ưng thuận đó phải phù hợp với pháp luật, với đạo đức Các hợp đổng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoục mua chuộc là không có sự ưng thuận thực sự của các bên và

do đó sẽ không có hiệu lực Điều đó cho thấy một sự thoa thuận chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi nó thể hiện ý chí thực cùa các bên

(2) Chủ thể của hợp đồng

Luật pháp tất cả các nước trên thế giới đều thống nhất ở một quan điểm chung đó là người ký kết hợp đổng phải có đẩy đủ năng lực hành v i theo qui định của pháp luật để xác lập hợp đồng Ó mỗi nước khác nhau lại

có những qui định khác nhau về năng lực hành vi của các chủ thể, song tựu chung lại, các chủ thế muốn tham gia ký kết hợp đồng thì phải đáp ứng các qui định đó và chỉ khi đó ý chí mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên

(3) Khách thê (đối tượng) của hợp đổng

Sự thống nhất ý chí của các bèn đều nhằm vào một đối tượng cụ thể,

do đó, mọi hợp dồng đều phải có đối tượng xác định Đ ố i tượng đó phải được qui định rõ ràng, cụ thể trong hợp đồng trên cơ sở sự thỏa thuận giữa các bên, đồng thời đó phải là những đối tượng không bị cấm giao dịch theo

1

Nhà nước và Pháp luật số 4/2005 trang 22

9

Trang 16

qui định của pháp luật, tức là đối tượng của hợp đồng phải hợp pháp Nếu đối tượng của hợp đồng không hợp pháp thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực

(4) Hình thức của hợp đổng

Như trên dã phân tích, hợp đổng là sự thoa hiệp ý chí của các bên và

sự thỏa hiệp đó là nhằm vào một đối tượng cụ thể Tuy nhiên, ý chí của các bên cũng như đối tượng m à các bên hưỗng tỗi đều phải được thể hiện ra bên

ngoài dưỗi một hình thức nhất định v ề cơ bản, hình thức của hợp đồng

cũng phải tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên, do vậy, các bên có thể tự do lựa chọn hình thức của hợp đổng Tuy nhiên, tuy vào luật pháp của mỗi quốc gia, tuy vào từng loại hợp đồng m à nhiều khi hình thức của hợp đồng phải tuân thủ theo một số qui định nhất định Điểu này không hể đi ngược lại bản chất tự nhiên của hợp đổng m à nó cho thấy một

xu hưỗng ngày càng gia tăng trong cả hệ thống dân luật và thông luật của các nưỗc đó là xu hưỗng xem xét các hợp đồng trong mối quan hệ vỗi lợi ích công để đảm bảo sự điều chỉnh cần thiết vào việc xác lập các điều khoản của hợp đồng

Trên đây là các yếu tố cơ bản cấu thành một quan hệ hợp đồng Sau khi hợp đồng được xác lập vỗi đẩy đủ các yếu tố đó thì hợp đồng sẽ có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện sự cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản m à bên vi phạm sẽ phải gánh chịu

c Ý nghĩa của hợp đổng

"Ngay từ thế kỷ XIX, nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp A Foullier

đã nhận định, hợp đồng chiếm tới chín phần mười (9/10) dung lượng của các bộ luật (dân sự) hiện hành và đến một lúc nào đó, trong các bộ luật đó

Trang 17

các qui định về hợp đồng sẽ được thể hiện ở tất cả các điều khoản Điều

đó khẳng định rõ về mặt pháp lý vai trò và vị trí của hợp đổng trong giao lưu dân sự, kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Qua nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, có thể rút ra một số ý nghĩa cơ bữn của hợp đồng như sau:

Thứ nhất, hợp đổng là hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu quữ

trong việc đữm bữo sự vận động của hàng hoa- tiền tệ Như chúng ta đã biết, khi xã hội loài người có sự phân cõng lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hoa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sữn Ngày nay, khi m à các quan hệ xã hội trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp thì hợp đồng càng trờ nên cần thiết, giúp cho các quan hệ xã hội được thực hiện suôn sẻ theo đúng trật tự, đúng pháp luật

Thứ hai, như đã phân tích ỏ trên, hợp đồng chính là công cụ đẽ các

bẽn t h ế hiện ý chí của mình Những gì các bên mong muốn, những lợi ích

m à các bên hướng tới đều được thể hiện ra bằng hợp đồng.Tuy nhiên, hợp đồng chí có thể biểu hiện nhũng ý chí thực sự và hợp pháp của các bên, các trường hợp khác, hợp đồng trờ nên võ hiệu

Thứ ba, khi nội dung, chủ thể và đối tượng của hợp đổng hợp pháp,

khi hợp đổng bắt đầu có hiệu lực thì nó trở thành nguồn luật đầu tiên và trực tiếp điều chỉnh quyển và nghĩa vụ của các bên Hợp đồng chính là bằng chứng chứng minh tất cữ các thoa thuận m à các bên đã cam kết Các bên phữi thực hiện những gì mình đã cam kết trong hợp đồng hoặc phữi chịu trách nhiệm nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp

' Bùi Ngọc Cường, "Mộ/ SỚVÍỈ/1 để hoàn thiện pháp ìltậl về hợp đồng ở Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật số 5/2005 trang 47

.VO thự? hiện: Mi <Jtạ 7ỦỈI

Trang 18

đổng Khi có tranh chấp phát sinh, toa án và các cơ quan giải quyết sẽ căn

cứ vào nội dung hợp đồng để đưa ra kết luận

Sang thế kỷ 19, sự xuất hiện của kinh tế thị trường đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển của pháp luật hợp đồng Tự do hợp đồng đã bắt đầu xuất hiện và trở thành "luật l ệ " chính cho thời kỳ này Toa

án các nước rất ít khi can thiệp vào thỏa thuận riêng giữa các bên bới điều

đó rất có thể sẽ gây ảnh hướng tới quá trình công nghiệp hóa đang phát triển

ở nước hị Điều đó đã làm cho hợp đồng trở thành công cụ hữu hiệu nhất trong kinh doanh Chỉ cần các bên tự nguyện tham gia vào quan hệ hợp đổng cho dù quan hệ đó sẽ dẫn tới một hệ quả xấu thì toa án sẽ không can thiệp vào

Quá trình công nghiệp hoa và hiện đại hoa phát triển đã làm thay đổi rất nhiễu các giải thích cơ bẳn về pháp luật hợp đổng Hàng hoa trong giao dịch đã trờ nên phức tạp hơn, việc mua bán không chỉ dừng lại ở các chủ thể trong phạm vi một nước mà đã mớ rộng ra phạm vi quốc tế, và vì thế người

,v<) thự* hiện: £1 QUỊ 7Cà 12

Trang 19

mua thường biết rất ít hoặc thậm chí là không biết gì về hàng hoa m à họ mua Ớ thời kỳ này bắt đẩu xuất hiện xu hướng các bên không trực tiếp gặp nhau để thỏa thuận và ký kết hợp đồng như trước nảa m à xây dựng các mẫu hợp đồng đã được soạn thảo sẵn

Lúc này hệ thống pháp luật đã bắt đầu thay đổi để thích nghi với nhảng thay đổi đó và pháp luật hợp đồng cũng vậy Pháp luật đã can thiệp nhiều hơn vào nhảng quan hệ hợp đổng m à trước đây dã từng bỏ qua Các toa án lúc này đã chuyển từ mục tiêu bảo vệ hoạt động kinh doanh và sự nghiệp công nghiệp hóa sang bảo vệ người tiêu dùng và người lao động Mạc dù vậy, điều đó cũng khống làm mất đi bản chất của hợp đổng đó là sự

tự do thỏa thuận giảa các bẽn và tự do ở đây chính là tự do trong khuôn khổ pháp luật

b Hình thức của pháp luật diều chỉnh hợp đồng

Mặc dù các qui tắc của pháp luật hợp đồng đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử tương đối thống nhất giảa các nước, song ở mỗi nước khác nhau hình thức của pháp luật hợp đồng lại được thể hiện rất khác nhau

Một số nước có hẳn luật riêng qui định về hợp đổng Ớ nhảng nước này, luật hợp đồng thống nhất được áp dụng chung cho mọi quan hệ hợp

đồng bất kể đó là hợp đồng dân sự, kinh tế hay thương mại Trung Quốc là

một điển hình trong số đó Trước khi có Luật hợp đồng thống nhất, ở Trung Quốc tổn tại ba loại hợp đồng cùng với các ngành luật điều chính độc lập đã tạo ra nhảng mâu thuẫn, đan xen, chồng chéo Luật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc ra đời dã chấm dứt nhảng bất cập đó và tạo cơ sở pháp lý chung điều chỉnh tất cả các quan hệ hợp đồng

Trang 20

Ở m ộ t s ố n ư ớ c khác, điển hình là T á y  u và Nhặt Bản, p h á p l u ậ t

h ợ p đ ồ n g l ạ i đ ư ợ c q u i định t r o n g B ộ l u ậ t dân s ự và B ộ l u ậ t thương m ạ i K h i

x â y d ự n g B ộ l u ậ t d â n sự, các n h à l à m l u ậ t ờ các n ư ớ c n à y đ ề u n g h ĩ r ằ n g chì

c ầ n B ộ l u ậ t d â n s ự là đ ỏ điều c h ỉ n h các q u a n h ệ t h u ộ c lĩnh v ự c l u ậ t tư T u y nhiên, c ù n g v ớ i s ự phát t r i ể n c ỏ a c h ỏ n g h ĩ a tư bản, l u ậ t d â n s ự đ ã t ỏ r a b ấ t

c ậ p t r o n g v i ệ c điều c h ỉ n h các q u a n h ệ k i n h t ế d o đ ó l u ậ t thương m ạ i r a đ ờ i

n h ằ m k h ắ c p h ụ c n h ữ n g b ấ t c ậ p đó S o v ớ i l u ậ t d â n sự, l u ậ t thương m ạ i q u i định t h ỏ t ụ c k ý k ế t h ợ p đ ồ n g g ọ n n h ẹ h ơ n r ấ t n h i ề u , giúp các thương n h â n

có điều k i ệ n n ắ m b ắ t t h ờ i cơ, k ý k ế t n h a n h , t h ự c h i ệ n n h a n h các thương v ụ ,

Trang 21

Ở Việt Nam, chế định hợp đồng được qui định trong ba văn bản chính đó là Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 Điều này là do pháp luật Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật các nước xã hội chủ nghĩa và Đông  u trước đây Như vậy, so với pháp luật của đa số các nước, ngoài luật dân sự và luật thương mại, pháp luật nước ta còn có thêm luật kinh tế Chúng ta không thế khẳng định rằng trong khoa hặc pháp lý tư sản không có khái niệm "hợp đồng kinh tế", song điều khác biệt là ở chỗ, ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, luật kinh tế tồn tại như một thực thể pháp luật mặc dù tính độc lập của nó còn nhiều tranh cãi, trong khi đó ở các nước Tây  u và Nhật Bản thì khái niệm "hợp đồng kinh tế" và luật kinh tế chỉ tồn tại trên hặc thuyết

c Vai trò của pháp luật điều chinh hợp đồng

Như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy, cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội, quan hệ hợp đồng đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều,

nó kéo theo sự phát triển của pháp luật hợp đồng Trong hệ thống pháp luật của mỗi nước, pháp luật về hợp đồng luôn giữ một vị trí hết sức quan trặng

Thứ nhất, pháp luật hợp đồng là căn cứ quan trọng thứ hai sau hợp đồng điều chỉnh quyên và nghĩa vụ của các bên

Thực vậy, khi ký kết hợp đồng, các bên đều muốn đưa vào hợp đồng tất cả các điều kiện m à minh mong muốn, tuy nhiên, dù các bén có cố gắng đến đâu đi chăng nữa thì cũng không thể liệt kê hết được tất cả các điều khoản Vì vậy, xu hướng chung đó là các bên sẽ chỉ đưa vào hợp đổng những điều khoản cơ bản nhất liên quan trực tiếp đến giao dịch giữa hặ, còn các nội dung khác sẽ được thế hiện trong một điều khoản dặc biệt đó là điều

Trang 22

khoản luật điều chỉnh hợp đổng Theo đó, pháp luật hợp đổng sẽ làm đầy tất

cả các vấn đề m à các bên chưa đề cập tới trong hợp đổng Hơn nữa, các bên trong hợp đồng, đặc biệt là các chủ thể yếu hơn sẽ không dám tham gia ký kết hợp đồng với các chủ thể mạnh hơn trừ khi hộ biết chắc là sẽ có sự can thiệp của pháp luật trong việc buộc các bên thực hiện nghĩa vụ của mình.Và như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, toa án trước hết sẽ căn cứ vào nội dung của hợp đổng đế giải quyết tranh chấp, nếu nội dung của hợp đổng không qui định, toa án sẽ căn cứ vào luật điều chỉnh hợp đồng để đưa ra quyết định

Thứ hai, pháp luật hợp dồng là căn cứ quan trọng để các chủ thẻ lên

Một yếu tố vô cùng quan trộng quyết định sự thành công trong kinh doanh đó là việc hiểu rõ pháp luật Hiểu rõ pháp luật để biết được sân chơi nào là dành cho mình và luật chơi của sân chơi đó là gì để không bị đào thải Chính vì vậy, nắm được các qui định của pháp luật sẽ giúp các bên biết được những gì mình được phép làm và những gì mình không được phép làm, những hàng hoa nào được phép buôn bán và những hàng hoa nào bị cấm Trên cơ sở đó, các bên có thế xây dựng cho mình một kế hoạch kinh doanh vừa có lợi cho mình m à không trái pháp luật

Thứ ba, cùng với các ngành luật khác, pháp luật hợp đồng góp phần quan trọng trong việc giữ vững trật tự và công bằng xã hội

Chúng ta đều biết hợp đồng chính là công cụ để các bên tự do thể hiện ý chí của mình và pháp luật tôn trộng ý chí tự do đó của các bên Tuy nhiên, ý chí tự do đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ những cam kết không xâm hại đến ý chí tự do của

Trang 23

các chủ thể khác, không gây mất trật tự và tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội Theo đó, pháp luật sẽ can thiệp khi các bên có các hành vi đi ngược lại với lợi ích công, đi ngược lại những giá trị đạo đức xã hội như buôn lậu, lừa đảo, gian lận Trên cơ sặ đó pháp luật sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các chủ thể

ả Yêu cầu chung đói với pháp luật điều chỉnh hợp đồng

Nền kinh tế thị trường càng phát triển kéo theo các quan hệ hợp đồng càng trặ nên phong phú và phức tạp hơn rất nhiều Thực tế đó đang đặt ra rất nhiều yêu cầu và đòi hỏi đối với pháp luật hợp đồng để có thể đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các quan hệ đó, cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật hợp đồng phải thể hiện tính minh bạch, ổn định

và dễ dự đoán

Chúng ta đều đã biết một trong những vai trò quan trọng của pháp luật diều chỉnh hợp đồng đó là làm căn cứ để các chú thể lên kế hoạch kinh doanh Trong bối cảnh ngày nay, khi m à các quan hệ kinh tế đang phát triển

và biến đổi hết sức phức tạp Điều đó đặt ra thách thức cho các nhà kinh doanh đó là phải làm sao dự đoán được xu hướng vận động của các quan hệ

đó để có thể có những đối sách kịp thời Chính vì lẽ đó m à yêu cầu về tính minh bạch, ổn định và dễ dự đoán là một yêu cầu hết sức cần thiết đối với pháp luật hợp đổng Các chủ thể sẽ không thể đưa ra cho mình một kế hoạch kinh doanh vừa có lợi cho mình lại vừa hợp pháp khi m à các qui định của pháp luật cứ liên tục thay đổi Hơn nữa, trong xu thế toàn cẩu hoa thương mại và kinh tế, thì yêu cẩu này càng trặ nên cấp thiết không chỉ đối với pháp luật hợp đồng m à còn cả đối với hệ thống pháp luật ãọiíehụng của tất cả các nước

,VO thụt hụi: Mí Ghi 7èà lão 17

Trang 24

Thứ hai, pháp luật hợp đồng phải tạo ra được một hành lang pháp lý thông thoáng để pháp luật hợp đồng thực sự là một công cụ hữu ích cho các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng

Yêu cầu này đòi hỏi các quan hệ của pháp luật hợp đồng phải hết sức

rõ ràng, đầy đủ và đặc biệt phải hỗ trợ, bổ sung cho nhau tránh tình trạng trùng lắp, chồng chéo và mâu thuẫn gây cản trở cho các chủ thê trong việc

ký kết và thớc hiện hợp đồng Không chì có vậy, pháp luật hợp đồng còn phải làm sao phát huy tối đa được quyền tớ do kinh doanh, tớ do hợp đổng của các chủ thể Sớ can thiệp của nhà nước vào các quan hệ hợp đổng đế bảo

vệ lợi ích công và trật tớ xã hội là cần thiết, song sớ can thiệp đó nếu quá sâu sẽ đi ngược lại quyền tớ do kinh doanh của các chủ thể, và do đó không những không thúc đẩy các quan hệ hợp đồng m à còn là một trở ngại cho sớ phát triển của các quan hệ đó

3 K i n h nghiệm xây dụng pháp luật hợp đồng ở một sô quốc gia

Đ ế đáp ứng được những yêu cầu thớc tế của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cũng như của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng của Việt Nam nói riêng cẩn phải được hoàn thiện theo hướng vừa điều chỉnh hợp lý các quan hệ hợp đồng trong nước vừa phải hài hòa, thống nhất với pháp luật và tập quán quốc tế Trong quá trình đó, việc so sánh, tìm hiểu kinh nghiệm xây dớng pháp luật hợp đồng của các nước trên thế giới (đặc biệt là các quốc gia có hệ thống pháp luật gần gũi, tương đồng với pháp luật Việt Nam hoặc tiêu biểu) là điều cần thiết, giúp Việt Nam có được những t r i thức và kinh nghiệm tốt nhất để hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình Sau đây là kinh nghiệm xây dớng pháp luật hợp đồng của một số quốc gia:

18

Trang 25

a Kinh nghiệm của Cộng hoa Pháp

Pháp là quốc gia có hệ thống pháp luật tiêu biểu và điển hình cho hệ thống Civil Law Pháp luật của Pháp, đặc biệt là Bộ luật Napoleon của Pháp

có ảnh hưởng rất lớn tới pháp luật của các nước trong hệ thống bởi tính đặc thù, ưu việt và ổn định của nó Việt Nam, với những dấu ấn lịch sử để lại tẳ thời Pháp thuộc, là một nước điển hình có hệ thống pháp luật chịu nhiều ảnh hướng của pháp luật Pháp

Qua nghiên cứu có thể rút ra những đặc trưng cơ bẳn của pháp luật hợp đồng của Pháp như sau:

Thứ nhất, ngay tẳ đầu pháp luật Pháp đã có sự phân chia giữa Luật

công và Luật tư, theo đó, quan niệm tất cả các quan hệ ngang hàng giữa công dàn với nhau là thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật tư Trong đó, Bộ luật dân sự đóng vai trò là đạo luật gốc, là luật chung, các ngành luật khác điều chỉnh các quan hệ đặc thù của Luật dãn sự Trên cơ sở đó, pháp luật hợp đồng của Pháp về cơ bản được qui định trong Bộ luật dân sự m à không

có sự phân chia thành pháp luật hợp đồng kinh tế, thương mại hay dân sự Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ở Pháp không có khái niệm hợp đồng thương mại m à trái lại, khái niệm hợp đồng thương mại vẫn tồn tại ở Pháp và nó được dùng đế chỉ các quan hệ hợp đồng thuộc các hành v i thương mại do Bộ luật dân sự điều chỉnh V à mặc dù tồn tại khái niệm hợp đồng thương mại, song sự phân chia giữa hợp đổng dãn sự và hợp đồng thương mại chỉ là tương đối, hợp đồng thương mại được hiểu là một loại hợp đồng đặc thù của hợp đồng dân sự

Thứ hai, về mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồng dãn sự và pháp luật

hợp đồng thương mại

19

Trang 26

N ă m 1804, Bộ luật dân sự Pháp ra đời đã tạo ra một bước đột phá

trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ hợp đổng Ba

năm sau, năm 1807, Bộ luật thương mại Pháp cũng được ban hành Sự song

song tổn tại hai ngành luật - ngành luật dân sự và ngành luật thương mại là một trong những nét đặc thù của việc xây dựng pháp luật thương mại của Pháp

Mặc dù hai ngành luật này là độc lập, cùng song song tồn tại, song

pháp luật dân sự và pháp luật thương mại của Pháp không tách rời nhau m à

có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Bộ luật dân sự với tư cách

là luật gốc sẽ qui đểnh những nội dung mang tính chất nền tảng m à các hoạt

động thương mại phải tuân theo "Nhiều nội dung trong Bộ luật dân sự vẫn

dược áp dụng trong lĩnh vực thương mại Cụ thế như các qui định về tu cách chủ thể của công dân, về điều kiện trở thành pháp nhân, vi các loại trái vụ, các nguyên lý chung về hợp đồng Một số loại hợp đồng cơ bản trong hoạt động thương mại như hợp đồng mua bán, hợp đồng đấu thấu, gia công, hợp

trong Bộ luật thương mại" 1

Ngoài ra, các hợp đổng đặc thù như: Hợp đồng

bảo hiểm, hợp đổng thương mại được điều chỉnh một cách cụ thể trong

các đạo luật đơn hành Như vây, mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự và các đạo

luật khác về hợp đồng (trong đó có hợp đồng thương mại) là mối quan hệ

giữa luật chung (Lex General) và luật riêng (Lex Special)

Trên cơ sở mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng như vậy, nguyên

tắc thống nhất để áp dụng luật ớ Pháp đó là: Khi ký kết hay giải quyết tranh

" Sửu đối Luật thương mại \ lệt Nam Hàm 1997 pin) hợp với pháp luật và lập quán thương mại quốc lé"

GS TS Nguyễn Thể M ơ (chù biên)- Nhà xuất bản Lý luận chính trể trang 169

Sr

Trang 27

chấp về một hợp đồng nào đó thì trước hết người ta vận dụng các qui định của pháp luật đặc thù (luật chuyên ngành) tức là pháp luật trực tiếp điều chỉnh các quan hệ đó Nếu các luật đặc thù không qui định hoặc có qui định nhưng không đủ thì người ta sẽ áp dụng các qui định chung của pháp luật về hợp dồng dân sự để xỗ lý các vấn đề phát sinh

b Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một nhà nước liên bang theo truyền thống án lệ (Commom Law) M ỗ i bang ớ Hoa Kỳ là một nhà nước có chủ quyển, có quyền ban hành một bộ luật dãn sự và bộ luật thương mại có hiệu lực áp dụng chung cho toàn bang, điều đó đồng nghĩa với việc không hề có một pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ thống nhất m à chỉ có pháp luật hợp đồng của từng bang Từ thực tế đó, pháp luật hợp đồng của Hoa Kỳ có những nét đặc trưng riêng so với pháp luật hợp đồng của các nước theo hệ thống Civil law:

ớ Mỹ, pháp luật hợp đổng được xây dựng dựa trên các phán quyết của toa án ở các bang khác nhau Tuy vậy, nguyên tắc chung của tiền lệ pháp về cơ bản là giống nhau, vì chúng đều được tiếp nhận từ nước Anh

Đ ố i với lĩnh vực mua bán và cho thuê hàng hoa, ngoại trừ bang Louisiana, các bang còn lại đều ban hành luật thương mại dựa theo Bộ luật thương mại thống nhất ucc (Uniíbrm Commercial Code) Ngay cả các luật thành văn này, phương pháp pháp điển hoa về cơ bản cũng khác với cách làm của các nước theo hệ thống pháp luật dân sự Trong pháp luật hợp đổng Hoa Kỳ không tồn tại một hệ thống các khái niệm và qui phạm pháp luật được thiết

kế từ khách quan đến cụ thể liên quan đến hợp đồng Do thiếu một hệ thống nhất quán như vậy, nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, phương pháp soạn thảo các hợp đồng cũng như tìm kiếm luật áp dụng của Hoa Kỳ cũng tuân theo những nguyên tắc khác với các nước theo hệ thống Civil

Trang 28

Law Những khác biệt này có thế giải thích được bời các đặc thù của hệ thống án lệ và chính quyền liên bang của Hoa Kỳ

Trong pháp luật hợp đổng của Hoa Kỳ không tổn tại một học thuyết

về nghĩa vụ áp dụng chung cho các quan hệ trong và ngoài hợp đồng Người

ta điều chểnh các nghĩa vụ của các bên thông qua luật hợp đổng; hoặc thông qua luật đền bù ngoài hợp đổng; hoặc thông qua các m ô hình được các toa

án sáng tạo nên

Pháp luật hợp đổng ở Hoa Kỳ cũng không có sự phân chia hợp đồng theo các đối tượng và chủ thể khác nhau thành hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại, hợp đồng tín dụng như ở Việt Nam Việc phân loại nếu có thì cũng chể mang ý nghĩa lý luận và theo các tiêu chí pháp

lý để chúng có hiệu lực như: hợp đồng hình thức và không hình thức, hợp đồng có đóng dấu, hợp đồng đăng ký tại toa án Những sự phân chia này không có ý nghĩa thực tiễn như ở Việt Nam, do vậy, không dẫn tới việc áp dụng các luật khác nhau M ọ i hợp đồng, bất luận được ký kết để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hay chể để phục vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của công dân đều chịu sự điều chểnh cùa pháp luật thống nhất

c Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia Châu Á có rất nhiều điểm gần gũi và tương đồng với Việt Nam vé chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa trong đó bao gồm cả hệ thống luật pháp Là một nước xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc cũng như Việt Nam đều chịu ảnh hướng lớn từ tư tưởng lập pháp của Liên bang X ô viết cũ

Trước khi ban hành Luật hợp đồng thống nhất năm 1999, pháp luật hợp đồng ở Trung Quốc vẫn có sự phân chia một cách tương đối độc lập

Trang 29

~Kltrú luận tốt nựìrp Qhữttạ nhôi pháp luật k&ỊL đần ụ ả (Vụt Giam

giữa các quan hệ hợp đồng trong từng lĩnh vực cũng như hệ thống các qui phạm pháp luật điều chỉnh chúng Trước năm 1999, ở Trung Quốc tổn tại ba loại luật hợp đồng khác nhau:

- Luật hợp đổng kinh tế được ban hành năm 1981 và được sửa đổi, bổ sung hoàn toàn vào năm 1993

- Luật hợp đổng kinh tế đối ngoại ban hành năm 1985

- Luật hợp đổng kỹ thuật ban hành năm 1987

Ngoài ra, Luật dân sự năm 1986 của Trung Quốc cũng có những nứi dung qui định về hợp đồng

Việc phân chia các ngành luật như vậy ở Trung Quốc đã tạo ra mứt hệ thống pháp luật thiếu thống nhất và chứa đựng những mâu thuẫn, đan xen chồng chéo, trùng lặp Hơn nữa, các luật này lại được xây dựng trong thời

kỳ quá đứ từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, nên ở mứt mức đứ nào đó đương nhiên sẽ có những thiếu sót, bất cập không phù hợp với hiện trạng nền kinh tế

Pháp luật hợp đồng ờ Trung Quốc còn có mứt nét đặc biệt giống với Việt Nam đó là ở Trung Quốc cũng tổn tại loại hình hợp đồng kinh tế Điều này là do cả Trung Quốc và Việt Nam đều chịu rất nhiều ảnh hưởng từ hệ thống pháp luật của Liên X ô cũ Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá đứ lên chủ nghĩa xã hứi, hợp đồng kinh tế được hiểu là mứt biện pháp nhằm phục

vụ việc thực hiện kế hoạch kinh tế của quốc gia Chủ thể của hợp đồng kinh

tế bị giới hạn ở các "tổ chức kinh tế xã hứi chủ nghĩa" như: xí nghịêp quốc doanh, xí nghiệp của các tổ chức chính trị xã hứi, các đoàn thể Đây chính là mứt điểm đế phân biệt hợp đồng kinh tế với hợp đổng dân sự

Trang 30

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, pháp luật hợp đổng ở Trung Quốc dần dần đã bộc lộ những bất cập và không còn phù hợp trong điều kiện mái nữa Trước thực tế đó, tháng 10 năm 1993, Quốc hội Trung Quốc đã quyết định tiến hành xây dựng một luật hợp đổng thống nhất Tuy nhiên, do có nhiều tranh luận, nhiều ý kiến trái ngược nhau, nên việc đi đến một kết luận chung là rất khó khăn Quá trình soọn thảo luật hợp đồng ở Trung Quốc tổn tọi hai quan điểm đối lập nhau: một bên là những học giả có khuynh hướng coi trọng thời kỳ đang chuyển dổi của nền kinh tế, muốn giữ lọi những sắc thái của luật hợp đồng kiểu kinh tế kế hoọch

và một bên là các học giả có khuynh hướng chủ trương lập pháp phù hợp với nền kinh tế thị trường tiên tiến đang phát triển trên thế giới

Chính vì những mâu thuẫn, những bất đồng đó m à phải mất sáu năm sau, ngày 15 tháng 3 năm 1999, Hội nghị lần thứ hai Đ ọ i hội đọi biếu nhân dân Trung Quốc khoa I X đã thông qua Luật hợp đổng mới nhất và bắt đầu

có hiệu lực từ ngày01/10/1999 Việc ban hành Luật hợp đồng mới ở Trung Quốc có ý nghĩa như là một cột mốc, ghi nhận sự chuyến đổi hoàn toàn về mặt luật pháp từ nền kinh tế kế hoọch sang nền kinh tế thị trường Và luật này được áp dụng thống nhất cho mọi quan hệ hợp đồng bất kể đó là hợp đồng kinh tế, dân sự hay thương mọi

Có thế thấy, Luật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc tuy ra đời không lâu song nó đã tỏ ra ưu việt trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng ở Trung Quốc, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong sự nghiệp phát triển của pháp luật Trung Quốc Vậy đâu là điều làm nên thành công cho Luật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc? Có thể tóm gọn trong một số nội dung sau:

Trang 31

OCỈioá luận tất itạỉịệL ^ít ủn ụ nhói pháp luật kttp đồnự Á (Việt (Ham

Thứ nhất, có sự chi tiết hóa trong các qui định của pháp luật hợp

đồng Điều này khác với quan điểm xây dựng pháp luật trước đày của Trung Quốc là chỉ cẩn qui định một cách tổng quát, không cẩn chi tiết, sau đó sẽ ban hành các pháp lệnh hay những giải thích tư pháp nhạm bổ sung cho các qui định đó Chính điều này đã làm cho hệ thống pháp luật Trung Quốc về hợp đồng trở nên phức tạp, khó hiểu và gáy khó khăn trong việc áp dụng Vì vậy, việc ban hành Luật hợp đồng thống nhất với các qui định được cụ thể hoa, chi tiết hoa đối với từng vấn đề đã góp phán khắc phục được những hạn chế trên, giúp cho pháp luật hợp đồng ở Trung Quốc thực sự phát huy vai trò của mình trong điều kiện mới

Thứ hai, trong Luật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc hoàn toàn

không có khái niệm hợp đồng kinh tế, còn các qui định về hợp đồng căn cứ vào kế hoạch quốc gia chỉ chiếm một số lượng nhỏ các qui định (38 điểu),

và việc phân loại các chủ thể trong quan hệ hợp đồng cũng không còn nữa Điều đó cho thấy, Luật hợp đồng mới của Trung Quốc đã loại bỏ những qui định đầy bất cập của Luật hợp đồng kinh tế trước dãy áp dụng những qui định mang tính khoa học, hợp lý hơn của luật hợp đổng dãn sự thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa

Thử ba, Luật hợp đồng thống nhất của Trung Quốc còn thể hiện sự

vận dụng, tham khảo các nguyên tắc luật hợp đổng của các hệ thống luật trên thế giới, trong đó có luật hợp đồng Cháu  u lục địa, hệ thống luật Anh-

Mỹ Điểu đó đã giúp Trung Quốc tiếp thu được những tinh hoa cũng như kinh nghiệm trong việc xây Luật hợp đồng của mình, đưa Luật hợp đồng Trung Quốc trở thành một luật mới, tiên tiến và đạt được nhiều thành tựu trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng ở Trung Quốc Không những thế, việc vận dụng, tham khảo này còn làm cho Luật hợp đổng của Trung

Trang 32

3Chữá luận tót rtụìệp ^ĩítốtiụ nhất pháp luật Ít ốp đẳng á <Vỉỉl 'iĩttrtt

Quốc trở nên hài hoa và thống nhất với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, trớ thành nguồn tham khảo cho các nước khác trong việc xây dựng

hệ thống pháp luật nói chung và luật hợp đồng nói riêng

ả Kinh nghiệm của Nhật Bản

Có thể nói một trong những đặc điểm của việc xây dựng và ban hành pháp luật ớ Nhật Bản đó là hẳ cũng đi theo hệ thống Civil Law Bên cạnh

đó, Nhật Bản còn hẳc hỏi kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác để tự

xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật tương thích và đặc sắc "Luật

dân sự của Nhật Bản là sự kế thừa một cách có chọn lọc pháp luật của Châu Âu lục địa mà chủ yếu là của Pháp và Đức- hai quốc gia có truyền thống luật dân sự thành văn điền hình nhất"'

Các nhà làm luật của Nhật Bẳn có quan điểm tương đối nhất quán đó

là coi Luật dân sự là luật tư, tức là điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý Trên cơ sớ đó, có thể rút ra những đặc trưng

cơ bản của pháp luật Nhật Bẳn như sau:

Cũng giống như Pháp, Nhật Bán cũng không phân biệt hợp đổng dân

sự, thương mại hay kinh tế Pháp luật hợp đổng của Nhật Bàn được áp dụng thống nhất cho mẳi loại quan hệ hợp đổng và được qui định trong Bộ luật dân sự chứ không phải là một luật độc lập Hơn nữa, Nhật Bản không sử dụng khái niệm hợp đồng kinh tế vì người Nhật quan niệm rằng đó là khái niệm được dùng ở các nước xã hội chủ nghĩa mang tính đặc thù của nền kinh tế kế hoạch hoa tập trung Các nhà lập pháp của Nhật Bản đều có một

Trang 33

DCiưtá luận tết nụĩỈỊỊ ^1 li ôn tị nhôi pháp luật hóp ttri ni/ Á (Vụt ÍÌOun

nhận thức chung đó là: "quyền và nghĩa vụ dựa trên cam kết thỏa thuận của

các bên là tiêu chí cơ bản nhất của hợp đồng nên các qui định về hợp đồng cần phải được chế định trong Bộ luật dân sự." 1

Do đó chế định hợp đồng qui định trong Bộ luật dân sự là chế định hợp đồng chung, nó bao trùm mọi hoạt động trong xã hội

Thứ hai, vê mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồng dân sự và pháp luật

Theo quan điểm của các nhà làm luật của Nhật Bản thì hợp đồng thương mại chỉ là một loại hợp đồng đặc thù mang màu sắc thương mại, được giao kết nhằm thực hiổn các hành vi thương mại Chính vì vậy, mặc dù

ờ Nhật Bản có sự phàn biổt giữa các hành vi thương mại và các hành vi dân

sự nhưng lại không hể có một chế định riêng về hợp đổng thương mại tách rời chế định chung về hợp đồng trong Bộ luật dàn sự

Như vậy, cũng giống như Pháp, Nhật Bản coi Bộ luật dân sự là bộ luật gốc, luật chung còn Luật thương mại chi là luật đặc biổt của Luật dân sự và mối quan hổ giữa chúng thể hiổn ở chỗ trong trường hợp Luật thương mại không có qui định thì áp dụng các quan hổ của Bộ luật dân sự

Tlìứba, về nguyên tắc áp dụng luật

Có thế nói Nhật Bản dã rất thành công trong viổc đưa ra các nguyên tắc áp dụng luật, tránh được sự trùng lắp trong điều chinh và đặc biổt là sự mâu thuẫn trong bản thân hổ thống luật, đó là các nguyên tắc:

- Nguyên tắc tôn trọng tẩm hiổu lực pháp lý của văn bản Điều đó có nghĩa là k h i một quan hổ hợp đổng được điều chỉnh bởi hai văn bẳn pháp luật trớ nên có nội dung khác nhau thì văn bản nào có hiổu lực cao hơn thì

ThS Đinh Thị Mai Phương 'Thống nha! ìuậl hợp đồng ở Việt Nam"- Nhà xuất bản Tư pháp n ang 141

Trang 34

được ưu tiên áp dụng Đây là nguyên tấc đầu tiên được xem xét trong việc lựa chọn luật áp dụng

- Nguyên tắc được ưu tiên thứ hai sau nguyên tắc trên đó là nguyên tắc áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành, theo đó, nếu các luật dặc thù (luật chuyên ngành) không có qui định riêng thì Luật dân sự đương nhiên được áp dụng với tư cách là luật chung

- Nguyên tắc cuối cùng được áp dụng trong số ba nguyên tắc đó là nguyên tắc áp dụng theo thời điởm ban hành Theo nguyên tắc này, khi một quan hệ hợp đồng được điều chinh bởi hai văn bân pháp luật có hiệu lực ngang nhau thì văn bản ban hành sau sẽ được ưu tiên áp dụng

Như vậy khi có vấn đề phát sinh, theo luật Nhật Bản, sẽ ưu tiên áp dụng qui phạm trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, sau đó ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành so với luật chung và cuối cùng ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật được ban hành sau so với quy phạm ban hành trước đó

e Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua việc nghiên cứu pháp luật hợp đồng của các nước tiêu biởu cho các truyền thống pháp luật trên thế giới, và pháp luật hợp đồng của các nước

có điều kiện kinh tế- xã hội gần gũi với Việt Nam, Việt Nam có thở xem xét tiếp thu những kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, pháp luật hợp đổng ở các nước trên thế giới không có sự

phân chia thành hợp đồng thương mại, hợp đổng kinh doanh có nội hàm độc lập như khái niệm hợp đồng kinh tế ở nước ta Sự phán chia nếu có cũng chỉ mang ý nghĩa lý luận, không mang ý nghĩa thực tiễn và không dẫn tới sự chia tách pháp luật điều chỉnh hợp đồng như ở Việt Nam

Trang 35

Thứ hai, ở tất cả các nước đó đều có pháp luật hợp đổng thống nhất,

theo đó, mọi loại hợp đồng, dù phát sinh trong lĩnh vực nào, nhằm mục đích kinh doanh hay sinh hoạt, tiêu dùng thì đều chịu sự điểu chắnh của pháp luật thống nhất

Thứ ba, hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều giải quyết đúng

đắn mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng, theo đó, những vấn đề đặc thù đối với hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể có thể được qui định riêng trong các đạo luật đơn hành hoặc được áp dụng theo án lệ Các qui định của luật hợp đổng thống nhất sẽ được áp dụng khi trong các luật đơn hành không có qui định

Ba đặc điểm trên của pháp luật hợp đồng của các nước trên thế giới chính là những mục tiêu m à quá trình thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay cần đạt tới Đ ó chính là những bài học quý báu m à quá trình tìm hiểu pháp luật hợp đồng của các nước trên thế giới đem lại cho chúng ta,

từ đó giúp chúng ta có được những định hướng đúng đắn trong quá trình thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay Vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Việt Nam lúc này là cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Luật Thương mại năm 1997 theo mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng để hệ thống pháp luật hợp đổng ở Việt Nam trở nên thống nhất, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, đổng thời làm cho pháp luật Việt Nam nói chung là pháp luật hợp đồng ở Việt Nam nói riêng trở nên hài hoa hơn với luật pháp quốc tế

Trang 36

Chương 2: THỰC TRẠNG TÍNH THỐNG NHẤT CỦA PHÁP LUẬT HỢP ĐỔNG Ở VIỆT NAM TRƯỚC KHI BỘ LUẬT DÂN Sự N Ă M 2005 VÀ LUẬT T H Ư Ơ N G MẠI N Ă M

hệ hợp đồng cũng theo đó m à ngày càng trở nên hết sểc đa dạng và phong phú Chính vì vậy m à chế định hợp đồng ngày càng được coi trọng, ngày càng được hoàn thiện

Quá trình phát triển và hoàn thiện của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam

đã trải qua những bước đi tuần tự, phản ánh quá trình phát triển khách quan của quan hệ kinh tế - xã hội và cơ chế thị trường Quá trình đó có thể phân chia thành các thời kỳ sau:

- Thời kỳ Phong kiến;

- Thời kỳ Pháp thuộc;

- Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1986; và

- Thời kỳ từ năm 1986 đến nay

Trang 37

DCiưtá luận tết nụĩỈỊỊ ^1 li ôn tị nhôi pháp luật hóp ttri ni/ Á (Vụt ÍÌOun

ã Thời kỳ Phong kiến

Trong thời kỳ Phong kiến, ở Việt Nam chưa hề có một khái niệm thống nhất về hợp đổng, song điều đó không có nghĩa là các quan hệ hợp đồng không được điều chỉnh trong pháp luật phong kiến Việt Nam Trong hai bộ luật nổi tiếng của nước ta thời Phong kiến là Hồng Đức và Gia Long

đã đề cập tới các loại hợp đổng cặ thể và đã có các qui định điểu chỉnh tương đối chặt chẽ Các điều kiện có hiệu lực của hợp đổng tuy chưa được nâng lên thành các qui định chung, khái quát, nhưng cũng được qui định cho từng loại hợp đồng cặ thể Và một điều thật đặc biệt đó là pháp luật về hợp đồng ớ Việt Nam thời kỳ này chưa bị chia tách m à được qui định qua các loại hợp đồng cặ thể trong một khối thống nhất và áp dặng chung cho tất cả các chủ thể

Có thể nói, trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cũng như các nhà nước phong kiến phương Đông khác, pháp luật về hợp đồng nói riêng và pháp luật phong kiến nói chung chưa có sự phân hóa thành các ngành luật chuyên biệt m à tất cả các quan hệ chủ yếu được điều chỉnh tập

trung trong một văn bản pháp luật mang nặng tính chất luật hình "Nếu có

một sự phân chia có ý nghĩa thực tế trong luật lệ, thì đó là sự phân chia giữa luật của chế độ phong kiến (Luật do Vua ban) và luật lệ của từng làng xã, trường tồn qua từng thiên niên kỷ, bất chấp các ảnh hưởng chính trị từ bên

trong các láng xã, phường hội Pháp luật phong kiến chỉ can thiệp trong

Trang 38

DCiưtá luận tết nụĩỈỊỊ ^1 li ôn tị nhôi pháp luật hóp ttri ni/ Á (Vụt ÍÌOun

những trường hợp hãn hữu (trốn thuế, lừa đảo, và các tội phạm khác mà thông lệ không đủ sức mạnh để loại trừ)"'

Như vậy, ở thời kỳ này, các phong tục tập quán, các thông lệ, các qui phạm đạo đức đã trở thành nguồn luật điều chỉnh trước tiên của các giao dịch giữa các thương nhân Các giao dịch này chỉ trớ thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật phong kiến dưới khía cạnh của Luật hình và hành chính cùng với các quan hệ xã hắi khác

b Thời kỳ Pháp thuộc

Dưới sự cai trị và ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật chế đắ thực dãn Pháp, pháp luật Việt Nam thời kỳ này bắt đẩu có sự chuyển biến rõ nét Không chỉ dừng lại ở luật hình như ớ thời kỳ Phong kiến, Pháp luật Việt Nam đã bắt đầu có sự xuất hiện của dân luật m à điển hình là ba bắ luật dân

sự ở ba miền Bắc- Trung- Nam:

- Miền Bắc với Bắ luật Bắc Kỳ (năm 1931)

- Miền Trung với Bắ luật Hoàng Việt Trung Kỳ (năm 1936)

- Miền Nam với Bắ dàn luật giảm yếu Nam Kỳ (năm 1883)

Trong các bắ luật này, mắt số khái niệm về hợp đồng đã được hình thành dưới thuật ngữ "khế ước" và "hiệp ước" Ví dụ, Điều 680 Bắ luật Hoàng Việt Trung Kỳ qui định:

"Khế ước là hiệp ước của mắt hay nhiều người cam kết với mắt hay

nhiều người đê chuyên giao, để làm hay không làm cái gì"

"Hiệp ước là mắt hay nhiều người đồng ý với nhau để lập ra, chuyển

đi đổi đi hay tiêu đi mắt quyền lợi thuắc về của cải hay con người"

Phạn Duy Nghĩa, "Pháp luật thương mại Việt Nam trước thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc

tà" Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2000 trang 9

Trang 39

Khái niệm "khế ước" ở trên rất gần với khái niệm "hợp đồng" trong

Bộ luật dân sự Pháp (Điều l o i Ì, Bộ luật dân sự Pháp) cho thấy thấy mức độ

ánh hướng của pháp luật Pháp đối với pháp luật Việt Nam là rất lớn Mác dù vẫn còn nhiều hạn chế song nhìn chung khái niệm trên đã phản ánh được bản chất của một hợp đểng Bên cạnh đó, các qui định cụ thể về việc xác lập, thực hiện, thay đểi và chấm dúi khế ước, trách nhiệm của bèn vi phạm

và qui định về các loại khế ước phể thông đều được qui định trong Bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ

Không những thế, ảnh hưởng của pháp luật Pháp đến pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng của Việt Nam nói riêng còn thế hiện

ở việc pháp luật hợp đồng ớ Việt Nam thời kỳ này cũng không có sự phân chia hợp đồng theo chủ thể và mục đích ký kết N ộ i dung của các qui định đều cho thấy pháp luật về hợp đồng được áp dụng chung, thống nhất cho tất

cả các hợp đồng thuộc đối tượng điều chỉnh m à không có sự phân biệt trên

cơ sở chủ thể hay mục đích

Ngày 12 tháng 6 năm 1942, Chính quyền Nam Triều Bảo Đ ạ i đã ban hành Bộ luật thương mại áp dụng tại Trung phần Bộ luật này ra đời do ảnh hưởng của những tư tưởng tự do hoa thương mại và đặc biệt dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Luật thương mại Pháp Bộ luật này điều chỉnh các hành v i thương mại của các thương nhân và việc điều chỉnh này được đặt trong mối quan hệ với Bộ luật dân sự Cụ thế Luật thương mại chỉ áp dụng điều chỉnh

những quan hệ m à Bộ luật dãn sự không qui định "Như vậy, sự xuất hiện

của Bộ luật thương mại trong thời kỳ này cũng không nhầm chia tách các

Trang 40

quan hệ thương mại một cách độc lập với quan hệ dân sự và các qui định pháp luật về hợp đồng nhìn chung vẫn nằm trong một thể thống nhất".'

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Việt Nam đã trớ thành nhà nước dân chủ nhân dãn đầu tiên ở Đông Nam Á Lúc này, việc điều hành đất nước phái được thể chế hóa bằng các qui định của pháp luật, song do hoàn cảnh kinh

tế xã hội lúc bấy giờ còn khó khăn chưa thể chú trọng vào việc cho ra đời những văn bản pháp luật áp dửng trên cả nước Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương cho phép tạm sử dửng một số luật lệ hiện hành (không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoa) ớ Bắc- Trung- Nam cho đến khi ban hành bộ luật duy nhất trong

cả nước Đồng thời đưa ra chủ trương "sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật" nhằm bổ sung, sửa đổi làm cho các bộ luật của đế quốc phong kiến có nội dung mới, đem đến những biến đổi thực sự trong cách thức sinh hoạt và tư tưởng của người dân Việt Nam

Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp Việt Nam Đ ó là Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hoa, Hiến pháp của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Toa án nhân dân tối cao đã ra chi thị số 772-CT/TANDTC đình chỉ việc áp dửng luật lệ của đế quốc, phong kiến trước đây nói chung, trong đó bao gồm cả ba Bộ lật dân sự ở ba miền Bắc- Trung-Nam Nhu cầu cần phải có một bộ luật thống nhất trong cả nước lúc này là một nhu cầu tất yếu Tuy nhiên, vào thời kỳ này, cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước đang trong thời kỳ quyết liệt nhất, tình trạng chiến tranh đòi

ThS Định Thị Mai Phương "Thống nhái luật hợp đốiìgởVịệt Nam"- Nhà xuất bản Tư pháp [rang 30

Ngày đăng: 27/03/2014, 06:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức  phải bằng văn bản  bằng  l ờ i nói,  lời nói, bằng văn bản - Thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Hình th ức phải bằng văn bản bằng l ờ i nói, lời nói, bằng văn bản (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w