Trong chương trình môn Lịch sử của lớp 11, có nhiều bài nội dung thời kì trướcgiảm tải, nội dung thời kì sau thì học nên kiến thức bị đứt đoạn, học sinh khó hiểu.Nếu như giáo viên không
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 11
( CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
Quảng Bình, tháng 01 năm 2019
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 11
Trang 31 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tíchnước nhà Việt Nam” Câu nói của Người cho thấy, việc học và dạy lịch sử không chỉ
để cho mọi người dân Việt Nam nhận biết rỏ cội nguồn của mình, mà còn để bồi bổ,giáo dục tinh thần yêu nước, ý chí tự tôn, tự hào dân tộc Vai trò của bộ môn Lịch sử
từ lâu được khẳng định là đã góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục,đào tạo thế hệ trẻ
Dạy như thế nào, học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất là điềumong muốn của tất cả các giáo viên Hiện nay, việc giảng dạy học môn Lịch sử ở bậctrung học phổ thông đang gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng học sinh khôngmuốn học lịch sử, giáo viên dạy bộ môn Lịch sử cũng không mặn mà với bộ môn củamình Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nói trên, theo tôi có rất nhiều nguyênnhân…trong đó có những em không có hứng thú với bộ môn Lịch sử vì sự kiện nhiều,bài dài, tên nhân vật khó nhớ…hay tâm lí môn chính, môn phụ Nhiều người cho rằnggiáo viên chậm đổi mới, không tích cực hưởng ứng và vận dụng các phương pháp đãcải tiến, trong đó có sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học, nhất là nhữngbài học có nhiều kênh hình lịch sử (bản đồ, tranh ảnh, lược đồ, niên biểu, phim tàiliệu,…)
Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất đó là người thầy đã không làm tròn nhiệm
vụ của mình khi đứng trên bục giảng Chất lượng dạy học lịch sử ở trường trung họcphổ thông chỉ có thể thay đổi căn bản khi giáo viên làm tròn nhiệm vụ của mình.Muốn thế phải đổi mới phương pháp, biện pháp dạy và học Người giáo viên phải tổchức một cách linh hoạt các hoạt động của học sinh từ khâu đầu tiên đến khâu kếtthúc giờ học; từ cách ổn định lớp, kiểm tra bài cũ đến cách học bài mới, củng cố, dặn
dò Những hoạt động đó giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự giác, chủ động,tích cực, sáng tạo và ngày càng yêu thích, say mê môn học
Vậy, làm thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh? Đây có thể là nỗi bănkhoăn của hầu như đa số giáo viên Là người trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ mônLịch sử ở trường trung học phổ thông, điều mà tôi trăn trở nhất là làm sao kiến thứclịch sử đến với học sinh một cách tự nhiên và có hiệu quả nhất Mỗi tiết học tôi đều cốgắng tìm tòi, đổi mới cách giảng dạy như một cuộc vật lộn để tìm ra phương pháp tối
ưu nhất Vì vậy, mỗi một năm học tôi đều cố gắng tìm cho mình một phương phápgiảng dạy để làm sao học sinh nắm được nội dung cần truyền tải trong bài học đó
Trong chương trình môn Lịch sử của lớp 11, có nhiều bài nội dung thời kì trướcgiảm tải, nội dung thời kì sau thì học nên kiến thức bị đứt đoạn, học sinh khó hiểu.Nếu như giáo viên không biết cách chọn lọc nội dung cũng như áp dụng phương pháp
để dạy bài học thì nó sẽ trở nên khô khan, học sinh tiếp thu chậm Trong quá trình dạytôi đã sử dụng nhiều biện pháp như: phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan; phươngpháp hoạt động nhóm; phương pháp hướng dẫn học sinh ghi nhớ sự kiện lịch sử thôngqua sơ đồ tư duy, nắm vững và sử dụng sách giáo khoa, vở bài tập, tiến hành công tácngoại khóa nhưng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nói chung, dạy
Trang 4học lịch sử nói riêng là một trong những biện pháp rất quan trọng, rất có ưu thế đểphát triển tư duy của học sinh Quá trình hoạt động chung, thống nhất giữa thầy và trònhịp nhàng sẽ làm cho học sinh nắm vững hơn những tri thức, hình thành kĩ năng, kĩxảo và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách cho các em Mặt khácnhằm giảm bớt số lượng học sinh yếu, kém trong nhà trường và phát huy hết năng lựccủa các em khá, giỏi nắm chắc được kiến thức bài học và hiểu sâu hơn các sự kiện,vấn đề, nhân vật lịch sử.
Đổi mới phương pháp dạy học phải mang tính toàn diện, cốt lõi là phát huy tínhtích cực, năng lực sáng tạo trong tư duy và hoạt động của học sinh Theo nhiều nhà lýluận dạy học, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay cần tích hợp nhữngthành tựu của công nghệ thông tin, trong đó có ứng dụng phần mềm Mind Manager
để giúp học sinh hình thành kỹ năng học tập Bởi vì đây là sản phẩm số lấy ý tưởng từ
sơ đồ tư duy Mind Map nổi tiếng của Tony Buzan, là một phần mềm thích hợp để cóthể phổ biến rộng rãi và phục vụ hữu ích cho cả thầy và trò trong quá trình dạy - học
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP
11 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) nhằm để thiết kế bài học và tổ chức cho học sinh
lĩnh hội kiến thức hiệu quả, góp phần tích cực vào đổi mới phương pháp dạy học, qua
đó nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử
1.2 Điểm mới của đề tài
Phương pháp vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử sẽ định hướng đượcbài dạy, tổ chức cho học sinh tìm ra được những kiến thức cơ bản, trọng tâm, tránh savào kiến thức thứ yếu, vụn vặt Dạy học theo sơ đồ tư duy các em sẽ tiếp thu bài mộtcách có hệ thống, lôgic, đồng thời phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động vàsáng tạo của học sinh trong quá trình học tập và vận dụng vào thực tế sau này
Trong đề tài tôi đã thiết lập nhiều sơ đồ tư duy cho một số bài nhằm kích thíchkhả năng tư duy, tìm tòi, chủ động kiến thức để tìm ra cái mới trong bài học của họcsinh, từ đó đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộmôn Đồng thời đề tài còn áp dụng để hoàn thiện một bài dạy trong Chương trình lịch
sử lớp 11 bằng sơ đồ tư duy
Trang 52 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Thực trạng giảng dạy lịch sử ở trườngTHPT
2.1.1 Ưu điểm
* Đối với giáo viên:
Hiện nay việc dạy và học đang được áp dụng nhiều phương pháp dạy học tíchcực để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinhsang dạy cho học sinh cách tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức Từ đó, vận dụng kiếnthức vào thực tế và biến đổi thành kỹ năng cho riêng bản thân mình Việc áp dụngphương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp học nhóm,công nghệ thông tin,… vào trong giảng dạy hiện đang là công cụ phù hợp và đạt hiệuquả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong giáo dục hiện nay Đây là mộtphương pháp mới nhưng tính hiệu quả rất cao Qua thực tế giảng dạy, bản thân thấytâm đắc vì phương pháp này giúp cho học sinh phát huy được sự tự tin, sự logic, sángtạo và phát triển được khả năng tư duy… Ngoài ra, dạy học bằng sơ đồ tư duy giúpcho học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và chính xác nội dung bài họccủa mình Đặc biệt, đối với phương pháp này còn giúp cho học sinh không nhàm chán
mà luôn sôi nổi và hào hứng trong tiết học, từ đó tạo được điều kiện cho học sinh tậptrung thảo luận và cùng tìm ra vấn đề cốt lõi trong nội dung của bài học Với phươngpháp này buộc học sinh phải chủ động trong việc học của mình, từ đó mà hiệu quảtrong việc học không ngừng được nâng cao
* Đối với học sinh:
- Học sinh đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi màgiáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối mụctrong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn
- Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiệu quả cao trongquá trình lĩnh hội kiến thức
- Học sinh yếu, kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng tâm cơbản thông qua các hoạt động học như thảo luận nhóm, vấn đáp, đọc sách giáo khoa ,các em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi nhớ các sự kiện, nhân vật, một quátrình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình
- Áp dụng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em nhanh chóng tìm rakiến thức, nhanh chóng ghi nhớ được kiến thức, đồng thời các em cũng có thể tự tạocho mình những sơ đồ kiến thức cho riêng mình theo ý thích, tức là phát huy khả năng
tự học của các em và đây mới là cái đích mà chúng ta cần giáo dục cho học sinh
2.1.2 Hạn chế
*Về phía giáo viên:
Trong thực tế, hầu hết các giáo viên đều biết vai trò quan trọng của sơ đồ tưduy trong việc dạy học lịch sử nhưng giáo viên thường rất ít khi sử dụng vì phải sợtiêu tốn nhiều thời gian trong việc chuẩn bị bài giảng Chính vì vậy mà khả năng đạthiệu quả cao trong một tiết giảng dạy là chưa cao Vẫn còn một số ít giáo viên chưathực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy; chưatích cực hoá hoạt động của học sinh, tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và
Trang 6nắm vững kiến thức như vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy nói, trò nghe”,
“thầy đọc, trò chép” Do đó nhiều học sinh chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ họcthuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn
Đa số giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học, tức là sau khi kiểm trabài cũ, giáo viên vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua việc nêu câu hỏi nhận thức.Điều này làm giảm bớt sự tập trung chú ý bài học của học sinh ngay từ hoạt động đầutiên
Một số tiết học giáo viên chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số học sinhkhá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh yếu, kém Cho nên đốitượng học sinh yếu, kém ít được chú ý và không được tham gia hoạt động Điều nàylàm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản mônhọc của mình
* Về phía học sinh:
Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáokhoa và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy Một số học sinh còn đọc nguyên bản sáchgiáo khoa để trả lời câu hỏi
Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học, một số bộ phận học sinhkhông chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ, trên lớp các em thiếu tậptrung suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử cònyếu
Học sinh chỉ có trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày), cònmột số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì học sinh còn rất lúng túngkhi trả lời hoặc trả lời thì mang tính chất chung chung
2.2 Các giải pháp đã thực hiện vận dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu
quả trong dạy học lịch sử 11 (chương trình chuẩn)
2.2.1 Chuẩn bị
- Nghiên cứu kĩ tài liệu tập huấn về sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
- Tải và luyện tập sử dụng phần mềm thiết kế bản đồ tư duy
- Luyện tập vẽ sơ đồ tư duy bằng phương pháp thủ công: trên máy, trên bảng
- Lập kế hoạch hướng dẫn học sinh các bước vẽ sơ đồ tư duy vào vở
- Lựa chọn nội dung, bài giảng phù hợp sử dụng sơ đồ tư duy
2.2.2 Hệ thống các tiết dạy đã vận dụng sơ đồ tư duy
- Bài 22: Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp
2.2.3 Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ
Trang 7Bảy bước để tạo nên một sơ đồ tư duy:
- Bước 1 Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề.
- Bước 2 Luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích
não như hình ảnh
- Bước 3 Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,…
- Bước 4 Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường nối.
- Bước 5.Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (kiểu đường kẻ, màu sắc,…).
- Bước 6 Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều các đườngthẳng buồn tẻ
- Bước 7 Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
Quy trình học cách thiết kế sơ đồ tư duy:
- Bước 1: Cho học sinh đọc hiểu sơ đồ tư duy.
- Bước 2: Học cách thiết kế sơ đồ tư duy bằng cách cho học sinh hoàn thiện
các sơ đồ tư duy do giáo viên vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung…
- Bước 3: Thực hành vẽ sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng.
Từ việc học sinh nắm vững được phương cách xây dựng sơ đồ tư duy và quytrình tổ xây dựng sơ đồ tư duy trong dạy học Đồng thời qua kết quả nghiên cứu thựcnghiệm và lý luận của nhiều nhà hoạt động trong ngành giáo dục Có thể tóm tắt một
số hoạt động dạy học trên lớp với sơ đồ tư duy như sau:
Hoạt động 1: Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của
giáo viên
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,
thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư
duy về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp họcsinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn
bị sẵn hoặc một sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho họcsinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
2.2.4 Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy
2.2.4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ
Vì thời gian kiểm tra bài cũ không nhiều, chỉ khoảng 5-7 phút nên yêu cầu củagiáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh để trả lờicâu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài họcbằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáo viên sẽ chấm điểm tùy vào mức
độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng
“học vẹt”, đọc thuộc lòng mà không hiểu bài Do đó, cần phải có sự thay đổi trongviệc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh Yêu cầu đặt ra không chỉ “phần nhớ”
mà cần chú trọng đến “phần hiểu” Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừađánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụng sơ đồ tư
Trang 8duy vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bàihọc cũ Các sơ đồ thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu họcsinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánhthông tin với từ khóa trung tâm.
Ví dụ 1: Trước khi dạy học Bài 19: NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC, giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng điền các
thông tin để hoàn thiện sơ đồ tư duy về những nội dung chính của lịch sử thế giới hiệnđại (1917 –1945)
Sau khi học sinh đã hoàn thiện, sơ đồ tư duy một lần nữa giúp học sinh hệthống hóa được toàn bộ những nội dung chính của lịch sử thế giới hiện đại nổi bật giaiđoạn 1917 - 1945 Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên cần căn cứvào đó để đánh giá, nhận xét:
Trang 9Ví dụ 2: Khi dạy Mục II - Bài 21 : PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỈ XIX, giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện
sơ đồ tư duy ở Mục I: Phong trào Cần Vương bùng nổ
Như vậy, qua việc hoàn thiện sơ đồ tư duy, bên cạnh việc giúp học sinh khắcsâu kiến thức cơ bản về nguyên nhân làm bùng nổ phong trào Cần Vương, đây còn làphần dẫn dắt để giáo viên chuyển sang nội dung bài mới ở mục II của bài về diễn biếnchính của phong trào Cần Vương qua một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
Trang 102.2.4.2 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc giảng bài mới
Sử dụng sơ đồ tư duy là một gợi ý cho cách trình bày Giáo viên thay vì gạchchân đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng sơ đồ tư duy để thể hiện mộtphần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan
Để thực hiện nội dung này tôi đã thực hiện theo 2 cách sau:
Cách 1: Lập sơ đồ tư duy tại lớp:
Ví dụ : Trong Bài 9: CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917 VÀ CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CÁCH MẠNG (1917-1921).
Bước 1: Giáo viên giới thiệu khái quát chương và nội dung bài mới
Bước 2: Nêu câu hỏi định hướng nhận thức cho học sinh nhằm:
+ Xác định nhiệm vụ nhận thức của người học
+ Hướng học sinh vào kiến thức trọng tâm của bài, huy động tối đa các hoạtđộng của các giác quan trong quá trình học tập
Câu 1: Vì sao trong năm 1917 ở Nga đã diễn ra hai cuộc cách mạng?
Câu 2: Trình bày quá trình chuyển biến từ Cách mạng dân chủ tư sản sang
Cách mạng tháng Mười Nga.
Câu 3: Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Mười Nga.
Bước 3: Lập sơ đồ tư duy.
- Giáo viên vẽ hình ảnh trung tâm (có thể sử dụng quốc kì của Nga hoặc chândung Lênin để minh họa)
- Sau khi tạo xong hình ảnh trung tâm, giáo viên nêu câu hỏi:
+ Bài này có những nội dung chính, cơ bản nào? (thay cho nhánh)
+ Học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lên bảng, có chúthích tên từng nhánh lớn và đánh số thứ tự (phục vụ cho việc ôn bài)
Trang 11- Hình thành xong nhánh cấp 1, chuyển sang nhánh cấp 2, nhánh cấp 3.
1 Tình hình nước Nga trước cách mạng: (Thảo luận nhóm)
- Nhóm 1+2: Quan sát những hình ảnh sau và hoàn thành phiếu học tập về tìnhhình nước Nga trước cách mạng (kinh tế, chính trị)
- Nhóm 1 – chính trị:
Hình 1: Lược đồ Đế quốc Nga đầu thế kỉ XX
Hình 2: Nga hoàng Nicôlai II
Hình 3: Phụ nữ tiễn chồng ra mặt trận
Hình 4: Những người lính Nga ngoài mặt trận
- Nhóm 2 – kinh tế:
Hình 1: Nông dân Nga trước cách mạng
Hình 2: Nhà ở của nông dân Nga
Hình 3: Nạn đói 1917
- Nhóm 3: Nêu tình hình xã hội nước Nga trước cách mạng
- Nhóm 4: Dựa vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nêu những mâu thuẫnchủ yếu trong xã hội Nga trước cách mạng? Mâu thuẫn nào là cơ bản nhất cần giảiquyết?
Giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm, dựa vào sách giáo khoa rút ra nội dungchính, chuyển thành từ khóa và hình ảnh minh họa Bằng cách dạy truyền thống, khithảo luận nhóm chỉ một vài em hoạt động hoặc cũng có thể cả nhóm làm việc (thảoluận cặp đôi) Nhưng do chưa xác định được nội dung trọng tâm vì vậy dễ lan man,lạc đề Với sơ đồ tư duy, bằng việc xây dựng hình ảnh trung tâm, các nhánh chính phụthông qua màu sắc giúp học sinh định hướng và cứ thế phát triển ý tưởng ra xungquanh Cứ làm việc như vậy, học sinh sẽ biết cách tự vận động tìm tòi kiến thức Sơ
đồ tư duy không chỉ là công cụ ghi chú tối ưu mà còn là công cụ gợi mở, kích thíchquá trình học hỏi của trẻ
Sau ít phút thảo luận, học sinh báo cáo, thuyết trình về sơ đồ tư duy giáo viên
có thể chỉ bất kì hoặc nhóm cử đại diện lên báo cáo Qua hoạt động này giáo viên vừabiết rõ hiểu biết của các em vừa rèn luyện khả năng thuyết trình trước đám đông, giúpcác em tự tin mạnh dạn hơn
Sau khi đại diện của từng nhóm trình bày, giáo viên yêu cầu nhóm khác nhậnxét, cá nhân bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ về kiến thức và cấu trúc (có sự hỗtrợ của giáo viên) Cuối mỗi nhánh chuẩn bị chuyển sang nhánh khác (ý khác), giáoviên sử dụng câu chốt cuối mục nhằm khắc sâu kiến thức
2 Từ Cách mạnh tháng Hai đến Cách mạng tháng Mười:
Giáo viên cho học sinh đọc nhanh sách giáo khoa trang 49- 50 và tóm tắt diễnbiến bằng sơ đồ (biểu diễn sự đi lên của cách mạng)
Giáo viên tiếp tục nêu câu hỏi:
+ Cách mạng tháng Hai đã thực hiện được những nhiệm vụ gì?
+ Giáo viên khai thác tranh, đoạn phim, truyện kể nhằm làm tiết học thêm sinhđộng
Trang 12Sau khi hoàn thành Cách mạng tháng Hai, giáo viên lập bảng so sánh và yêucầu học sinh hoàn thành, từ đó rút ra tính chất và ý nghĩa của cách mạng:
Nội dung Các cuộc CMTS thời
cận đại
Cách mạng tháng Hai Nhiệm vụ
Cách 2: Học sinh lập sơ đồ tư duy ở nhà
Trang 13Khi giao bài tập về nhà, học sinh sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếmtài liệu nên bài tập mà giáo viên giao cho học sinh hoặc nhóm học sinh trước hết phảigắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian)
Ví dụ: Khi dạy Bài 22: XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG CUỘC KHAI THÁC LẦN THỨ NHẤT CỦA THỰC DÂN PHÁP
Ở tiết trước, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu nội dung củabài học và vẽ sơ đồ tư duy theo hai câu hỏi định hướng nhận thức sau:
Câu 1 Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, kinh tế nước
ta có sự chuyển biến như thế nào?
Câu 2 Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, kinh tế nước
ta xã hội Việt Nam có sự chuyển biến như thế nào?
Khi học bài mới, trong thời gian 5 phút, lần lượt từng nhóm cử đại diện thuyếtminh Suốt tiết học, giáo viên quan sát thái độ làm việc của học sinh vừa nhắc nhở,vừa tuyên dương những bạn, nhóm tích cực
Sau khi các nhóm báo cáo (có thể khai thác thêm tranh hay tư liệu minh họa mànhóm chuẩn bị), nhóm khác bổ sung về nội dung kiến thức, cấu trúc sơ đồ, cáchthuyết trình…thậm chí nêu câu hỏi nếu nhóm được trình bày chưa làm sáng tỏ Giáoviên là người nhận xét cuối cùng, có thể chỉnh sửa về nội dung, hình thức của sơ đồbằng phấn hay bút màu
Mặt khác, yêu cầu học sinh sưu tầm một số tranh ảnh có liên quan đến bài học
và thể hiện được tính sáng tạo, thẩm mỹ cao Sau đó, khi dạy bài mới giáo viên chohọc sinh đối chiếu so sánh nội dung đã chuẩn bị ở nhà xem đúng không, đầy đủ chưa,đồng thời giáo viên phải chuẩn bị một sơ đồ tư duy có đầy đủ nội dung kiến thức củabài học này để giới thiệu và nhấn mạnh kiến thức cho học sinh nắm chắc, nhớ sâu bài
học
2.2.4.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học
Đối với củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học, dạng bài tập thích hợp làcho học sinh tự thiết kế một sơ đồ theo ý muốn sáng tạo của mình với màu sắc tùy ý,
có thể sơ đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặc đầy đủ lượng kiến thức của bài họcnhư vừa tiếp thu trong bài học, hoạt động cá nhân hoặc nhóm Tuy nhiên, các thôngtin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiếnthức và lưu ý đến trọng tâm của bài học
Ví dụ 1: Trong Bài 21: PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỈ XIX, sau khi
học xong bài 21, giáo viên cho học sinh lên bảng vẽ sơ đồ tư duy thể hiện các kiếnthức chính của 2 cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là khởi nghĩa Bãi Sậy và khởi nghĩaHương Khê, giáo viên gọi học sinh khác nhận xét, bổ sung bài làm của bạn và cuốicùng giáo viên hoàn thiện bằng sơ đồ tư duy hoàn chỉnh