1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ - Quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)

153 1,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)
Tác giả Đặng Thị Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Ngọc Bảo
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 7,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là phải cạnh tranh với các nướclớn để tồn tại, phát triển nhưng chính sự suy yếu của một số nước lại tạo ra cơ hộithuận lợi để vương triều Majapahit mở rộng quyền lực và lãnh thổ, nhấ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Đinh Ngọc Bảo, ngườithầy đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiệnluận văn!

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo công tác tại Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, Khoa Lịch sử, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ bộ môn Lịch sửThế giới cổ trung đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành luận văn này!

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị em, các bạn trong lớp Cao họcK.21 và sự động viên cổ vũ của gia đình đã khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình họctập và quá trình thực hiện luận văn này!

Hà Nội, tháng 7 năm 2013

Học viên

Đặng Thị Hiền

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của đề tài 10

7 Cấu trúc đề tài 10

Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA VƯƠNG TRIỀU MAJAPAHIT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI 11

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của vương triều Majapahit 11

1.1.1 Quá trình hình thành vương triều Majapahit 11

1.1.2 Quá trình phát triển của vương triều Majapahit 15

1.2 Những nhân tố tác động tới quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit 20

1.2.1 Những nhân tố bên trong 20

1.2.2 Nhân tố khu vực và thế giới 45

Chương 2: QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA VƯƠNG TRIỀU MAJAPAHIT VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ ĐÔNG BẮC Á (THẾ KỈ XIII - XVI) 51

2.1 Quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á 51

2.1.1 Quan hệ với Champa 51

2.1.2 Quan hệ với Malacca 56

2.1.3 Quan hệ với Siam 65

2.1.4 Quan hệ với Đại Việt 69

2.2 Quan hệ với các nước ở khu vực Đông Bắc Á 79

2.2.1 Quan hệ với Trung Quốc: 80

Trang 3

2.2.2 Quan hệ với Ryukyu 99

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT TỪ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI

CỦA VƯƠNG TRIỀU MAJAPAHIT 111 3.1 Một số kết quả nổi bật từ quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit 111

3.1.1 Mở rộng lãnh thổ hình thành nên Nusantara - đế chế đảo 111 3.1.2 Giữ vững sự ổn định, củng cố nền độc lập và phát triển đất nước 114 3.1.3 Du nhập một số yếu tố kĩ thuật mới 120

3.2 Một số đặc điểm về quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit 126

3.2.1 Tính linh hoạt, mềm dẻo trong việc thực hiện các mối quan hệ đối ngoại 126 3.2.2 Thực hiện chính sách thân Trung Quốc trên cơ sở lợi ích dân tộc đặt lên hàng đầu 131

KẾT LUẬN 134 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Majapahit là vương triều lớn trong lịch sử phong kiến Đông Nam Á nói chung

và lịch sử dân tộc Indonesia nói riêng Trong suốt 200 tồn tại (1293 - 1527),Majapahit đã thực sự có nhiều đóng góp quan trọng, đưa đất nước ngày càng pháttriển và trở thành quốc gia lớn mạnh thời bấy giờ Khi tìm hiểu về lịch sử Indonesia,các nhà nghiên cứu đã đánh giá rất cao vai trò của vương triều này Majapahitkhông những chỉ thống nhất các hòn đảo vốn mang tính tự trị cố hữu thành một

quốc đảo thống nhất mà còn “đánh dấu sự khởi đầu ở cấp độ mới cao hơn, sự thống nhất về kinh tế, xã hội bên trong cũng như đối với khu vực bên ngoài khu vực Đông Nam Á” [9; 82] Những thành tựu ấy đạt được là do có một vị trí địa lí hết sức thuận

lợi, nhưng quan trọng hơn hết là sự lãnh đạo anh minh, sáng suốt của những ngườiđứng đầu đất nước và sự đoàn kết nhất trí của nhân dân trong cả nước Nhà nướcluôn quan tâm củng cố, phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội bằng các chínhsách hợp lí, trong đó quan hệ đối ngoại với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á

là những mối quan hệ lớn và được nhà nước Majapahit đặc biệt chú trọng

Vương triều Majapahit hình thành và phát triển trong bối cảnh khu vực cónhiều biến động mạnh mẽ Một số quốc gia sau thời kì phát triển đã trở lên suy yếunhư: Srivijaya (1377), Champa (1471),… còn một số quốc gia phong kiến khácnhư: Đại Việt, Angkor, Mianma, Ayuthaya,… vẫn tiếp tục phát triển, khẳng địnhđược sự hùng cường của mình Bối cảnh đó đã đặt ra những thách thức cho vươngtriều trong việc bảo vệ và phát triển đất nước Đó là phải cạnh tranh với các nướclớn để tồn tại, phát triển nhưng chính sự suy yếu của một số nước lại tạo ra cơ hộithuận lợi để vương triều Majapahit mở rộng quyền lực và lãnh thổ, nhất là trong thếgiới hải đảo như Majapahit đã tiến hành chinh phục đảo Bali (1343) và chinh phạtkinh đô Srivijaya (1377),…

Tuy nhiên, trên cơ sở củng cố tiềm lực đất nước và nhất là thông qua việc mởrộng quan hệ đối ngoại với các nước, Majapahit ngày càng khẳng định được vị thếcủa mình trong lịch sử khu vực Quan hệ đối ngoại đã đóng góp một phần không

Trang 5

nhỏ trong việc thống nhất đất nước thành một Nusantara - hòn đảo hoà bình Đồngthời, quan hệ đối ngoại tốt đẹp cũng khiến cho tình hình chính trị xã hội củaMajapahit luôn luôn ổn định, kinh tế ngày càng phát triển đưa quốc gia này gia nhập

vào nền kinh tế thương mại thế giới Trong tác phẩm “Lịch sử Indonesia”, Bruhat

đã khẳng định: Majapahit là một “đế quốc hàng hải lớn thế kỉ XIV”[3].

Trong mọi thời kì lịch sử, việc thiết lập quan hệ đối ngoại là đặc biệt quantrọng, có ảnh hưởng nhiều mặt đến tất cả các nước Đối với vương triều Majapahit,việc phát huy các nguồn lực của đất nước để tiến hành hoạt động đối ngoại đạt hiệuquả cao là một thành tích to lớn Tuy nhiên, khi nhìn nhận đánh giá về vương triềuMajapahit, đặc biệt là quan hệ đối ngoại vẫn có những quan điểm không thống nhất.Bởi vì trong thời kì phong kiến, các quốc gia dân tộc trong khu vực luôn tồn tạitrong vòng hưng thịnh và suy vong, bành trướng và thu hẹp, liên kết và đối địch,chưa thực sự có một mối quan hệ thân thiện lâu bền giữa các nước Ý thức quốc giadân tộc bản vị hẹp hòi thường đối lập nhau, đấu tranh liên miên để tranh giành lãnhthổ hơn là thân thiện Do vậy, các nước Đông Nam Á dù rất gần nhau, có chung mộtcội nguồn văn hoá tộc người, một quá trình lịch sử nhưng lại rất ít hiểu nhau

Vì vậy, việc nghiên cứu sâu quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit,phân tích cơ sở, nguyên nhân cũng như hệ quả và có những nhận xét về những hoạtđộng bang giao của một vương triều trong suốt hơn 200 năm lịch sử là hết sức cầnthiết Giải quyết được vấn đề đặt ra sẽ bù lấp được một khoảng trống, một vấn đềcòn chưa có lời giải đáp trong nghiên cứu về lịch sử Indonesia nói chung và lịch sửchế độ phong kiến Indonesia nói riêng

Ngày nay, khi khối ASEAN hình thành, mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu ngàycàng phát triển để hướng tới một mục tiêu chung vì một khu vực Đông Nam Á hoàbình và thịnh vượng tất yếu cần đến việc cung cấp những thông tin về đời sốngchính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các nước Việc mở rộng quan hệ đối ngoạitrong lịch sử đã quan trọng thì nay càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, đòi hỏiphải có sự quan tâm hơn nữa để đưa Đông Nam Á thực sự trở thành khu vực hoàbình, ổn định và lớn mạnh

Trang 6

Tìm hiểu quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit cho chúng ta thấy được

sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc đề ra các chính sách của các vị vua phong kiếntrong lịch sử Indonesia từ thế kỉ XIII - XVI Đồng thời cũng góp phần làm rõ hơncác mối quan hệ đan xen hết sức phức tạp giữa các quốc gia phong kiến trong khuvực trong một giai đoạn lịch sử đầy sôi động từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI Thực tếlịch sử đã chứng minh, việc mở rộng mối quan hệ rộng lớn ra bên ngoài sẽ tạo nênmối quan hệ bền chặt giữa các nước, không chỉ ở cấp độ nhà nước mà còn mở rộng

ra trên nhiều lĩnh vực với những nội dung mới và phát triển ở tầm cao mới

Việc nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp cho tác giả có cái nhìn khái quát về lịch sửIndonesia, một đất nước có quan hệ gắn bó lâu đời với Việt Nam Hơn nữa, trong

xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, nhu cầu tìm hiểu lịch sử các dân tộc và những mối

quan hệ bang giao là hết sức cần thiết Vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Quan

hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)” cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

ra, luận văn đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu chủ yếu sau:

Các công trình của các học giả trên thế giới:

Trước hết phải kể đến Cuốn Biên niên sử của Java là “Nagarakertagama” do

nhà thơ, nhà sử học Prapanca viết vào năm 1365 Đây là tác phẩm viết về giai đoạnhoàng kim của vương triều Majapahit với 98 khổ thơ Ông đã biên soạn bộ sử thi này

để ca ngợi chiến công của các vua Majapahit, đặc biệt là vua Hayam Wuruk Trongbài thơ 13 và 14 đã liệt kê danh sách các xứ bị Majapahit khuất phục như: quần đảoMaluku, Java, Bali, phía Nam đảo Borneo, phần lớn đảo Sumatra, đảo New Guinea,

Trang 7

và một phần phía Nam của bán đảo Malay Theo Nagarakertagama, “Majapahit có mối quan hệ hữu hảo với Ấn Độ, Campuchia, Trung Quốc, Ayuthaya, Champa và Việt Nam”[69; 85]

Tiếp đến công trình khá đồ sộ của tác giả D.G.E.Hall: “Lịch sử Đông Nam Á”

do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1997 Tác giả đã phác họa mộtbức tranh toàn cảnh về lịch sử các nước Đông Nam Á từ sơ sử đến hiện đại Đối vớiIndonesia, ông đã giành một số lượng trang đáng kể để nói về quá trình hình thành

và phát triển của Indonesia nói chung và vương triều Majapahit nói riêng Về quan

hệ đối ngoại được nêu khá nhiều trong các chương, mục khác nhau nhưng chưathành một hệ thống mà chỉ được nêu ra trong mối tương quan với các nước trongkhu vực

Cuốn “Early Kingdoms of the Indonesian Archipelago and the Malay Peninsula” (Những vương quốc cổ trên quần đảo Indonesia và bán đảo Malay) của

Paul Michel Munor đã tập trung về những diễn biến xảy ra trên quần đảo Indonesia

và trên bán đảo Malay Với số lượng gần 400 trang, tác giả đã bao quát được toàncảnh tình hình của các nước hải đảo trong một khoảng thời gian dài, mối quan hệqua lại giữa các nước trên quần đảo Indonesia và bán đảo Malay cũng như nhữngquan hệ của các nước này với bên ngoài, tiêu biểu là quan hệ với Trung Quốc, cácvương quốc của người Siam Không những thế, tác giả đã phác họa được nhữngthay đổi bằng bản đồ về tình hình chính trị của các vương quốc trên quần đảoIndonesia và bán đảo Malay Đối với vương triều Majapahit, Paul Michel Munor đãkhôi phục được hệ thống chính trị của vương triều mà rất ít công trình nghiên cứu

đề cập đến

Cuốn sách “Maritime Southeast Asia to 1500” (Đông Nam Á hải đảo đến năm

1500) của tác giả Lynda Norene Shaffer viết năm 1996 là một công trình nghiêncứu chuyên sâu về các quốc gia Đông Nam Á hải đảo cho đến năm 1500 Trong đó,đáng chú ý là những nghiên cứu của tác giả về các vương quốc Đông Java, từ nhữngđiều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên, sự quan tâm của nhà nước đối với tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu về vương triều Majapahit, tác giả tập

Trang 8

trung vào các nội dung như: những tác động của bên ngoài đối với vương triều, cácnghi lễ của hoàng gia, đặc biệt là quá trình mở rộng sức mạnh của vương triềuMajapahit đối với các tiểu quốc trong thế giới hải đảo Nhưng, đúng như tên gọi của

nó, tác phẩm này chỉ tập trung nghiên cứu đến những mối quan hệ xảy ra trong cácnước hải đảo, còn mối quan hệ với bên ngoài thì hầu như không đề cấp đến

Năm 1992, Nhà xuất bản Đại học Cambridge cho xuất bản cuốn sách “The Cambridge history of Southeast Asia” (Lịch sử Đông Nam Á) bao gồm hai tập do

Nicholas Tarling chủ biên và được tái bản nhiều lần Trong luận văn này, tác giả sửdụng lần tái bản năm 2008 Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu về ĐôngNam Á một cách công phu, tập hợp rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu hàngđầu về Đông Nam Á như: Anthony Reid, Kenneth R.Hall, Keith W.Taylor,…Nghiên cứu về vương triều Majapahit, cuốn sách này đã đề cập đến những vấn đềchính trị, những điều kiện cho việc phát triển quan hệ thương mại Tuy nhiên, cuốnsách này cũng chủ yếu tập trung nghiên cứu những sự kiện chính trị, còn những mốiquan hệ của vương triều này với bên ngoài lại ít được đề cập

Tác phẩm “A history of modern Indonesia from 1300 to the present” (Lịch sử hiện đại Indonesia từ năm 1300 đến nay) của tác giả M.C Ricklefs do Nhà xuất bản

Indiana University ấn hành đã trình bày ngắn gọn Lịch sử Indonesia từ năm 1300đến nay Trong phần hai, tác giả đã miêu tả về các triều vua của vương triềuMajapahit, bộ sử kí nổi tiếng của vương triều này Đối với quan hệ thương mại, ông

khẳng định “Majapahit có quan hệ với Champa, Campuchia, Siam, miền Nam Mianma, Việt Nam và cử phái đoàn đến Trung Quốc” [73, 17].

Anthony Reid là người đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về lịch sử

Đông Nam Á thời kì cổ trung đại Tiêu biểu là cuốn “Southeast Asia of the Age of Commerce 1450 - 1680”(Kỉ nguyên thương mại Đông Nam Á 1450 - 1680) do nhà

xuất bản trường Đại Học Yale ấn hành Cuốn sách gồm hai tập, nghiên cứu về toàn

bộ những khía cạnh của “Kỉ nguyên thương mại” của khu vực Đông Nam Á Sở dĩtác giả coi thế kỉ XV - XVII là Kỉ nguyên thương mại vì trong giai đoạn này ĐôngNam Á có những thay đổi lớn lao liên quan đến hoạt động thương mại Đó là sự dự

Trang 9

nhập ngày càng phong phú của những mặt hàng có giá trị thương mại của ĐôngNam Á trong buôn bán quốc tế, sự tham gia ngày càng tích cực của thương nhânĐông Nam Á vào hoạt động thương mại Qua công trình này, tác giả đã thu thậpđược những nguồn thông tin quan trọng về quan hệ thương mại của vương triềuMajapahit với các nước trong khu vực Châu Á, tiêu biểu là Đông Nam Á và ĐôngBắc Á.

Nhà nghiên cứu người Pháp Jean Bruhat với công trình nghiên cứu: “Lịch sử Inđônêxia” (Nguyễn Trọng Địch dịch), nhà xuất bản Đại học Pháp phát hành năm

1976, cũng giành rất nhiều công sức nghiên cứu về Indonesia Ông đã khái quát vềIndonesia với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên - xã hội, đặc biệt là tiến trình

lịch sử Nhìn nhận về vương triều Majapahit, ông khẳng định đây là một “đế quốc hàng hải lớn thế kỉ XIV”.

Ngoài ra, còn có rất nhiều những công trình nghiên cứu chuyên sâu về từng khíacạnh của Indonesia trong thời kì phong kiến, tiêu biểu là những nghiên cứu về tiền tệ

của Java như: Jan Wisseman Christie với công trình “Money and Its Uses in the Javanese States of the Ninth to Fihteenth Centuries A.D”(Tiền và cách sử dụng tiền của các vương quốc Java từ thế kỉ IX đến thế kỉ XIV); Arjan Van Aelst với

“Majapahit pisis: the currency of a “moneyless” society, 1300 - 1700”( Đồng tiền

“pisis” của Majapahit: Loại tiền tệ của một xã hội “không tiền”, 1300 - 1700),…Những công trình nghiên cứu này đã đưa ra các loại tiền tệ địa phương cũng như việcnhập khẩu các loại tiền bên ngoài trong quá trình giao lưu và buôn bán thương mại

Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam:

Năm 1972, nhà xuất bản Lửa Thiêng, Sài Gòn cho ra đời cuốn sách: “Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á (trừ Việt Nam) từ nguyên sơ đến thế kỉ XVI” của tác giả

Nguyễn Thế Anh Đây là một công trình nghiên cứu tổng hợp trên tất cả các lĩnhvực về kinh tế, chính trị, xã hội của các nước Đông Nam Á Đối với vương triềuMajapahit, tác giả đã nghiên cứu khá sâu về hệ thống chính trị, trong đó chủ yếu đềcập đến mối quan hệ của các nước chư hầu đối với chính quyền trung ương Java

Trang 10

Tác giả Ngô Văn Doanh có rất nhiều công trình nghiên cứu về Đông Nam Á

nói chung và lịch sử Indonesia nói riêng Trong đó, tác phẩm “Inđônêxia - Những chặng đường lịch sử” do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản là một tác phẩm

nghiên cứu khá hoàn chỉnh từ thời sơ sử đến thời đại ngày nay Đối với vương triềuMajapahit, tác giả đã dành một số lượng trang khá lớn nghiên cứu về tất cả các lĩnhvực như kinh tế, chính tri,… Nhưng là một tác phẩm thông sử nên vấn đề quan hệđối ngoại vẫn chưa được nghiên cứu sâu

Cuốn “Lịch sử Đông Nam Á” của nhóm tác giả Lương Ninh (chủ biên), Đỗ

Thanh Bình và Trần Thị Vinh do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2008 đã trìnhbày một cách hệ thống, chi tiết về chặng đường lịch sử của khu vực Đông Nam Á từtiền sử cho đến ngày nay Trong chương 5, phần một, nhóm tác giả đề cập đếnnhững biến động của các nước Đông Nam Á thế kỉ XIII - XV Trong đó, nhữngdiễn biến của Majapahit được đề cập trong mối quan hệ với các nước hải đảo và đặcbiệt là những tranh chấp giữa Majapahit với Siam về bán đảo Malay

Bài viết “Quan hệ thương mại của Đại Việt và Java thế kỉ XI - XV” của tác giả

Nguyễn Tiến Dũng đăng trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 7 năm 2009 đãtrình bày khá chi tiết mối quan hệ của Java và Đại Việt trong một thời gian dài Cóthể nói, đây là một công trình đã đưa ra nhiều số liệu thuyết phục về mối quan hệthương mại giữa hai nước khi mà nguồn sử liệu về thời kì phong kiến còn rất hạn chế

Một số bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á như: “Quan hệ thương mại của vương quốc Champa với các quốc gia trong khu vực (thế kỉ X đến thế kỉ XV)” của Đỗ Trường Giang; “Những đợt thám hiểm của Trịnh Hòa ở Đông Nam Á” của Dương Văn Huy; “Ryukyu - một trường hợp phát triển độc đáo ở khu vực Đông Á thế kỉ XV-XVI” của Lê Thị Khánh Ly;… đã đưa ra rất nhiều những số liệu

mà tác giả kế thừa trong luận văn của mình về mối quan hệ của Majapahit vớiChampa, Trung Quốc, Nhật Bản,… Tuy nhiên, do hạn chế về mặt số lượng trangnên những bài viết này chỉ nêu nên một cách khái quát nhất, đưa ra những gợi ý choviệc nghiên cứu tiếp theo mà chưa nghiên cứu sâu

Trang 11

Ngoài ra, trên tạp chí Khảo cổ học cũng đã trích đăng một số bài viết về nhữnghiện vật được tìm thấy trong các cuộc khai quật khảo cổ học Đây là nguồn tài liệuxác thực để chứng minh về quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các

nước Tiêu biểu như: Bùi Minh Trí với “Tìm hiểu ngoại thương Việt Nam qua “con đường gốm sứ trên biển” số 5 năm 2003 đã nêu nên mối quan hệ thương mại của

Việt Nam với nhiều nước trong khu vực Châu Á Qua các số liệu khảo cổ đã chothấy, Việt Nam đã mang đồ gốm đến Java từ rất sớm để buôn bán

Tác giả cũng ghi nhận rất nhiều công trình nghiên cứu trên các tạp chí như:Tạp chí Xưa và Nay, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,

… Thông qua những bài viết này, tác giả đã kế thừa và sử dụng những nguồn thôngtin đã được thẩm định trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra cho luận văn

Qua việc tham khảo các nguồn tài liệu này đã cho tác giả một cái nhìn khátổng hợp về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội của các nước trong khuvực Đông Nam Á thế kỉ XIII - XVI Và quan trọng hơn đây là những nguồn tư liệugiúp ích rất nhiều cho em trong việc làm rõ các vấn đề mà đề tài cần giải quyết.Ngoài ra, tác giả còn tham khảo trong một số công trình nghiên cứu như:

“Đông Nam Á trong lịch sử thế giới” của tập thể các tác giả thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, “Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện đại”, “Trên đất nước đảo dừa”, “Quan hệ của Nhật Bản đối với Đông Nam Á thế kỉ XV - XVII”,…

Những công trình này đã cho em nguồn tri thức khá lớn về lịch sử của các nướctrong khu vực Đông Nam Á nói chung và lịch sử của Indonesia nói riêng Đồngthời, quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit cũng được đề cập đến dù cònnhiều hạn chế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng của luận văn là quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit trongcác thế kỉ từ XIII đến XVI Để làm rõ được mối quan hệ đối ngoại của vương triều,luận văn tập trung giải quyết những vấn đề liên quan như: tình hình kinh tế, chínhtrị, văn hóa xã hội của vương triều Majapahit; bối cảnh quốc tế và khu vực có

Trang 12

những tác động như thế nào đối với quá trình hình thành, phát triển của vương triều

* Đối tượng trong quan hệ của vương triều là các nước ở khu vực Đông Nam

Á và Đông Bắc Á Với phạm vi không gian rộng nên luận văn tập trung nghiên cứucác mối quan hệ đối ngoại nổi bật của vương triều, đặc biệt là quan hệ với các nướcláng giềng trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Đại Việt, Champa, Siam) vàĐông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản)

* Phạm vi thời gian: luận văn bao quát từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI, trong đótập trung chính là khoảng thời gian từ năm 1293 (năm mở đầu của vương triều) đếnnăm 1527 (năm kết thúc của vương triều)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: luận văn tập trung làm rõ các mối quan hệ đối ngoại của vươngtriều Majapahit trên các lĩnh vực thương mại và ngoại giao Trên cơ sở đó, rút ramột số nhận xét từ các mối quan hệ đó

- Nhiệm vụ: Luận văn tập trung làm rõ các nội dung sau:

* Phân tích quá trình hình thành, phát triển của vương triều Majapahit

* Làm rõ những cơ sở và nhân tố bên trong và bên ngoài tác động tới chínhsách đối ngoại

* Làm rõ nội dung các mối quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit vớicác nước

* Nêu ra một số nhận xét từ quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit vớicác nước

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn làphương pháp nghiên cứu bộ môn với hai phương pháp chủ đạo là: phương pháp lịch

sử và phương pháp logic Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp bổ trợkhác như: phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu,… để giải quyết vấn đề đặt ra

6 Đóng góp của đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhànghiên cứu khoa học trong và ngoài nước Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đónggóp một số điểm mới như:

Là tài liệu đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống quan hệ đối ngoại củavương triều Majapahit từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI

Trên cơ sở làm rõ vấn đề quan hệ đối ngoại, thông qua việc giải quyết các mốiquan hệ đối ngoại của vương triều với các nước, luận văn sẽ rút ra một số nhận xét

về quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn cấu trúc thành bachương:

Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển của vương triều Majapahit và

những nhân tố tác động đến quan hệ đối ngoại

Chương 2: Quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước trong

khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)

Chương 3: Một số nhận xét từ quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit

Trang 14

Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

CỦA VƯƠNG TRIỀU MAJAPAHIT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của vương triều Majapahit

1.1.1 Quá trình hình thành vương triều Majapahit

Vương triều Majapahit hình thành trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiềubiến động Sau khi thống nhất các bộ lạc Mông Cổ và lên ngôi Đại Hãn, Thành Cát

Tư Hãn thực hiện âm mưu bá chủ thế giới Tất cả lục địa Á - Âu đều bị rung chuyểnbởi vó ngựa xâm lược của quân Mông Cổ Chính sách bành trướng và làn sóng xâmlăng của đế quốc Mông Nguyên đã khiến các nước trong khu vực xích lại gần nhau,liên kết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Đó là liên minh chốngquân xâm lược Mông Nguyên giữa Đại Việt - Champa - Java Liên minh này khôngđược chính thức kí kết nhưng sự đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranhchống quân Mông Nguyên xâm lược đã thể hiện điều đó Vì vậy, chúng đã gặp thấtbại liên tiếp ở Champa, Campuchia, Java và đặc biệt là Đại Việt Sau ba lần tiếncông xâm lược, chúng đều bị thất bại trước lòng dũng cảm và sự mưu trí của quân

dân Đại Việt “Trước sau hơn một trăm vạn quân giặc đã bị nhân dân ta đánh cho tan tác, tả tơi mảnh giáp không còn, làm cho chủ tướng giặc phải trốn chạy mới thoát về nước” [47; 47].

Làn sóng xâm lăng của quân Mông Nguyên xuống Đông Nam Á cũng tạo nênnhững xáo động nhất định trong khu vực Đó là việc lập ra các vương quốc riêngcủa người Thái Hơn nữa, sau cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, nhữngdân tộc giành được thắng lợi vang dội trong chiến tranh đã nhanh chóng khẳng địnhchỗ đứng của mình, ổn định và tiếp tục phát triển thịnh đạt - tiêu biểu là quốc giaĐại Việt… Bên cạnh đó, một số quốc gia trước đó đã có dấu hiệu suy yếu, đất nướcmất ổn định cộng với làn sóng xâm lược của quân Mông Nguyên đã nhanh chóng đivào sự suy yếu như: Campuchia, Champa, Pagan, Srivijaya,…

Trong thời gian này, không chỉ các quốc gia Thái mà một số quốc gia kháctrong khu vực cũng đã hoặc đang trên con đường vận động chuẩn bị cho sự ra đời

Trang 15

Đến năm 1293, quốc gia Majapahit được thành lập trên cơ sở sự suy yếu và tan rãcủa vương quốc Singosari trên đảo Java.

Vào thế kỉ XII, Java được chia làm hai vương quốc, lấy sông Brantas làm ranhgiới Vương quốc Janggana ở phía Đông yếu hơn và nhanh chóng bị nhập vào quốcgia ở phía Tây là Kediri Đến năm 1222, Kediri bị sụp đổ sau những cuộc chiếntranh dữ dội giữa các tiểu quốc với nhau: Java, Srivijaya, Kediri và vương quốcSingosari hình thành Dưới triều đại của vua Kertanagara (1268 - 1292), vươngquốc Singosari bước vào giai đoạn cuối của sự tồn tại Sau khi lên ngôi (1275), ổnđịnh đất nước, Kertanagara bắt đầu bành trướng thế lực của mình bằng những cuộcchiến tranh chinh phục: Malayu, Sunda, Madura và một phần bán đảo Malay Khichiếm cứ xong Sumatra, ông quay về tấn công Bali vào năm 1284 Những hànhđộng quân sự của Kertanagara ngày càng mạnh mẽ hơn đưa đến sự thống nhất cáchòn đảo thành Nusantara - hòn đảo hoà bình Tuy nhiên, việc phái những đạo quânviễn chinh hùng mạnh xâm chiếm các nước xung quanh đã làm cho vương quốc nàysuy yếu nghiêm trọng

Cuối thế kỉ XIII, Singosari cũng không thoát khỏi làn sóng xâm lăng của quânMông Nguyên Cũng như các quốc gia Đông Nam Á khác, Kertanagara đã khước từmọi yêu sách của triều đình nhà Nguyên Hốt Tất Liệt yêu cầu các nước này khôngnhững phải tuyên bố bày tỏ lòng kính trọng và cống nạp các đặc sản tiêu biểu củatừng nước mà phải quy phục thực sự Nếu các nước này không quy thuận và chốngđối, triều đình nhà Nguyên sẽ dùng sức mạnh quân sự để hỗ trợ cho những chính sáchcủa mình

Năm 1279, triều đình Mông Nguyên đòi hỏi quốc vương Kertanagara phải gửimột hoàng tử sang làm con tin Quốc vương Singosari đã bác bỏ yêu cầu này Trongcác năm 1280, 1281, 1289, triều đình Mông Nguyên lại tiếp tục yêu cầu quốc vươngthực hiện các yêu cầu trên Trước những đòi hỏi vô lý đó, phản ứng của Java rất

quyết liệt: “nhà vua ra lệnh bắt phái bộ Trung Quốc, rạch mặt rồi đuổi về nước”

[43; 34] Hành động này khiến cho Hốt Tất Liệt rất giận dữ, liền cử một lực lượngquân sự hùng hậu sang trừng phạt Java Để đối phó, Java đã thiết lập mối quan hệ

Trang 16

tốt đẹp với Champa - một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương - trên đườnghành quân của đế quốc Mông Nguyên xuống phía Nam Về sự kiện này, trong Lịch

sử Đông Nam Á, D.G.E.Hall có viết: “Một trong những hành vi đầu tiên của ông (tức Kertanagara) là thiết lập mối quan hệ hữu nghị với Champa, một nước cũng bị Nguyên Mông đe dọa” [15; 143] để ngăn chặn cuộc tấn công của quân Mông

Nguyên bằng cách chiếm giữ những điểm chiến lược nằm trên đường tiến của độiquân đó Kết quả là Champa từ chối không cho hải thuyền Mông Nguyên đổ bộ vàođất Champa nghỉ ngơi trước khi sang đánh Java vào năm 1292 Quân Mông Nguyêntập trung chủ yếu ở quần đảo Kalimantan (phía Tây Nam Borneo)

Trong khi đó, những kế hoạch mở rộng lãnh thổ của Kertanagara cũng gặpphải nhiều khó khăn do các phong trào nổi loạn của những thế lực trong nước nhằmchống lại chính sách của ông Sự đe doạ của nhà Nguyên đã buộc ông phải phái gầnnhư toàn bộ lực lượng tới bán đảo Malay và Tây Nam Borneo để cản đội quân xâmlược Việc phái một đội quân viễn chinh hùng mạnh ra nước ngoài đã làm choSingosari bị suy yếu nghiêm trọng Các nước chư hầu bất mãn đã nhân cơ hội đónổi lên

Kediri chính là trung tâm của phong trào chống lại Kertanagara, vì gia đìnhtiểu vương Kediri không bao giờ quên được mối nhục mà Ken Angrok đã gây racho họ Jayakatwang - phó vương của Kediri đã lãnh đạo một cuộc tấn công mạnh

mẽ đe doạ thủ đô của Kertanagara Lợi dụng sự mất cảnh giác của vua Kertanagarakhi đang tiến hành nghi lễ thờ phụng Siva, ông đã bất ngờ từ phía Tây tấn côngchiếm lấy thủ đô, Kertanagara bị chết một cách bi thảm Sự kiện này đánh dấu sựsụp đổ của vương quốc Singosari, ngai vàng do vua Kediri nắm giữ Sau khi làmchủ Singosari, Jayakatwang đã vấp phải sự chống đối của Raden Vijaya - một ngườitrong dòng dõi vua sáng lập ra Singosari và là con rể của vua Kertanagara Bởi vìkhi Jayakatwang tấn công Singosari, ông đang được phái đi dẹp loạn ở phương Bắc.Được tin Singosari thất thủ, ông đã kéo quân về và ba lần đánh thắng Kediri Thếnhưng quân tiếp viện từ Kediri đến kịp thời khiến ông phải chạy trốn sang Madura.Nghe theo lời khuyên của Viraraja, ông quay trở lại Java và hàng phục vua Kediri,

Trang 17

chờ thời cơ để giành lại quyền lực của mình Để quy phục Vijaya, vua Kediri đãthưởng công, ban cho thái tử chức thủ hiến của một quận Đây chính là cơ hội choVijaya chuẩn bị lực lượng, lập căn cứ ở quê mình là Majapahit trong thung lũngBrantas, đợi thời cơ phản công lại vua Kediri.

Được tin quân viễn chinh của nhà Nguyên sắp tới, Vijaya nảy ra ý đồ lợi dụngquân Nguyên để lập cơ đồ Ông hứa chấp nhận quyền minh chủ của Hốt Tất Liệtđối với Java, đổi lại quân Nguyên sẽ giúp đỡ Java lật đổ vương quốc Kediri Lờihứa thật hấp dẫn, đúng ý đồ mà quân xâm lược mong muốn nên yêu cầu của ông đãđược hoàng đế nhà Nguyên chấp nhận Với lực lượng được chuẩn bị kĩ lưỡng cùngvới đội quân hùng mạnh của quân Mông Nguyên, Vijaya đã nhanh chóng đánh bạiđược kẻ cướp ngôi khi quân của Jayakatwang đang tiến về Majapahit

Vijaya trở về với một đội quân Nguyên hộ vệ để chuyên chở đồ lễ cống như

đã hứa Không thể chịu khuất phục trước kẻ thù, Vijaya thực hiện chiến lược mới đểđánh đuổi quân địch về nước Lợi dụng sự chủ quan không đề phòng, Java đề ra

chiến lược “chờ quân đội Mông Nguyên phân tán ra từng binh đoàn nhỏ đi bình định Lúc đó quân đội Java sẽ tập trung tấn công bất thình lình” [43; 34] Lâm vào

tình thế khó khăn và cực kì nguy hiểm, đề đốc Y-ko-mu-su buộc phải rút quân vềnước Âm mưu xâm lược Java của đế quốc Mông Nguyên hoàn toàn bị thất bại Đểthiết lập lại mối quan hệ, quốc vương Java có thái độ cực kì khôn ngoan là gửi sứ bộsang triều đình nhà Nguyên xin lập mối bang giao bình thường giữa hai nước

Như vậy, sự xâm lược của đế quốc Mông Nguyên với mục đích mở rộng lãnhthổ xuống phía Nam đã không thực hiện được Tác động ngoài ý muốn của nó là tạođiều kiện cho sự ra đời và khẳng định nền tự chủ của các nước, trong đó có vươngquốc Majapahit Ngày 10 tháng 11 năm 1293, Vijaya lên ngôi lấy vương hiệu làKertarajasa Jayavarddhara và xây dựng hoàng cung ở Majapahit, vốn là căn cứ quân

sự ở hạ lưu sông Brantas Ông là người sáng lập ra triều đại cuối cùng trong lịch sửJava vẫn duy trì truyền thống Đạo Hindu

Trang 18

1.1.2 Quá trình phát triển của vương triều Majapahit

Vương triều Majapahit tồn tại hơn hai trăm năm, trải qua mười hai đời vua trị

vì Trong quá trình phát triển, vương triều Majapahit đã trở thành một vương triềuphong kiến hùng mạnh, có vị trí quan trọng trong lịch sử phong kiến Indonesia.Kinh đô của vương quốc được xây dựng trong một thung lũng xanh tươi, phìnhiêu của dòng sông Brantas Các chư hầu, lãnh chúa đều quy phục nhà nước mới,quốc gia Majapahit nhanh chóng trở nên hùng mạnh Có những tiểu quốc phải cốngnạp cho nhà vua, phải đảm đương công việc canh phòng miền duyên hải Còn lạiphần lớn các chư hầu sống ở địa phương như một lãnh chúa cai quản một vùngriêng biệt

Tuy nhiên, ngay từ những ngày đầu tạo dựng vương triều, vị tân quân Vijaya

đã phải đương đầu với một loạt các cuộc phiến loạn Vấn đề diệt trừ các nhóm phảnloạn để ổn định đất nước là hết sức cần thiết Đây chính là thành công lớn của nhànước mới

Krom đã có nhận định về các cuộc phiến loạn này như sau: “Năm đầu tiên của triều đại, Jayanagara, triều đại này thường xuyên có các cuộc phiến loạn đều là những người đã từng phò tá thái tử Vijaya giành lấy ngôi báu và sau này đã thất vọng vì không được thưởng công thích đáng Việc ông vua Kertanagara Jayavarddhana đã có thể khống chế tất cả những con người này cho thấy đức vua rất hùng mạnh”[15; 148] Tuy nhiên G.S Berg đã chứng minh một cách thuyết phục

về nguyên nhân của các cuộc nổi dậy này là “bắt nguồn từ trong một cuộc xung đột giữa hai phái: những người ủng hộ liên minh thần thánh của Kertanagara và những người phản đối liên minh đó giữa phái liên Indonesia và phái bài ngoại”[15;

148]

Cuộc phiến loạn đầu tiên nổ ra vào năm 1295 do Ranga Lawe lãnh đạo.Nguyên nhân là do Jayanagara, con trai của hoàng hậu Dara Petak được phong làmthái tử Việc con trai của người mẹ Malay được công nhận là nhà vua tương lai củaJava đã bị phái bài ngoại phản đối Hơn thế nữa, trong cùng năm này, nhà vua bắtđầu ốm kéo dài và hoàng hậu Dara Petak nổi lên với cương vị là mẹ của một cậu bé

Trang 19

sẽ có thể nhanh chóng trở thành ấu chúa của Majapahit Việc nổi lên làm cuộc phiếnloạn là dấu hiệu thể hiện sự căm phẫn của Java đối với một hoàng hậu nước ngoài

và những cận thần người Sumatra của bà Cuối cùng cuộc nổi dậy của Ranga Lawe

đã bị dập tắt nhanh chóng

Trong thời gian từ năm 1295 cho đến ngay trước khi Jayanagara qua đời(1328), theo tập Pararaton có tất cả 9 cuộc phiến loạn Sau cuộc nổi dậy của RangaLawe thì Viraraja - một viên quan đại thần của vương triều Singosari vừa mới sụp

đổ - nổi dậy ở đảo Madura và tuyên bố độc lập

Cuộc khởi nghĩa của Sona kéo dài từ năm 1298 đến 1300 là một cuộc khởinghĩa mạnh mẽ nhất, đã gây ra nhiều khó khăn cho vương triều mới Nhưng cuốicùng đã bị trấn áp và người lãnh đạo của nó đã bị giết

Sau đó ít lâu, vào năm 1302, Demung - một người trong phe cánh của Sonatiếp tục nổi lên chống lại vương triều mới Jayanagara đã phải vất vả để trấn áp cuộckhởi nghĩa và đến năm 1313, cuộc khởi nghĩa đã được dẹp yên

Cuộc khởi nghĩa của Nambi lập căn cứ ở Lemba đã khuấy động được tình cảmdân tộc tại vùng Đông Java chống lại Jayanagara - là một người lai Sumatra Nambivốn là quan tể tướng của vương triều Majapahit, con trai thủ lĩnh Viraraja Ôngkhông thích chiều hướng chính sách của Kertarajasa nên viện cớ cha lâm bệnh, xinphép rút về Đông Java Sau đó hai cha con đã tăng cường phòng thủ dinh luỹ củamình Khi Kertarajasa mất (1309), họ đã cắt đứt mọi quan hệ với Majapahit.Virajasa mất năm 1331, Nambi vẫn tiếp tục cuộc chống lại uy quyền của hoàng gia.Cuối cùng Jayanagara đã phải đem quân đến đánh Năm 1316, một đoàn quân viễnchinh đã được phái đi, theo tập Nagarakertagama, dinh luỹ của Nambi ở Padjaralean

đã bị chiếm và ông bị giết Sau đó quân khởi nghĩa ở Madura quy phục thì vươngtriều Majapahit mới được yên ổn trong một thời gian ngắn

Năm 1319, Jayanagara lại phải tiếp tục đối phó với cuộc phiến loạn nguy hiểmnhất Lãnh tụ của cuộc phiến loạn này là Kuti, một nhà quý tộc Java Ông thậm chí

đã chiếm được kinh đô khiến nhà vua đã phải bỏ chạy đến Badander, cùng đi cómột bộ phận quân ngự lâm gồm 25 người dưới quyền chỉ huy của viên tướng trẻ tên

Trang 20

là Gaja Mada Vị tướng trẻ này đã cứu vãn được tình hình bằng một mưu kế táobạo Ông đã trá hình trở về kinh đô để xem xét tình hình và tung tin rằng Kuti đãgiết nhà vua Việc dân chúng tiếp nhận tin này đã cho thấy Kuti không được lòngdân Vì vậy, Gaja Mada đã thành công trong việc tổ chức một cuộc nổi dậy và khôiphục ngai vàng cho nhà vua Do đó ông được phong chức Patih của Kahuripan Vàinăm sau, ông trở thành Patih của Kediri.

Như vậy, với việc dẹp được các cuộc phiến loạn đã tỏ rõ sức mạnh của vươngtriều Majapahit Sau đó, bằng các chính sách thần phục như ban chức tước, phẩm

lộc và đặc biệt là “nhà vua có tục đưa vào hậu cung con gái của tất cả các đại địa chủ nhằm mục đích đảm bảo lòng trung thành của họ” [2; 150]

đã củng cố được các vùng căn cứ của các thế lực muốn tách ra khỏi sự thống trị củavương triều

Tình hình chính trị của vương triều Majapahit dần dần được củng cố qua các triềuđại kế tiếp, đặc biệt là dưới triều đại của nữ hoàng Tribhuvana (1320 - 1350) và con trai

bà là Hayam Wuruk (1350 - 1389), vương quốc Majapahit phát triển đến cực thịnh.Hayam Wuruk đã triển khai những chính sách mới nhằm thống nhất đất nước

Indonesia là đất nước có hàng nghìn hòn đảo, luôn tồn tại những vương quốcriêng biệt nên việc thống nhất đất nước là nhiệm vụ bức thiết Tiếp tục chương trình

mà Kertanagara đã bỏ dở, vương triều mới bằng nhiều biện pháp như: thông qua conđường hôn nhân hay các biện pháp chiến tranh đã giành được thành công to lớn Đây

là lần đầu tiên trong lịch sử Indonesia, lãnh thổ được thống nhất trong một vùng rộnglớn, bao gồm: đảo Java, Sumatra, các đảo thuộc Indonesia ngày nay, phần lớn đảoKalimantan, đảo Sulawesi, bán đảo Malayu và quần đảo Maluku.Vương quốc này đãkiểm soát hầu hết các hải cảng và gần như nắm độc quyền về buôn bán ở Java Bộmáy nhà nước ở trung ương được củng cố và tăng cường

Sau khi đánh tan quân Mông Nguyên, Vijaya trở thành vị vua đầu tiên củavương triều Majapahit (1294-1309) Cuốn Nagarakertagama đã hết sức nhấn mạnhđến đám cưới của Vijaya với bốn người con gái của Kertanagara và ảnh hưởng tolớn của họ nhằm ngụ ý rằng đó là điều thực sự khiến ông ta có quyền thừa kế nhạc

Trang 21

phụ Tuy nhiên, bản khắc năm 1305 lại cho thấy rằng “các đám cưới này là một sự đoàn tụ huyền bí với các lãnh thổ đã bị Kertanagara chinh phục”[15; 146] Bốn

người vợ là đại diện cho Bali, Malayu, Madura và Tanjungpura, và qua việc thànhthân với họ, đức vua đã thiết lập được mối quan hệ đặc biệt với các đảo doKertanagara lập nên Vijaya có một người con trai, con của một công chúa Malayutên là Dara Petak Bà đã cùng với các công chúa khác đến Java sau cuộc chinh phụccủa Kertanagara Khi lên ngôi, Vijaya kết hôn với công chúa Dara Petak và bà trởthành mẹ của Jayanagara; còn công chúa thứ hai tên là Dara Jingga kết hôn với mộtthành viên hoàng gia Java và sinh ra người con trai tên là Adityavarman sau đó làmvua của Malayu

Tuy nhiên, việc mở rộng lãnh thổ phần lớn được tiến hành bằng các cuộcchiến tranh Nhân vật có vai trò lớn trong chính sách liên Indonesia là Gaja Mada.Dưới hai triều đại của nữ hoàng Tribhuvana (1320-1350) và vua Hayam Wuruk(1350-1389), ông vươn lên một vị trí quyền lực và ảnh hưởng mà chưa một đạiquan nào trước đó nắm giữ trong lịch sử Java Năm 1330, nhờ những đóng góp tolớn trong công cuộc thống nhất đất nước, vị kiến trúc sư của vương triều Majapahitđược bổ nhiệm làm Mapatih - tức tể tướng của Majapahit Từ đó đến khi qua đời(1364), ông thực sự là người trị vì vương quốc

Ông là người ủng hộ chính sách liên Indonesia Sau khi dẹp xong cuộc phiếnloạn của Kuti, ông được bầu làm tể tướng Vào năm 1331, ông đã tuyên thệ trướcHội đồng các thượng thư rằng ông sẽ không bao giờ thừa hưởng chức Palapa chođến khi Nusantara (đế chế đảo) bị khuất phục [15; 151] Tư liệu ghi chép nói rằng,các quan thượng thư có mặt tại cuộc họp Hội đồng thượng thư nổi tiếng đó đã nhạobáng lời tuyên thệ của Gaja Mada Nhưng chẳng bao lâu sau, họ đã thất vọng vànhiều người trong số họ bị cách chức Hơn 30 năm sau, Gaja Mada lên ngôi quốcvương thực sự của Majapahit và là người chỉ đạo chính sách Cũng tại lễ tuyên thệnăm 1331, ông nêu ra một số địa điểm như: Gurun, Seran, Janjangpara, Aru,Pahang, Pompo, Sunda, Palembang và Tumasik (Singapo ngày nay) Bằng các biệnpháp như: vừa xâm chiếm, vừa thiết lập quan hệ, ông đã thu phục được các hòn đảo

Trang 22

của Indonesia Người ta cho rằng, các vùng này và một số vùng khác đều bị đặtdưới quyền kiểm soát của Majapahit trong thời kì từ năm 1331 đến 1351 Một bứctranh rộng lớn của đế chế Indonesia đã hình thành.

Các bang phụ thuộc của Majapahit đã được liệt kê trong bảnNagarakertagama, bao gồm toàn bộ Sumatra, một nhóm tên ở bán đảo Malay,Mendawai, Brunei và Janjungpuri ở Borneo và một danh sách dài các địa điểm phíaĐông Java, bắt đầu từ Bali và bao gồm cả Makassar, các quần đảo Banda vàMaluku Nhà nghiên cứu Vlekke đã mô tả bằng bản đồ một đế chế hùng mạnh,

được duy trì bằng sức mạnh của hải quân Ông nói rằng, “sau khi Majapahit bị suy vong, chẳng có gì vĩ đại tương đồng được xây dựng tiếp cho đến khi người Hà Lan hoàn tất công cuộc chinh phục” [15; 154] Với sự thống nhất và quy phục cả thế

giới hải đảo (Nusantara) vào mình, Majapahit bước vào giai đoạn cực thịnh

Mặc dù Hayam Wuruk lên ngôi nhưng mọi quyền hành thực tế vẫn nằm trongtay của Gaja Mada Nhà vua trẻ có vẻ vui lòng uỷ thác mọi việc cho ông ta Mọichuyện đã thay đổi khi vào năm 1351 xảy ra sự kiện bi thảm nhất trong thời kì đầu

của lịch sử Java Các nhà sử học gọi đây là “cuộc tắm máu Bubat”[15; 157] Sau sự kiện này, chính sách liên Indonesia được Gaja Mada tiếp nối thay bằng “chính sách máu và sắt” [15; 157] Chuyện kể rằng sau khi lên ngôi, Hayam Wuruk đã xin cưới

con gái của Sunda Lời đề nghị được chấp nhận và chính bản thân nhà vua Sundacùng một đoàn tuỳ tùng sang trọng đưa công chúa đến Bubat, nơi diễn ra buổi lễthành hôn Vào phút cuối, Gaja Mada đã can thiệp, quy định rằng Sunda phải trao

cô dâu theo phương thức triều cống chính thức của một nước chư hầu đối với nướcminh chủ Vua Sunda nhận thấy rằng mình đã bị mắc bẫy Quyết không từ bỏ nềnđộc lập của vương quốc, đức vua đã chiến đấu anh dũng để tìm đường thoát Nhưngcuối cùng vua Sunda và đoàn tuỳ tùng đều bị giết Sau vụ việc này, Sunda dườngnhư công nhận quyền minh chủ của Majapahit

Để kiểm soát được toàn bộ thế giới hải đảo, các vua Majapahit cử các hoàng

tử tới các hòn đảo mà mình đã thu phục được Điều này cho phép nhà nước có thểvới tay xuống các địa phương và quan trọng hơn là luôn đảm bảo lòng trung thành

Trang 23

của họ đối với chính quyền trung ương Sau cuộc tấn công của quân đội Java xâmchiếm Malayu (1346), Gaja Mada cử một người hoàng tộc tin cậy đến để thống trịvương quốc chư hầu mới và vị quan tể tướng này đã chọn Adityavarman - mộtthành viên hoàng tộc Majapahit có tài năng và có cả sự hỗ trợ rất lớn từ Thái Hậu.Gaja Mada hi vọng rằng, việc nắm giữ chức vụ mới sẽ giúp Adityavarman đượcchấp nhận là người cai trị bởi các tầng lớp địa phương.

Năm 1343, sau khi tấn công xâm chiếm Bali, hòn đảo này chịu sự thống trị trựctiếp bởi người bác của vua Hayam Wuruk là Vijayarajasa Trong suốt thời gian nắmquyền kiểm soát, những người di cư Java tới Bali ngày càng tăng Đất đai và tướchiệu ở Bali đều được phân phong cho những người của hoàng gia Java Tương tự nhưvây, một thành viên hoàng tộc Java là Empu Jamatka cũng được cử tới trấn trịBorneo năm 1387 và hòn đảo này đến thế kỉ XVII mới tuyên bố nền độc lập củamình

Quá trình thống nhất các hòn đảo là một thành công lớn của vương triềuMajapahit, đặc biệt ở thời kì đỉnh cao dưới triều vua Hayam Wuruk với sự phò tácủa Gaja Mada Đây là điều kiện đầu tiên, yếu tố quyết định cho sự tồn tại của mộtquốc gia Đặc biệt là với một quốc gia phương Đông, thống nhất lãnh thổ là mơ ướccủa toàn dân, là mục đích cuối cùng trong sự phát triển xã hội Hoàn thành mục tiêukhó khăn này đã chứng tỏ sức mạnh to lớn của nhà nước Majapahit non trẻ, đồngthời có ý nghĩa to lớn trong lịch sử Indonesia, mở ra thời kì ổn định và phát triểnmạnh về mọi mặt Đến đây, Indonesia đã xây dựng được một nền móng, cơ sở hạtầng vững chắc cho sự phát triển đất nước

1.2 Những nhân tố tác động tới quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit

1.2.1 Những nhân tố bên trong

1.2.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế

Vương triều Majapahit có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phúnhư: lúa gạo, các loại cây gia vi, các loại khoáng sản,… Hầu hết các thương nhânkhi đến đảo Java đều cho rằng nơi đây là cái nôi của các loại cây làm gia vị mà họluôn khao khát, nhưng không phải vậy, thứ duy nhất mà Java sở hữu và chiếm ưu

Trang 24

thế là lúa gạo Người Java đã dùng lúa gạo để đổi lấy gia vị và các loại sản phẩm từrừng khác có thể khai thác được từ phía Đông quần đảo.

Dòng sông Brantas có vai trò khá lớn trong việc chuyên chở hàng hóa từ nộiđịa ra các cảng sông và ngược lại Đây là dòng chảy dài nhất Đông Java, lưu vựccủa nó rộng khoảng 11.000 km2 từ sườn núi phía Nam Kawi-Kelud-Butak, Wilis tớisườn phía Bắc của núi Liman-Limas, Welirang và Anjasmoro Con sông có dòngchảy rất phức tạp, vòng vèo qua nhiều dãy núi trước khi đổ ra biển Các dòng chínhcủa nó hội tụ về bên sườn núi Arjuna, chảy theo chiều kim đồng hồ, đầu tiên làhướng xuống Nam, chuyển sang Tây, lên Bắc và cuối cùng theo hướng đông rabiển Khác với các dòng sông ở miền Trung Java, không có cửa đổ ra duyên hảiphía Đông Bắc, sông Brantas tạo ra một hệ thống cảng thị và kho hàng quan trọngcho Đông Java

Vương triều Majapahit nằm cách xa hải lộ chính qua vùng Đông Nam Ánhưng nó lại nằm giữa tuyến thương mại Đông Nam Á với trung tâm gia vị của khuvực, quần đảo Maluku Vị trí này sớm cho phép Java vươn lên trở thành nhà phânphối chính các loại hàng hóa quý giá này Ba trong số các loại gia vị quan trọngnhư: đinh hương, vỏ và hạt nhục đậu khấu Cho đến trước năm 1600, quần đảoMaluku là nơi duy nhất trên thế giới sở hữu những vật phẩm này Đinh hương làloại cây phổ biến mọc trên quần đảo Maluku, nơi được người phương Tây gọi là

“đảo hương liệu phía Đông” Những đảo chính trồng loại cây này là 5 hòn đảo núilửa nhỏ nằm ở duyên hải phía Tây của Halmahera là Ternate, Tidore, Motir, Makian

và Batjan; trong đó Tidore được coi là quê hương của loại gia vị này Người TrungQuốc là người đầu tiên biết đến công dụng của đinh hương Theo nguồn tư liệu củaTrung Quốc, Hoa thương đã đến Maluku để mua đinh hương với số lượng hạn chế

từ thế kỉ X Đến thế kỉ XIV - XV, thương nhân Hồi giáo và Java đã mang nhữngmặt hàng này tới thị trường phương Tây Từ thế kỉ XVI, đinh hương mới thực sự làmặt hàng có giá trị thương mại quốc tế

Nhục đậu khấu cũng được trồng duy nhất trên quần đảo Banda với khoảng 10đảo và diện tích là khoảng 44 km2 với khu vực trung tâm của biển Banda Đây là

Trang 25

những loại gia vị vô cùng hiếm có trên thị trường thế giới ngay cả thời kì hiện đại.

Những loại cây này không thể chuyển tới bất kì vùng đất nào khác vì “các cây nhục đậu khấu phải được ngửi thấy mùi của biển còn các loại cây đinh hương thì phải được nhìn thấy biển”[85; 209] Công dụng của đậu khấu được biết đến rất muộn,

phải đến thế kỉ X người Ai Cập mới sử dụng chúng Và chính người Trung Quốcphải đến thế kỉ XV mới biết cách sử dụng loại gia vị này Họ chủ yếu nhập đậukhấu ở quần đảo Maluku thông qua vai trò trung gian của các thương nhân Java.Các cơn gió mùa cũng tạo điều kiện để các thương nhân tiếp cận với thịtrường Java Khi gió Tây bắt đầu thổi, các thương nhân nước ngoài từ Malacca bắtđầu cuộc hành trình đến Java Cùng lúc đó, các thủy thủ ở các quần đảo hương liệucủa Java, sau khi đã đưa đến các loại gia vị sẽ bắt đầu cuộc hành trình từ các cảngcủa Java về Maluku Hai hành trình này diễn ra cùng một thời điểm và cùng mộthướng gió Tây Vì thế, khi thương nhân nước ngoài tới Java thì thủy thủ Maluku đãtrở về quần đảo cách đó khoảng 1.600 km về phía Đông Đến khi gió Đông bắt đầuthổi, thủy thủ Maluku đưa gia vị từ quần đảo đến Java thì các thương nhân nướcngoài cùng lúc khởi hành từ Java về Malacca Điều này đưa lại lợi nhuận lớn chocác thủy thủ Java với vai trò là trung tâm phân phối gia vị

Chính những điều kiện trên khiến cho Java có sự phát triển một nền kinh tếtoàn diện, cả về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp

+ Sản xuất nông nghiệp:

Nằm trong khu vực Đông Nam Á gió mùa với điều kiện khí hậu thuận lợi đãđưa nông nghiệp thành nền kinh tế chủ đạo của khu vực nói chung và Indonesia nóiriêng Vấn đề quan trọng nhất trong nông nghiệp là ruộng đất Về danh nghĩa ruộngđất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước nhưng thực tế vẫn là của địa phương.Nông dân địa phương được chia ruộng đất để cấy cày, hàng năm nộp thuế cho nhànước Để đảm bảo cho quyền sở hữu ruộng đất tối cao của mình, các vua đã thihành một số chính sách và biện pháp như: phong lại ruộng đất cho quan lại phục vụcho triều đình (từ trung ương đến địa phương) tuỳ theo công trạng của họ

Trang 26

Tài liệu về ruộng đất ở Java do Rây-phơ-lit viết mặc dù phục vụ cho mục đíchthống trị của chính sách thực dân Anh nhằm thay chân Hà Lan nhưng đã giúp íchrất lớn trong việc tìm hiểu quan hệ ruộng đất ở Indonesia.

Chính quyền phong kiến trung ương khẳng định quyền sở hữu ruộng đất tốicao của nhà nước vì vậy chế độ sở hữu ruộng đất tư không có điều kiện phát triển

“Người dân Java chưa có khái niệm về tư hữu tài sản ruộng đất” [21; 132] Lúc

này chế độ công xã nông thôn tồn tại phổ biến, quan niệm về tư hữu đất đai chưaphát triển, bọn phong kiến khôn ngoan đã giữ quyền chi phối ruộng đất, nắm lấy tưliệu sản xuất cơ bản của nông dân để bóc lột Những ruộng đất trong làng xã là củachung, mọi thành viên trong công xã đều được hưởng quyền phân một mảnh đất.Việc phân chia ruộng đất thường tổ chức vào cuối vụ mỗi năm, cũng có nơi vài nămmới chia lại một lần

Đối với nông dân, là thành viên công xã mỗi người đều được phân chia đấtruộng Số lượng đất đai được phân tuỳ theo số lượng đất đai khống chế của làng xã

“Một thôn có chừng 5 - 6 dung (Jung) tương đương với 50 đến 100 mẫu Anh (acre) Mỗi nông dân được chia chừng 1, 2 mẫu Anh” [21; 135] Họ có quyền quản lí ruộng

đất ấy trong một năm hay vài năm Các khâu sản xuất do họ tự liệu và đến thu

hoạch theo định mức tô đem nạp đến cho thôn trưởng “Số tô nạp thường chiếm 1/2 thu hoạch trở lên đến 3/4”[42; 135].

Tô hiện vật là hình thức chủ yếu của cách bóc lột phong kiến Indonesia:

“Ruộng nước (Sawah) nộp từ 1/4 - 1/2 thu hoạch; ruộng khô, đồng màu (Tegal) nộp

từ 1/5 - 1/3 thu hoạch” [21; 135] Ngoài ra nông dân công xã còn phải gánh vác

những nghĩa vụ lao dịch nặng nề, phải tham gia lao dịch xây dựng các công trìnhthuỷ lợi, đường xá, cầu cống Tệ hại hơn là nông dân phải lao dịch cho bọn địa chủ

trưởng thôn, phải tết lễ khi bọn chúng có việc ma chay hay cưới xin “Nhiều nơi có những gánh vác tuỳ tiện, nông dân phải mừng lễ ngày sinh, cưới xin cho con cái bọn quan lại, chức sắc, thổ hầu Đó là chưa kể những gánh nặng có chút ít lợi cho nông dân như đắp đường, làm cầu, đào mương đập, những việc phúc lợi chung”

[21; 135]

Trang 27

Dưới vương triều Majapahit, quan hệ công hữu ruộng đất là phổ biến song chế

độ tư hữu ruộng đất cũng đã xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau Ở vùng Sunda,vùng phía Tây đảo Java, ở Bali quyền tư hữu ruộng đất đã là một hiện thực xã hội

“nông dân có thể đem đất đai truyền lại cho con cháu, có thể tiến hành phân chia đất đai mà các quan lại chính phủ không có quyền can thiệp Những kẻ sở hữu đó

có quyền bán nhượng đất đai của mình” [21; 136] Những người nông dân vùng này

chỉ phải đem một phần thu hoạch của mình nộp cho thủ lĩnh

Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi giải thích về tình hình sở hữu ruộng đấtđặc biệt này, tựu chung lại, các học giả đều dựa vào tính chất riêng biệt của vị trí địa

lí để giải thích Một là, đây là một vùng đất rừng chưa khai khẩn, muốn cày cấyđược người nông dân phải bỏ ra một sức lao động khá lớn Những ràng buộc củaphong kiến và bóc lột phải được nới rộng hơn để nông dân có đủ thu nhập bù vàosức lao động bị tiêu hao Hai là, trên quan điểm kinh tế, bọn thống trị phong kiếnmuốn mở rộng thu nhập kinh tế của mình thì phải nhân nhượng đối với nông dân

Có như vậy họ mới chịu khai phá những vùng đất mới Cùng với những lí do trên,trong điều kiện giao thông lúc đó, thực tế chính quyền phong kiến nhiều khi cũngkhó bề vươn tới được các vùng này

Người nông dân tư hữu này về hình thức quan hệ có tiến bộ hơn Họ có quyền

tự do hơn, sức sản xuất có phần được giải phóng, không phải lo mảnh đất sẽ phảichuyển nhượng ngay vụ tới mà sẽ yên tâm đầu tư cải tạo đất đai tăng thu nhập Tuynhiên sự vất vả vật lộn với thiên nhiên, với khí hậu rừng núi, những gánh vác lễ tếtđối với các tù trưởng làm cho đời sống của họ cũng gặp rất nhiều khó khăn khôngkhác gì những người nông dân tá điền

Ngoài ra một hiện tượng sở hữu ruộng đất đặc biệt được thừa nhận trong thời

kì này là đất đai tặng cho những người thân thích của nhà vua, cho các thân vương,các sủng thần Những vùng đất đai này được coi là “của riêng” có thể truyền lại chocon cháu, có thể đem bán nếu được các Suntan đồng ý Tất cả đất đai đều thuộc

quyền sắp đặt của nhà nước nhưng “đất đai tặng cho các gia đình hoàng tộc, những sủng thần, thân vương và các tù trưởng có công Đất Pusaka tặng cho thân thích

Trang 28

của Suntan được coi như là của riêng có thể truyền lại cho con cháu, có thể bán nhưng phải được Suntan đồng ý” [21; 137]

Công tác trị thuỷ là một vấn đề quan trọng đối với một đất nước thiên về sảnxuất nông nghiệp Các triều đại trước đó đã có nhiều cố gắng trong việc trị thuỷnhằm phát triển đất nước Dưới thời Airlangga, nhờ có quyền lực tập trung trongtay, tiềm lực kinh tế vững mạnh, ông đã củng cố được mạng lưới thuỷ lợi lớn đểphát triển nông nghiệp lúa nước Bia kí năm 1037 của Airlangga cho biết: nhà vua

đã cho đắp một con đê lớn (một công việc mà từ trước đó chưa có một nhà vua nàolàm được) [9; 71] Năm 804, một con đê được đắp và một dòng kênh được đào đểnối liền sông Hariging với dòng kênh lớn Canton chảy từ núi Kelut rồi đổ vào sôngBrantas ở Kectomono Năm 921, dưới sự bảo trợ của vua Tuludong (919 - 921), con

đê được củng cố thêm và giờ đây vững chắc đến nỗi có thể tồn tại vĩnh viễn cho tất

cả mọi người ở vùng đồng bằng phía Đông Daha

Công tác thủy lợi cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của các vua Majapahit.Năm 1350, vua đã cho làm lại con đê đã được làm từ năm 804, vì nó không còn đủsức để cản được lũ lụt vào mùa nước Sau khi làm lại, con đê rất vững chắc và cóthể tồn tại vĩnh cửu Bia kí Hiringing cho biết, sau khi khánh thành, hội lễ dòngkênh được tổ chức suốt ba ngày liền Một ngôi đền lớn được xây dựng ở ngaythượng nguồn sông Hiringing trên núi Kelut để ghi nhớ sự kiện này Nhà nước cũng

bổ nhiệm những viên quan chuyên trách để kiểm soát hệ thống tưới tiêu như ở Đông

Java, nhà nước nhận thấy rằng “việc kiểm soát nguồn nước của hệ thống nông nghiệp dựa vào địa phương dường như không được xem là nhân tố cốt lõi dù rằng các nhà cầm quyền ở phía đông Java đã xây dựng mạng lưới thủy lợi cho họ để kiểm soát tốt hơn việc sản xuất nông nghiệp” [84; 189].

Ở miền Đông Java có nhiều “hồ tắm” được xây dựng Những hồ tắm này đượcxây dựng để thờ thần núi và là trung tâm thờ phụng hệ thống thuỷ lợi, đồng thờicũng là nơi tiến hành các nghi lễ liên quan đến nước

Sự quan tâm của nhà nước đối với nông nghiệp như vậy đã lí giải vì sao vàonửa cuối thế kỉ XIII, ở Indonesia đã hình thành những vùng chuyên sản xuất lúa gạo

Trang 29

Cho đến thế kỉ XVI, Đông Nam Á có ba loại hình sản xuất nông nghiệp chính là:canh tác nương rẫy trên sườn núi thấp, gieo hạt trên những đồng bằng ngập lũ và gieotrồng trên những cánh đồng được cày bừa và có hệ thống thuỷ lợi Java có cả nguồnnhân lực và đất đai màu mỡ để canh tác chuyên sâu loại hình thứ ba được gọi là loạihình canh tác Sawah Những cánh đồng trồng lúa màu mỡ tươi tốt ở dọc vùng duyênhải phía Bắc vùng Mataram, duyên hải Đông Java xung quanh Surabaya - Majapahit

và trên cao nguyên Malang Nền nông nghiệp Sawah tạo ra một nguồn năng suất caohơn không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn dùng để buôn bán trao đổi.Những sản phẩm này được trao đổi rộng rãi trên thị trường trong nước giữa các nước

hải đảo Lúa gạo là sản phẩm chính của quốc gia để đổi lấy hương liệu “Để có hương liệu, thương nhân Java phải đem gạo của mình và hàng của nước ngoài vào những vùng sâu hoặc sang các đảo khác để đổi” [8; 84].

Như vậy, dưới vương triều Majapahit nông nghiệp đã rất phát triển Trên cơ sởđiều kiện tự nhiên, đất đai màu mỡ, đất nước được thống nhất, nhà nước quan tâmđến nông nghiệp càng tạo điều kiện để nền kinh tế này được phát triển Thị trườngđược mở mang, giao lưu thuận lợi, sản phẩm nông nghiệp không chỉ dùng ở mức tựcấp tự túc mà đã trở thành hàng hoá mang ra thị trường để trao đổi, buôn bán Sảnphẩm nông nghiệp ở các vùng vừa là lương thực, vừa là mặt hàng để đổi lấy hươngliệu Hơn nữa, thủ lĩnh ở các vùng lúa gạo cũng cần mở rộng quan hệ thương mạivới các cảng để củng cố địa vị của mình, vì vậy nông nghiệp rất có điều kiện vànhiều nguồn kích thích phát triển

+ Sản xuất thủ công nghiệp:

Thủ công nghiệp ở Indonesia thời kì này cũng có điều kiện để phát triển Cóhai bộ phận sản xuất thủ công: nhà nước và tư nhân Trước đó, cư dân ở đây đã biếtchế tạo công cụ lao động bằng sắt, làm lịch và một số nghề thủ công truyền thốngnhư: rèn, đóng thuyền, làm đồ sắt, đồng, dệt, tơ lụa và các phẩm phục của triềuđình,… Bước sang thế kỉ XIII, thủ công nghiệp được cải tiến với kĩ thuật cao hơn,chế tạo vũ khí, làm những vương ấn bằng vàng, xây dựng đền đài, cung điện

Trang 30

Ngôi đền Panataran là một công trình kiến trúc khổng lồ, mang tầm vóc củamột ngôi đền trung ương đã được xây dựng trong thời kì này Phù điêu của ngôi đền

mô tả toàn bộ nội dung sử thi Ramayana

Cũng trong thời kì này, cung điện nhà vua được xây dựng khang trang, to đẹp.Nhà văn Mã Hoan của Trung Quốc đã mô tả cung điện nhà vua trong cuốn “Danh

lam thắng nhã” như sau: “Cung điện nhà vua có tường gạch cao ba đến bốn trượng, chu vi hơn 200 bộ, trong đó cửa to, sạch sẽ, nhà cửa có lầu cao 3,4 trượng, có lát ván, trên trải chiếu vỏ hay đan bằng mây” [29; 11].

Điều này cho thấy, nghề thủ công đã phát triển và có một đội ngũ thợ thủ công

có tay nghề cao Hơn nữa quan hệ giao lưu buôn bán giữa các vùng mở rộng cũngtạo điều kiện cho việc phát triển của các nghề thủ công

Nghề đóng thuyền thời kì này cũng khá phát triển, nó không chỉ phục vụ choviệc chinh chiến mở rộng lãnh thổ mà còn dùng để chuyên chở hàng hoá Và đặc biệt

đã xuất hiện những thuyền chở khách Nghề đóng tàu thuyền rất phát triển đã giúp

cho “Indonesia dễ dàng đi qua các vùng trong nước và đi tới các bờ biển của Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Ba Tư, Ả rập và Đông Phi bằng những con tàu được sản xuất trong nước với đủ mọi kích cỡ” [80, 2-3] Ngành công nghiệp đóng tàu

mọc lên ở rất nhiều nơi của Indonesia, trong đó Banjarmasin đã đóng được rất nhiều

những con thuyền lớn, Sumatra đã sản xuất ra “những con tàu tuyệt vời với ba cột buồm” và vương quốc Jaoa (Java) là “những con tàu Junco lớn với 4 cột buồm” [80;

8] Cùng với những tàu thuyền được sản xuất trong nước, ở Java cũng xuất hiện rấtnhiều tàu thuyền từ các nước Điều này cho thấy, nghề đóng tàu rất phát triển và vìvậy, hoạt động đối ngoại cũng có những thuận lợi mới

Ngành thủ công nghiệp truyền thống có nhiều điều kiện thuận lợi để hoạt động

và phát triển Quan hệ giao lưu buôn bán mở rộng, những sản phẩm mà họ làm rakhông chỉ phục vụ cho nhu cầu tự cung tự cấp mà đã có thể đem ra trao đổi buôn bántrên thị trường Những người thợ thủ công nghiệp cũng đóng một vai trò quan trọngtrong xã hội, trong sự phát triển của quốc gia mà Ai Đích có nhận xét chính xác rằng:

Trang 31

trong xã hội phong kiến, giai cấp cơ bản đã sáng tạo ra tài sản và văn hoá là nông dân

và thợ thủ công

Trang 32

+ Thương nghiệp:

Vương triều Majapahit có một nền thương mại phát triển mạnh Thương mại

là ngành kinh tế cơ bản của đất nước Mạng lưới buôn bán tiếp tục được phát triển

và mở rộng Có thể nói, nó chính là động cơ thúc đẩy mọi ngành sản xuất phát triểntheo Thời kì này, nhà nước có chính sách ngoại giao và thương mại mềm dẻo vàtích cực trong việc sử dụng vị trí địa lí vô cùng thuận lợi của mình Đó chính là mộttrong những lí do khiến cho Indonesia thời kì này trở thành một trung tâm thươngmại thế giới

Thời kì này trung tâm thương mại của Indonesia là Java Thương mại dướivương triều này phát triển cả về nội thương và ngoại thương Các mạng lưới buônbán được mở rộng thêm để có thể liên kết các nội thị với các bờ biển ở Java Thócgạo là sản phẩm chính của Java dùng để đổi lấy hương liệu Thóc gạo từ nội thị theocác đường bộ (tuyến ngang) đổ về các bến sông, rồi thuyền bè xuôi theo các dòngsông (tuyến dọc) đưa gạo tới các hải cảng Đến lượt mình, các mặt hàng ngoại quốclại theo tuyến ngược lại, ngược theo các chiều dọc rồi toả ngược theo các chiềungang để đưa đến với các nội thị Vào giữa thế kỉ XIV, tác phẩm Nagarakertagama

đã nói tới các con đường dọc ngang tấp nập từng đoàn xe bò chở tới các bến sông.Mạng lưới đường bộ chỉ tập trung vào mùa khô còn mùa mưa thì việc đi lại gặp khó

khăn: “Trên tất cả các tuyến đường, mưa đổ như trút khiến việc đi lại rất vất vả Ở những đoạn đường trơn, dốc, xe cộ chỉ va vào nhau mà hỏng” [9; 84] Do vậy mà

phần lớn thóc gạo của Java được chuyển từ các vùng sâu xa ra các hải cảng bằngđường sông, còn các mặt hàng ngoại thì lại ngược đường sông đến các vùng xa.Thương mại không chỉ là nguồn thu nhập kinh tế quan trọng mà còn là độnglực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ở Java phát triển và khai thác các nguồn nguyênliệu ở các đảo khác Để trao đổi, buôn bán với bên ngoài, Java phải có nguồnnguyên liệu dồi dào Thế nhưng nơi sản xuất ra hương liệu không phải là Java Vìvậy, để có hương liệu Java phải có thóc gạo để trao đổi Chính sự phát triển ngoạithương đã biến cả đế chế Majapahit thành một guồng máy hoạt động ăn ý: Java sảnxuất ra lúa gạo; các đảo khác trồng và khai thác hương liệu; hệ thống đường xá,

Trang 33

sông ngòi, các cảng biển, cảng sông là mạch máu lưu thông hàng hoá; triều đìnhđứng ra tổ chức buôn bán.

Quan hệ buôn bán của vương triều Majapahit đối với bên ngoài tiếp tục pháttriển Vương triều này có quan hệ buôn bán với Đại Việt, Trung Quốc, Ấn Độ,… ởnhững mức độ khác nhau do phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng quốc gia Hoạt độnggiao thương đã đưa lại cho triều đình một nguồn thu không nhỏ trong việc làm môigiới cho các thương nhân ngoại quốc tiếp cận với thị trường nội địa ở Java và cácđảo khác

Dưới vương triều Majapahit, nền kinh tế Indonesia đã có điều kiện thuận lợi

để phát triển, trong đó nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựngmột hệ thống cơ sở vất chất kĩ thuật và đứng ra tổ chức nền kinh tế Nông nghiệpphát triển đã đưa nơi đây trở thành một đất nước xuất khẩu các nguồn nguyên liệu,đặc biệt là lúa gạo Bên cạnh đó, thương mại là ngành kinh tế chủ đạo đã đem lạimột nguồn lợi lớn cho đất nước, trở thành một đế chế thương mại

Do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thương mại nên trong thời gian trị vì củavương triều Majapahit, tiền tệ đã có sự phát triển mạnh mẽ để làm phương tiện traođổi buôn bán và lưu thông chủ yếu ở Java Có hai loại thuế là pamihos và amugiachủ yếu được thu bằng tiền mặt Điều này chứng tỏ tiền tệ đã phát triển trong kinh

tế của Java Triệu Nhữ Quát - người đại diện ngoại thương của Trung Quốc ở cảng

Tuyền Châu đến đây và cho biết: “Ở Java người ta sử dụng những đồng tiền hợp kim đúc bằng bạc, thiếc, chì, đồng có lỗ xâu thành từng xâu một: cứ 70 đồng tiền trong một xâu có giá trị tương đương với một taen vàng” [9; 87] Sang thế kỉ XV,

Mã Hoan cũng cho biết, các nước ở Đông Java, Bắc và Nam Sumatra (Palembang

và Lamuri) dùng tiền đồng rất nhiều Vì thế, tiền đồng không chỉ từ Trung Quốc,

mà còn từ Châu Âu chảy qua Trung Á, Ấn Độ để tới Java Việc sử dụng vàng, bạc,tiền đồng trong buôn bán ở Java rộng rãi đến nỗi các du khách Châu Âu, trong đó

có Marco Polo cho rằng “Java là nơi giàu có trên mặt đất” [9; 87].

Như vậy, nền kinh tế của vương triều Majapahit là một nền kinh tế phát triểnkhá toàn diện Với một vị trí địa lí thuận lợi đã đã điều kiện cho Majapahit có thể

Trang 34

vừa tiến hành sản xuất nông nghiệp và thực hiện vai trò của một quốc gia thươngmại Sự phát triển của nền kinh tế chính là cơ sở tạo nên sự thịnh vượng và hùngmạnh cho vương triều Majapahit, đưa quốc gia này trở thành một quốc gia giàu có

hàng đầu trong khu vực như Marco Polo đã nhận xét: “(Java) giàu có một cách khác thường, nơi sản xuất ra tất cả các loại gia vị,… thường xuyên có một số lượng tàu bè khổng lồ và thương nhân đến buôn bán các hàng hóa quý giá mà nhờ đó, họ

đã thu về nguồn lợi khổng lồ Kho báu của hòn đảo này thực sự là quá lớn để miêu tả” [84; 208].

Qua sự trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy, sự phát triển mạnh mẽ của nềnkinh tế Majapahit đã đặt ra những nhu cầu và cơ sở cho quan hệ đối ngoại pháttriển, thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau:

1 Giống như các phong kiến phương Đông, vương triều Majapahit hình thành

và phát triển trên cơ sở kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽcủa nền kinh tế nông nghiệp và các hoạt động sản xuất thủ công cùng với một vị tríđịa lí thuận lợi đã tạo điều kiện để vương triều Majapahit thúc đẩy ngành kinh tếthương mại phát triển mạnh mẽ Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - nhất làkinh tế thương mại đã đặt ra những yêu cầu cho vương triều Majapahit, đòi hỏi nhànước phải vững mạnh, tập trung quyền lực để quản lí đất nước, hình thành nên mộtthị trường thống nhất, rộng lớn để tạo mọi điều kiện cho nền kinh tế phát triển.Trong khi đó, hình thành trên một địa bàn nhỏ bé của hạ lưu sông Brantas chỉ có thểtạo điều kiện cho việc sản xuất ra nguồn lúa gạo đáp ứng được nhu cầu hàng ngàycủa con người Còn các tiểu quốc đảo xung quanh như: Maluku, Timor, Sumatra,…lại có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hương liệu có giá trị cao và đáp ứngđược nhu cầu của thị trường thế giới về các loại mặt hàng khan hiếm này Do đó, đểphát triển được nền thương mại nội địa và trở thành một tuyến đường thương mạiquốc tế quan trọng, vương triều Majapahit thấy rằng cần phải tiến hành mở rộnglãnh thổ để có thể chủ động trong khai thác các nguồn gia vị quý giá tham gia vàonền kinh tế quốc tế Hơn nữa, sự phát triển của ngành kinh tế ngoại thương dẫn tớinhu cầu phải mở rộng thị trường và tiến hành quan hệ buôn bán với bên ngoài, đặc

Trang 35

biệt là những trung tâm kinh tế lớn trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản,…cũng như với các nước trong khu vực Điều này đòi hỏi nhà nước Majapahit phảibiết thực hiện các biện pháp đối ngoại để tiến hành các hoạt động kinh tế thươngmại cũng như ngoại giao với các nước để các mặt hàng của Java có thể trở thànhmột mặt hàng quan trọng, thiết yếu trên thị trường thế giới.

2 Cùng với sự phong phú về các loại sản vật địa phương và sự chuyên mônhóa giữa các vùng đã tạo điều kiện cho nền kinh tế nội thương ngày càng phát triển.Tuy nhiên, nếu muốn biến Majapahit thành một thị trường trung gian, với đa dạngcác loại hàng hóa thì đòi hỏi vương triều Majapahit phải có chính sách cởi mở, tạo

ra một môi trường hấp dẫn đối với các thương nhân nước ngoài để họ đến buôn bán.Nhu cầu phát triển nền kinh tế thương mại cũng như thúc đẩy các hoạt động kinh tếnội thương đã chi phối đến chính sách đối ngoại của vương triều Majapahit Ngoàinhững vấn đề phải mở rộng lãnh thổ để tranh chấp những vùng đất giàu có thìvương triều Majapahit cũng phải thực hiện chính sách mở cửa, thiết lập quan hêbuôn bán, tạo mọi điều kiện cho thương nhân nước ngoài đến buôn bán ởMajapahit

3 Sự phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp đã tạo

ra nhiều sản vật Tuy nhiên, “với một nguồn dân số chưa đến 4 triệu người” [80; 3]

thì những sản phẩm tạo ra đã vượt quá nhu cầu tiêu thụ của đất nước Điều này đặt

ra yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại để tìm kiếm đối tác, thị trường tiêu thụ cácsản phẩm dư thừa Trong quá trình ấy, vương triều Majapahit cần phải xác địnhnhững đối tác nào cần những nguồn hàng của mình để chúng trở thành những mặthàng thiết yếu

4 Sự phát triển của tiền tệ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt độngtrao đổi buôn bán, mở rộng thị trường Cho đến các thế kỉ X-XIII, chúng ta đã cóthêm nhiều bằng chứng về sự đa dạng của hệ thống tiền tệ ở Java khi chúng đượcđúc bằng vàng và được lưu hành trên khắp hòn đảo, sang tận Bali và từ thế kỉ XIsang tận Sumatra và bán đảo Malay Sự tiêu chuẩn hóa về khối lượng và giá trị đolường cũng là một bước tiến bộ quan trọng của nền kinh tế Java Sau đó, hệ thống

Trang 36

giá trị còn được quy đổi giữa tiền vàng và tiền bạc, giữa tiền đồng của Trung Hoavới tiền Java Sự phát triển này cho thấy, Java là một trong các trung tâm dẫn đầu vềphát triển hệ thống tiền tệ và trao đổi, buôn bán cả nội thương và ngoại thương.Ngoài các loại tiền nội địa thì còn có cả tiền ngoại nhập rất lớn trên đảo Java Điềunày đã được chứng minh trong các cuộc khai quật khảo cổ học, các nhà khoa học đãthấy có rất nhiều tiền của Trung Hoa trên khắp các khu vực từ thế kỉ X-XV Điềunày cho thấy, sức hút của hòn đảo Java trong giai đoạn phát triển thương mại tự donhờ vào nguồn cung cấp gia vị dồi dào của nó.

Như vậy, sự phát triển của nền kinh tế với những nhu cầu phát triển của nềnkinh tế thương mại đã tác động và là nhân tố quyết định đến chính sách đối ngoạicủa vương triều Majapahit, đòi hỏi nhà nước phải có những điều kiện về thị trường,chính sách và phương pháp quản lí để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo nên sựhưng thịnh cho vương triều

1.2.1.2 Nhân tố chính trị - xã hội

Về chính trị:

Sau khi thiết lập được chính quyền, Vijaya đã tiến hành xây dựng bộ máy nhànước nhằm ổn định tình hình đất nước, mở rộng lãnh thổ và thống nhất các đế chếđảo Cấu trúc bộ máy nhà nước của vương triều này vẫn được xây dựng trên nềntảng của mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền kiểu phươngĐông Căn cứ vào cuốn Nagarakertagama, Pigeaud đã chia chính quyền Majapahitthành bốn cấp: Nhà vua và hoàng gia, Những chuyên viên tư vấn của Hội đồnghoàng gia (còn gọi là Yuvaraja), Hội đồng Bộ trưởng và những người thống trị ởcác tỉnh

Nhà vua và hoàng gia:

Đứng đầu nhà nước là vua có uy quyền tuyệt đối, tập trung, tập hợp xungquanh mình một bộ máy quý tộc quan lại quan liêu tạo nên một hệ thống chínhquyền từ trung ương đến địa phương được tổ chức tương đối chặt chẽ Bộ máy nhànước đó có trọng trách thực hiện ba chức năng: chức năng tài chính nhằm bóc lộtnhân dân trong nước bằng cống nạp và nộp thuế; chức năng tổ chức và chỉ đạo xây

Trang 37

dựng các công trình công cộng chủ yếu là thuỷ lợi, các công trình kiến trúc mỹ quan

và cuối cùng là chức năng tổ chức và lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm và làmcông việc đi xâm chiếm các nước khác Thực hiện ba chức năng này nhà nướckhông chỉ đảm bảo duy trì được quyền lực của mình đối với toàn bộ thần dân màcòn là điều kiện cốt yếu để một quốc gia có thể tồn tại và phát triển

Vua được tôn phong trong nghi thức “Abhiseka” Trong nghi thức này, nhà

vua sẽ được ban tặng tên mới và tước hiệu hoàng gia mới tượng trưng cho một mônphái tôn giáo Sự thần thánh hóa vương triều là yếu tố đảm bảo cho quyền thống trịcủa nhà vua Mặc dù vậy, ông ta cũng bắt buộc phải thống trị theo Sastras, đặc biệt

là Manu Smritri (Bộ luật Manu)

Những người kế vị được nhà vua chọn ra từ những người con của mình Họ sẽđược đào tạo và tham gia vào chính quyền Những người con của vua thường làthành viên của Hội đồng hoàng gia và được cử đi để quản lý các tỉnh, thường làTumapel và Daha Nếu như họ còn quá trẻ để thống trị đất nước khi vua cha mất thìngười mẹ sẽ tham gia vào công việc triều chính thay cho con

Những chuyên viên tư vấn của Hội đồng hoàng gia

Hội đồng này được đặt với cái tên là “Bhattara Sapta Prabhu” còn gọi là

“Bảy hoàng thân cấp cao” (the Seven Lord Princes) Họ được bày tỏ quan điểm

của mình và có quyền được bầu vào các Hội đồng

Hội đồng Bộ trưởng

Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu là Tể tướng, là những người mang tước hiệu

“Mahapatih” hoặc “Amanku-bhumi” Họ là những người có vai trò rất lớn, là

những công cụ thực sự để quản lý chính quyền Những tước hiệu Bộ trưởng khác

như: “Arya-adhikara”, “Nayapati”, “Vrddamantri”, “Yuvamantri”, “Ahhikara”,

“Vagmimaya”, “Kesadari”, “Juru”.

Chính quyền nói chung được chia thành 3 cơ quan chính thức:

Thứ nhất: Rakryan Mahamantri Katrini Đây là cơ quan lãnh đạo cấp cao bao

gồm ba Bộ trưởng Họ là những người có nguồn gốc quý tộc và có vai trò truyền tảinhững hướng dẫn của chính quyền về các cấp thấp hơn của bộ máy hành chính

Trang 38

Cơ quan này bao gồm: 1)“Rakryan mantri-i-Hino” thường dành cho người

thừa kế của nhà vua, họ là những người có mối quan hệ thân thiết với nhà vua vàđược nắm giữ quyền để ban ra các sắc lệnh liên quan đến các vấn đề của nhà nước

2)“Rakryan mantri-i-Halu” và “Rakryan mantri-i-Sirikan” “I Hino” và “I Halu”

là những tước hiệu cao và có uy tín Chức năng của hai Bộ trưởng cấp cao “I Halu”

và “I Sirikan” vẫn còn là một bí ẩn chưa được giải đáp.

Thứ hai: Rakryan Mantri-ri-Pakirankiran là Hội đồng Bộ trưởng tiến hành

việc quản lý hàng ngày Họ cùng với vua xác định các chính sách quan trọng củanhà nước bao gồm chiến tranh hay hòa bình Cơ quan này bao gồm 6 Bộ trưởngđược gọi là “Panchanagaras”

“Patih”: Bộ trưởng đứng đầu là “Mahapatih” Họ thực hiện vai trò như

những lãnh tụ cao cấp của vương triều, thực hiện việc giám sát và kiểm soát toànthể chính quyền

“Tumengun” là những người chỉ huy trong quân đội, nhiệm vụ quan trọng

nhất là bảo vệ cho hoàng gia

“Demung” là các quan thị thần, đảm trách sự yên ổn trong nước.

“Ranga” là những người làm nhiệm vụ giữ trật tự và luôn trợ giúp cho

Tunmengun

“Rakai Kanuruhan” là những người chuyên trách về các phương tiện giao

thông liên lạc như: đường xá, bến phà,…

“Mandala Sarvajala” là những thượng tướng hải quân.

Thứ ba: Dharmmadhyaksa chuyên trách về các vấn đề tôn giáo, bao gồm 7 linh mục Saivist và 2 tu sĩ Phật giáo “Upapattis” Những vấn đề tôn giáo được hướng dẫn riêng từng phần do “Dharmmadhyaksa ring Kaisaiwan” (linh mục Shivaist Hindu cao nhất của Nhà nước) và “Dharmmadhyaksa ring Kasogatan” (tu

sĩ Phật giáo cao nhất của Nhà nước) Cả hai đều thực hiện vai trò như những ngườibảo vệ luật pháp tôn giáo của từng tôn giáo và thực thi công lí Trong những vấn đềtôn giáo, họ chỉ đứng sau nhà vua và đảm bảo rằng nhà vua thống trị đất nước theo

Trang 39

Manu Smriti Ngoài ra còn có Hội đồng tư vấn bao gồm những người lớn tuổi tronggia đình hoàng gia được gọi là Bhattara Saptaprabhu.

Những người thống trị ở các tỉnh:

Theo Negarakertagama, vương triều Majapahit trong thế kỉ XIV có khoảng 20tỉnh, bao gồm: Kabalon, Tumapel (Singosari), Daha (Kediri), Sinhapura,Tanjungpura, Kambanjenar, Kahuripan, Pajan (Surakarta), Wengker (Madium),Matahun (Yogyjakarta), Virabhumi, Paguhan, Kalin, Mataram, Lasem, Pawanawan,Pakembanan, Pamotan, Kalingapura, Jagaraga [65; 277]

Các tỉnh này đều nằm dưới quyền kiểm soát của nhà vua và hầu hết ở miềnTrung và Đông Java Khi chính quyền được phân quyền quá lớn về các địa phương

thì những người quản lý ở các tỉnh được gọi là “Bhre” hay “Bhatara” sẽ được thừa

hưởng mức độ tự trị Những người thống trị ở các tỉnh nắm giữ cả sức mạnh củanhân dân và sức mạnh quân đội Họ phải chịu trách nhiệm trong việc tham gia vàocác sự kiện của hoàng gia, và hơn nữa, khi có yêu cầu phải huy động lực lượngquân đội để đáp ứng việc ổn định đất nước cũng như chống giặc ngoại xâm thì cácđịa phương phải luôn sẵn sàng tham gia cùng nhà vua

Quan lại ở các tỉnh phải thực thi các nhiệm vụ giống như ở chính quyền trungương Tuy nhiên, về mặt hành chính, để huy động nguồn lực đầu tư vào các cơ sở ởđịa phương thì các địa phương chủ yếu lấy từ nguồn lợi nhuận thương mại và cácloại thuế đất đai mà không nhận được nguồn hỗ trợ nào từ chính quyền Trung ương

Họ sử dụng nguồn tài chính thu được vào những nhu cầu cần thiết của địa phương

và cũng phải đóng góp cho những nhu cầu, chi phí sinh hoạt của hoàng gia

Mỗi tỉnh lại được chia ra thành rất nhiều huyện Họ được gọi là “Akuwu”.Việc bổ nhiệm các quan chức ở huyện là do tỉnh chỉ đạo Hỗ trợ cho các quan ở

huyện là những chuyên gia gọi là “Bekel”, họ sẽ thực thi nhiệm vụ theo phong tục

và truyền thống ở từng địa phương

Như vậy, theo cách phân chia của Pigeaud, chúng ta thấy rằng, cấu trúc bộmáy nhà nước của vương triều Majapahit đã có sự hoạt động nhịp nhàng từ trungương đến địa phương và được phân cấp, phân ngành khá rõ ràng Cũng như các

Trang 40

nước phương Đông cổ trung đại khác, vương triều Majapahit cũng thiết lập chế độquân chủ chuyên chế Điều này được thể hiện qua cách thức tổ chức bộ máy nhànước, cách thức cai trị và các nghi thức của triều đình.

Nhà vua là người đứng đầu đất nước, có quyền lực tối cao Giúp việc cho nhàvua, tập trung xung quanh vua và có nhiệm vị cai quản quần chúng nhân dân là khốiquan lại quý tộc được tổ chức chặt chẽ theo hai cấp: chính quyền trung ương vàchính quyền địa phương Họ là những người thường được chọn ra nhờ có mối quan

hệ với gia đình hoàng gia hơn là khả năng chính trị và quản lý của mình

Ở cấp trung ương là bộ máy quan lại trực tiếp dưới vua, nắm những chức vụcao nhất trong triều đình, đứng đầu các quan tập hợp lại thành hàng ngũ quan đạithần Mặc dù chức năng nhiệm vụ và nội dung hoạt động của các quan này khácnhau nhưng họ là những quan cận thần, người cố vấn chủ chốt và thực hiện những ý

đồ to lớn của nhà vua

Dưới hàng ngũ quan đại thần, ở trung ương còn có bộ máy quan liêu gồm cáchàng quan lại có đặc quyền, đặc lợi khác nhau, phụ trách các ngành, các bộ khácnhau như: tư pháp, quân sự, kinh tế, văn hoá đảm bảo cho sự vận hành của toàn bộđất nước

Chính quyền trung ương như một hình chóp thứ bậc với vua ở đỉnh cao nhất

Trật tự hoàng gia “từ trên xuống”, trước hết là hai thư kí riêng của nhà vua

(Rakryanmomahumen) rồi tiếp đến là năm bộ trưởng với các tước hiệu RakryanMapatih hay Mahamantra Các vị bộ trưởng thực hiện mệnh lệnh của nhà vua, sau

đó là các vị bộ trưởng các cấp thấp hơn Ngoài ra còn có các phát ngôn viên của các

vị bộ trưởng, họ được tham gia vào tất cả những thủ tục và các nghi lễ với tư cách làngười thay thế các bộ trưởng

Ở cấp chính quyền địa phương đều có quan lại đứng đầu chia theo cấp hànhchính cụ thể Dưới vương triều Majapahit có một số lớn nước chư hầu Một số nướcchư hầu như Sumatra phải cống nộp cho chính quyền trung ương và phải chịu đểchiến thuyền của Majapahit canh phòng bờ biển của họ Nhưng trên thực tế, các

nước chư hầu này tự do hành động Phần lớn các nước chư hầu, kể các các quốc

Ngày đăng: 26/03/2014, 20:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aiđich, Đ.N (1995), Xã hội Inđônêxia và cách mạng Inđônêxia, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Inđônêxia và cách mạng Inđônêxia
Tác giả: Aiđich, Đ.N
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1995
2. Nguyễn Thế Anh (1972), Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á (trừ Việt Nam) từ nguyên sơ đến thế kỉ XVI, Nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các quốc gia Đông Nam Á (trừ Việt Nam) từ nguyên sơ đến thế kỉ XV
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb Lửa Thiêng
Năm: 1972
3. Bruhat, Jean (1976), Lịch sử Inđônêxia, Người dịch: Nguyễn Trọng Định, Nxb Đại học Pháp, P.U.F Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Inđônêxia
Tác giả: Bruhat, Jean
Nhà XB: Nxb Đại học Pháp
Năm: 1976
4. Các địa điểm tại Đông Nam Á, Trung Đông và Phi Châu đã được Trịnh Hoà và những người cùng đi tới thăm viếng (1405-1443), Tài liệu Viện Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các địa điểm tại Đông Nam Á, Trung Đông và Phi Châu đã được Trịnh Hoà và những người cùng đi tới thăm viếng (1405-1443)
5. Nguyễn Thị Phương Chi (2010), Tầm nhìn của các triều Lý, Trần về Vân Đồn và vùng Đông Bắc. Trong Di tích lịch sử - văn hóa thương cảng Vân Đồn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nhìn của các triều Lý, Trần về Vân Đồn và vùng Đông Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2010
6. G. Coedes (2011), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Người dịch: Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông
Tác giả: G. Coedes
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2011
7. Nguyễn Mạnh Cường (1991), Góp thêm về niên đại xuất hiện đồ gốm sứ hoa lam ở Việt Nam, Tạp chí Khảo cổ học, số 1/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm về niên đại xuất hiện đồ gốm sứ hoa lam ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 1991
8. Ngô Văn Doanh (1993), Inđônêxia đất nước con người, Nxb Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia đất nước con người
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 1993
9. Ngô Văn Doanh (1995), Inđônêxia- những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia- những chặng đường lịch sử
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1995
10. Nguyễn Tiến Dũng (2009), Quan hệ thương mại của Đại Việt và Java thế kỉ XI - XIV, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thương mại của Đại Việt và Java thế kỉ XI - XIV
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2009
11. Đại Việt sử kí toàn thư (2004), Tập 2, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử kí toàn thư
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
12. Trần Độ (1985), Một số vấn đề về quan hệ Trung Quốc - Đông Nam Á trong lịch sử, Tài liệu viện nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quan hệ Trung Quốc - Đông Nam Á trong lịch sử
Tác giả: Trần Độ
Năm: 1985
13. “Đông Nam Á trong lịch sử thế giới” của Tập thể các tác giả Viện Phương Đông thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Nxb Khoa Học (1977), Đinh Ngọc Bảo, Nghiêm Đình Vì (dịch), Trường ĐHSP Hà Nội - 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đông Nam Á trong lịch sử thế giới”
Tác giả: “Đông Nam Á trong lịch sử thế giới” của Tập thể các tác giả Viện Phương Đông thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Nxb Khoa Học
Nhà XB: Nxb Khoa Học (1977)
Năm: 1977
14. Đỗ Trường Giang (2006), Quan hệ thương mại của vương quốc Champa trong bối cảnh thương mại khu vực Đông Nam Á thời cổ trung đại (từ thế kỉ VII đến thế kỉ XV, Khóa luận Tốt nghiệp Khoa học Lịch sử, Trường ĐHKHXH &NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thương mại của vương quốc Champa trong bối cảnh thương mại khu vực Đông Nam Á thời cổ trung đại (từ thế kỉ VII đến thế kỉ XV
Tác giả: Đỗ Trường Giang
Năm: 2006
15. D.G.E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính Trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: D.G.E. Hall
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Trần Thị Hà (1998), Vai trò của vương triều Majapahit trong lịch sử Indonesia, Khóa luận Tốt nghiệp Đại học - Khoa Lịch sử, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của vương triều Majapahit trong lịch sử Indonesia
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 1998
17. Trương Minh Hằng (2005), Gốm thương mại Việt Nam trong hành trình mậu dịch gốm sứ Châu Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm thương mại Việt Nam trong hành trình mậu dịch gốm sứ Châu Á
Tác giả: Trương Minh Hằng
Năm: 2005
18. Trần Thị Thuý Hằng (2008), Hoạt động thương mại của Trung Quốc ở Đông Nam Á từ giữa thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thương mại của Trung Quốc ở Đông Nam Á từ giữa thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX
Tác giả: Trần Thị Thuý Hằng
Năm: 2008
19. Trịnh Huy Hoá (2003), Đối thoại các nền văn hoá, Cuốn Inđônêxia, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại các nền văn hoá
Tác giả: Trịnh Huy Hoá
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
20. Nguyễn Văn Hoàn, Lê Văn Dũng (2012), Thời đại hoàng kim của thương nhân Ryukyu thế kỉ XV-XVI, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại hoàng kim của thương nhân Ryukyu thế kỉ XV-XVI
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn, Lê Văn Dũng
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Bảng thống kê số văn bản ngoại giao trao đổi giữa Ryukyu  và các quốc gia Đông Nam Á - LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ - Quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)
Bảng 3 Bảng thống kê số văn bản ngoại giao trao đổi giữa Ryukyu và các quốc gia Đông Nam Á (Trang 106)
Bảng 4: Số hiện vật các sứ đoàn Ryukyu biếu các nước Đông Nam Á Nước, - LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ - Quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)
Bảng 4 Số hiện vật các sứ đoàn Ryukyu biếu các nước Đông Nam Á Nước, (Trang 111)
Bảng phả hệ của Vương triều Majapahit - LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ - Quan hệ đối ngoại của vương triều Majapahit với các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á (thế kỉ XIII - XVI)
Bảng ph ả hệ của Vương triều Majapahit (Trang 148)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w