1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn chuyên đề rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

42 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Skkn Chuyên Đề Rèn Luyện Kỹ Năng Nghị Luận Về Vấn Đề Xã Hội Đặt Ra Trong Tác Phẩm Văn Học
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 360,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC A PHẦN MỞ ĐẦU I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một yêu cầu cần thiết, quan trọng trong hoạt độ[.]

Trang 1

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

đủ để tạo nên những bài làm tốt. Các em sẽ lúng túng khi làm bài, nhất là trong bối cảnh Bộ GD&ĐT chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá các môn khoa học xã hội (trong đó có Ngữ văn) theo tinh thần “  nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”. [Theo công

văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH, năm 2013].

2. Ở môn Ngữ văn THPT, thì phần làm văn trong tất cả các kì thi đều

yêu cầu học sinh thực hiện kiểu bài nghị luận. Do đó, rèn kĩ năng làm văn nghị luận với đặc trưng riêng của kiểu bài này hẳn là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt là việc rèn cho học sinh kĩ năng làm những dạng đề có tính chất tích hợp, đòi hỏi khả năng lập luận sắc bén, biết kết hợp giữa vốn sống trực tiếp và vốn sống gián tiếp một cách uyển chuyển, nhuần nhị như dạng

bài: Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học Đây là một

trong những dạng bài rất phù hợp với tính chất của các kì thi học sinh giỏi môn Ngữ văn, vì nó có khả năng kích thích sự sáng tạo, khơi gợi những cách nhìn nhận đa chiều về các vấn đề văn học và đời sống; dễ dàng đánh giá năng lực tư duy, năng lực diễn đạt của người viết. Việc rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, do đó là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn dạy học Ngữ văn nói chung và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn nói riêng.

3. Để đáp ứng được mục tiêu dạy học Ngữ văn, nhất là tính hiệu quả

khi ôn tập cho học sinh trước mỗi kì thi; chúng ta cần tập trung hình thành cho các em hai năng lực cơ bản là: đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Tuy nhiên, việc rèn hai kĩ năng đọc hiểu và làm văn cho học sinh trong thực tế còn

thiếu tính hệ thống, gắn kết. Trong suy nghĩ của nhiều người, đọc văn và làm

Trang 2

nhận các văn bản văn học trong sách giáo khoa. Còn làm văn là việc học sinh trả bài trên giấy những hiểu biết đã được học về các tác phẩm văn học. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng:

- Các tác phẩm được giảng dạy có một khoảng cách lớn với người học, trở thành “những tinh cầu xa lạ” với hiện thực cuộc sống.

- Việc đọc hiểu tác phẩm văn học chỉ để thực hiện một yêu cầu học tập

mà không mang lại bất cứ liên hệ hữu ích nào với cuộc sống hàng ngày của học sinh.

- Đa phần học sinh thấy khó khăn khi gặp một tác phẩm ngoài chương trình, càng lúng túng khi gặp một đề bài ra theo lối mở - đòi hỏi các em phải

tự xác định vấn đề, soi chiếu vấn đề ở các góc độ khác nhau…

Để khắc phục những bất cập trên, bên cạnh các giải pháp như đổi mới đồng bộ chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh

giá…; chúng tôi cho rằng việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một việc làm cần thiết. Việc

làm này mặc dù chỉ là giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học một dạng bài cụ thể nhưng lại có tác dụng không nhỏ trong việc liên kết chặt chẽ hai phân môn đọc văn và làm văn; đưa văn học về gần hơn với đời sống; giúp cho học sinh có cái nhìn bao quát, toàn diện về những vấn đề văn học và đời sống. 

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là đổi mới kiểm tra đánh giá; xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn dạy học… chúng

tôi xây dựng chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt

ra trong tác phẩm văn học với mong muốn nghiên cứu và chia sẻ một số

vấn đề có tính chất gợi mở, phần nhiều là kinh nghiệm dạy học kiểu bài này

để cùng các đồng nghiệp hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn.

II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Với mục tiêu mở ra một cái nhìn có ý nghĩa tổng quát về kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đồng thời rút ra những kinh nghiệm rèn kĩ năng làm dạng bài này cho học sinh và chia sẻ một số tư liệu hữu ích phục vụ công tác dạy học; chúng tôi chủ trương trình bày những vấn đề sau trong chuyên đề:

- Giới thiệu kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học trên các cơ sở lí luận và thực tiễn.  

Trang 3

- Đưa ra những biện pháp cụ thể để rèn kĩ năng thực hiện kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

- Giới thiệu một số đề bài và đáp án để phục vụ việc ôn tập và thực hành làm kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học  

       

Từ điển thuật ngữ văn học cũng nêu rõ:   “Văn nghị luận: Thể văn

nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết học, văn hoá. Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó. Đặc trưng cơ bản nhất của văn chính luận là tính chất luận thuyết Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ”.

Trang 4

biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp

về các vấn đề văn học, chính trị, đạo đức, lối sống  và được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục. Đây là loại văn phổ biến trong nhà trường, thường được lấy làm yêu cầu của phần làm văn trong các đề thi hiện nay. Vì văn nghị luận thể hiện năng lực tư duy, lo-gic của người viết; vừa cho thấy khả năng diễn đạt, trình bày quan điểm riêng một cách thuyết phục. Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn

đề cần nghị luận (luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (luận chứng).

b. Phân loại:

Căn cứ vào nội dung nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Theo đó: Nghị luận văn học có nội dung bàn luận về một vấn đề văn học, còn Nghị luận xã hội lại hướng tới bàn luận về một vấn đề nảy sinh trong xã hội.

1.2. Kiểu bài Nghị luận xã hội

- Dựa theo cách hiểu của Từ điển từ và ngữ Hán Việt về xã hội (“xã

hội là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất

và các quan hệ khác”); chúng ta có thể hiểu Nghị luận xã hội là kiểu bài

hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Phạm vi của nghị luận xã hội rất rộng, có thể

kể tới những nội dung quan trọng như: mối quan hệ của con người với môi trường sống, mối quan hệ của cá nhân với cộng đồng, các vấn đề về lối sống,

lý tưởng sống, những hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống xã hội… Việc bàn luận về những vấn đề trên sẽ góp phần làm cho nhận thức và tâm hồn của con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người ý thức chăm sóc cuộc sống tinh thần của mình và xây dựng các mối quan hệ trong xã hội, trong cộng đồng ngày càng văn minh, tốt đẹp hơn. Không chỉ vậy, nó còn có khả năng rèn năng lực

tư duy, giúp con người có thể đối diện với các vấn đề xã hội và biết cách giải quyết những vấn đề ấy.

- Nghị luận xã hội thường được chia thành ba dạng:

+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống

+ Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Trang 5

Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH

Khác nhau

Bàn   luận   về   một vấn   đề   tư   tưởng, đạo đức, lối sống…

của con người.

Bàn   luận   về   một hiện tượng, một vấn

đề   có   tính   thời   sự, được dư luận xã hội quan tâm.

Bàn   luận   về   một   vấn

đề   xã   hội   (một   tư tưởng,   đạo   đức,   lối sống   hoặc   một   hiện tượng đời sống) được rút   ra   từ   một   câu/ một   đoạn   trích   hoặc rút ra từ nội dung của một tác phẩm văn học nào đó.

Mang   tính   khái quát cao về những chân   lí,   những   bài học   đạo   đức;   góp phần   định   hướng cho con người có lẽ sống tốt đẹp.

Thường   đi   vào những vấn đề cụ thể (như   những   biểu hiện   tích   cực   hoặc tiêu cực) trong cuộc sống   Từ   đó,   gợi   ý cho   con   người những   hành   vi   và cách   ứng   xử   đúng đắn.

Xuất phát từ nội dung

xã   hội   cụ   thể   trong một tác phẩm văn học,

đề bài hướng đến mục tiêu:   Hình   thành   cho học sinh năng lực khái quát vấn đề, thể hiện quan   điểm   của   mình trước   những   vấn   đề đời sống.

Giống nhau

* Về nội dung: Cùng đề cập đến những vấn đề xã hội, góp phần

nâng cao nhận thức và định hướng về lối sống, cách ứng xử cho con người.

* Về phương pháp nghị luận: Để thực hiện các dạng bài trên,

người   viết   đều   cần   vận   dụng   kết   hợp   các   thao   tác   lập   luận như: giải thích, bình luận, phân tích, chứng minh, bác bỏ để bàn luận, trình bày quan điểm của mình xoay quanh vấn đề xã hội được

đề cập.

1.3. Kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn

học

a. Cơ sở hình thành kiểu bài

Trang 6

- Xuất phát từ chức năng phản ánh của văn học mà hiện thực trở thành thuộc tính tất yếu của mỗi tác phẩm văn học. Trong bất kì tác phẩm văn học nào, chúng ta cũng thấy hơi thở, bóng dáng của hiện thực đời sống khách quan được nhà văn phản ánh. Cho nên, dù các tác phẩm văn học ra đời ở giai đoạn, thời kì nào thì những vấn đề xã hội mà nó đề cập vẫn có ý nghĩa với cuộc sống hiện tại. Tiếp nhận một tác phẩm văn học, người đọc không chỉ suy

tư, chiêm nghiệm về những vấn đề xã hội ở thời đại mà tác phẩm ra đời ; mà

họ còn có cơ hội nhìn nhận, đánh giá một cách thấu đáo về những vấn đề của đời sống nhân sinh trên cơ sở so sánh xã hội hôm qua và hôm nay ; xã hội được nhà văn phản ánh và xã hội hiện tại mà mình đang sống  Ngoài ra, do đặc trưng của hoạt động tiếp nhận văn học nên người đọc có thể bộc lộ quan điểm của bản thân về một nội dung nào đó, không lệ thuộc vào cách nhìn của người khác. Chính điều này trở thành cơ sở cho sự ra đời của những đề bài yêu cầu nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

       - Đề văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá ở môn học này. Trong những năm học gần đây, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc đổi mới cách ra đề văn: từ nội dung kiểm tra đến hình thức, cấu trúc của một đề bài. Trong đó, cách hỏi ở câu Nghị luận xã hội càng lúc càng phong phú, đa dạng. Không dừng lại ở những câu hỏi có tính chất khuôn mẫu như dựa vào một ý kiến hay nêu ra một hiện tượng để yêu cầu học sinh bàn luận; mà có nhiều đề bài mở đầy sáng tạo đã ra đời và được dư luận đánh giá cao. Trong

đó, kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học được xem là cách hỏi “vừa quen, vừa lạ”; vừa mô phạm, vừa kích thích sáng tạo; vừa kiểm tra được năng lực cảm thụ văn học; vừa đánh giá được tư duy lo-gic và kiến thức xã hội của học sinh… Đó là lí do sự xuất hiện của kiểu bài này càng lúc càng nhiều, nhất là trong xu hướng đổi mới kiểm tra môn Ngữ văn theo định hướng năng lực hiện nay.

b. Đặc điểm của kiểu bài:

      Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là kiểu bài nghị luận xã hội chứ không phải nghị luận văn học. Vì đối tượng trực tiếp

đề bài yêu cầu bàn luận là một vấn đề xã hội chứ không phải một nội dung văn học; tác phẩm văn học chỉ đóng vai trò là phạm vi, xuất xứ của vấn đề xã hội được yêu cầu bàn luận trong đề bài. Về điều này, sách giáo viên Ngữ văn

12 (Nâng cao) đã lưu ý như sau: “Nhiều người nhầm dạng đề này là nghị luận văn học, vì đề có liên quan đến tác phẩm văn học. Đúng là dạng đề này liên quan và xuất phát từ tác phẩm văn học, những tác phẩm văn học chỉ là “cái cớ” khởi đầu. Mục đích chính của dạng đề này vẫn là yêu cầu người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề xã hội, đạo lí, tư tưởng, nhân sinh… Nghĩa là

Trang 7

Yêu   cầu   nghị   luận   về

một   tư   tưởng   đạo   lí

được   rút   ra   từ   tác

phẩm văn học.

Qua bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu, hãy trình bày suy

nghĩ của mình về ý nghĩa của lý tưởng sống với thanh niên.

Yêu   cầu   nghị   luận   về

một   hiện   tượng   đời

Yêu   cầu   nghị   luận   về

Trang 8

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời …

Theo anh/chị nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm muốn gửi tới thế hệ trẻ thông điệp gì qua đoạn thơ trên ? Hãy viết một bài văn để trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của thông điệp đó.

Yêu   cầu   nghị   luận   về

Từ   những   câu   chuyện   gia   đình   trong   các   tác

phẩm Những đứa con trong gia đình (Nguyễn   Thi)

và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu); anh/chị

hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của gia đình với cuộc sống của mỗi con người.

Yêu   cầu   nghị   luận   về

Rủ nhau bay về nam lẩn tránh,

Dù suốt mùa hè ca ngợi quê hương

Chỉ đại bàng vẫn ngồi im Lặng lẽ nhìn những hàng cây trút lá Khi đất nước gặp những ngày băng giá Đại bàng không bỏ bay đi

       (Thơ Rasul Gamzatov, Thái Bá Tân

dịch)

Trang 9

Từ hình tượng của chú chim đại bàng trong bài thơ trên,

anh/chị hãy viết một bài văn ngắn để trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu quê hương, tổ quốc của mỗi con người.

Trang 10

      - Nếu lần này tôi không được bầu làm tổng thống thì anh hãy biết rằng đó chính là lỗi của ông ta. Ông ta chính là Abraham Lincoln!

Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Ga-li-lê. Đây là biển hồ thu hút khách du lịch nhiều nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng có thể sống được Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này.

Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước

từ sông Gioóc-đăng. Nước sông Gioóc-đăng chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Ga-li-lê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Gioóc- đăng rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.

Trang 11

là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!

Hồn Trương Ba : Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là

chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!

       (Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 149)

Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề : con người cần được sống là chính mình.

*    *    *        Như vậy: Kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học xuất hiện chủ yếu trong các đề thi dành cho học sinh giỏi. Bên cạnh đó, vào năm 2014 trong đề thi tốt nghiệp đã xuất hiện đề văn tích hợp cả hai câu: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Đây là đề văn đòi hỏi học sinh thực hiện cả hai yêu cầu nghị luận văn học và nghị luận xã hội, trong đó phân tích văn học làm cơ sở để trình bày quan điểm suy nghĩ về vấn đề xã hội. Tuy không đơn thuần là bài văn Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học những chúng tôi cho rằng câu hỏi trong đề thi tốt nghiệp THPT năm 2014 khá gần gũi với dạng đề này; có thể mở ra nhiều đề bài yêu cầu tích hợp tương tự.

Mặc dù đã xuất hiện nhiều trong các đề thi, nhưng dạng bài này về cơ bản còn mới và khó với các em học sinh. Bởi lẽ: Chương trình SGK chưa chú trọng đến việc rèn kĩ năng làm văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học cho học sinh. Khảo sát hai bộ SGK Chuẩn và Nâng cao chúng tôi thấy: Ở chương trình Chuẩn chỉ đề cập đến hai kiểu bài là: Nghị luận về

một tư tưởng đạo lí và Nghị luận về một hiện tượng đời sống, mà không

nhắc đến kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

Còn ở chương trình Nâng cao chỉ có một tiết: Luyện tập nghị luận về vấn đề

xã hội trong tác phẩm văn học. Đó là lí do, kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học thực tế còn nhiều xa lạ với cả giáo viên và học sinh Đối với việc dạy của giáo viên, vấn đề đặt ra là không biết căn cứ vào đâu để hình thành một phương pháp rèn kĩ năng làm kiểu bài này thật hiệu quả, khoa học cho học sinh và làm sao để tránh được khuynh hướng xã hội hóa dung tục khi phân tích một tác phẩm văn học. Còn đối với học sinh, hiện nay còn nhiều em chưa phân biệt được đây là đề nghị luận văn học hay nghị luận

xã hội; nhiều em không biết cách triển khai vấn đề khi làm bài, chủ yếu thực

Trang 12

hiện đề bài một cách bản năng, không đáp ứng được yêu cầu chặt chẽ, thuyết phục, lo-gic của một bài văn nghị luận.

Vì lẽ đó, chúng tôi cho rằng rất cần thiết tìm hiểu kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học một cách có hệ thống để tháo gỡ những lúng túng của giáo viên và học sinh khi cần xử lí một đề văn thuộc kiểu này.

II. RÈN KĨ NĂNG  LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XàHỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

1. Rèn kĩ năng tìm hiểu đề

Tìm hiểu đề là bước đầu tiên nhưng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình làm văn; chính thao tác đầu tiên này sẽ quyết định bài viết của học sinh có được triển khai hợp lí, hiệu quả hay không. Do đặc điểm của kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học thường hướng tới kiểm tra năng lực phát hiện vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học, phân tích và luận bàn về vấn đề đó; nên trong khâu tìm hiểu đề học sinh cần thiết trả lời được các câu hỏi: Đề bài yêu cầu nghị luận về vấn đề gì ? Đâu là nội dung nghị luận quan trọng nhất ? Vấn đề nghị luận thuộc phạm vi nào ?

Có bao nhiêu ý cần triển khai ? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào ? Cần sử dụng những thao tác lập luận nào để thực hiện yêu cầu của đề bài … Để học sinh thực hiện tốt bước tìm hiểu đề, giáo viên cần chú ý rèn luyện cho các em kinh nghiệm đọc đề, phân tích và xác định yêu cầu của đề theo trình tự hợp lí.

Việc Đọc là cơ sở để Hiểu yêu cầu của đề bài nhưng thực tế các em học

sinh thường rất qua loa khi đọc đề, dẫn đến tình trạng xác định sai vấn đề nghị luận hoặc không xác định được yêu cầu cơ bản. Giáo viên cần lưu ý học sinh đọc kĩ đề, chú ý từ hình thức đến nội dung của đề (thể hiện qua câu chữ, cách diễn đạt, những yêu cầu cụ thể…). Trong đó, cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu những từ ngữ quan trọng trong đề bài, những cách diễn đạt nhằm nhấn mạnh ý, những cách nói bóng bẩy, nhiều nghĩa  Với một đề bài có nhiều thông tin được diễn đạt bằng nhiều câu, nhiều vế; học sinh cần biết chia tách đối tượng để tìm hiểu từng nội dung cụ thể, nhìn nhận mối tương quan giữa các nội dung và khái quát để thấy được yêu cầu chung của đề.

Xét các đề bài ví dụ dưới đây:

Đề 1. Phải  chăng  hiện  tượng người trong bao không  chỉ  có  trong

truyện ngắn của Sê-khốp mà đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến trong

xã hội ngày nay ?

Trang 13

Đề 2. Từ tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh

Châu, anh (chị) có cảm nghĩ và suy tư gì về mối quan hệ giữa cuộc sống nghèo khó và tình trạng bạo lực gia đình trong xã hội hôm nay ?

Tiếp xúc với các đề bài trên, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc kĩ từng câu chữ, cách diễn đạt trong đề rồi rút ra nhận xét về hình thức và nội dung của từng đề. Cụ thể:

Ở đề 1, cấu trúc “Phải chăng…” là một câu hỏi tu từ, mục tiêu nhấn mạnh và khơi gợi suy ngẫm của học sinh về sự xuất hiện ngày càng nhiều

hiện tượng người trong bao trong xã hội. Do đó, dù đề không trực tiếp đưa

ra yêu cầu nghị luận thì học sinh vẫn cần xác định để làm bài cần phân tích, bình luận, thể hiện những đánh giá, kiến giải của bản thân về hiện tượng xã

hội trên. Để luận bàn, học sinh lấy tác phẩm Người trong bao của Sê-khốp làm cơ sở để lí giải thế nào là người trong bao; từ đó soi chiếu vào hiện thực

Tùy thuộc vào đặc điểm và cấu tạo của đề bài mà học sinh sẽ xác định được mức độ nghị luận và phạm vi tư liệu sử dụng trong bài viết.

2. Rèn kĩ năng lập dàn ý

Muốn có một bài nghị luận chặt chẽ, thuyết phục, lo-gic, nổi bật được yêu cầu nghị luận thì kĩ năng lập dàn ý đóng một vai trò quan trọng. Lập dàn

ý là lựa chọn các ý đã tìm được ở bước phân tích đề và sắp xếp chúng theo một trật tự hợp lí, dự kiến được mức độ trình bày mỗi ý sao cho phù hợp, hiệu quả. Dàn ý sẽ giúp người viết có thể bao quát được những nội dung của bài, cân đối các nội dung trình bày, tránh bỏ ý hoặc nêu vấn đề một cách vòng

vo, lộn xộn; chủ động về thời gian làm bài. Dàn ý cũng giúp cho người đọc/ người chấm dễ dàng theo dõi tiến trình nghị luận và đánh giá được năng lực làm văn của người viết; giúp bài văn dễ gây thiện cảm với đối tượng tiếp nhận.

Trang 14

đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học một cách khoa học; chúng ta có thể

sơ đồ hóa cấu trúc thực hiện một bài văn Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học như sau:

Cũng giống   như kết cấu chung của   một  bài  văn nghị  luận,   ở kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học chúng ta cũng phải tuân thủ việc thực hiện bài văn theo kết cấu 3 phần: Mở bài, Thân bài và Kết bài. Trong đó, mỗi phần có một nhiệm vụ riêng.

Trang 15

      - Nếu đề bài đã chỉ rõ yêu cầu nghị luận về một vấn đề xã hội cụ thể đặt ra trong tác phẩm văn học thì cần sơ lược giới thiệu, phân tích về

biểu hiện của vấn đề xã hội đó trong tác phẩm văn học. Có thể dựa vào những câu hỏi dưới đây để tư duy, sắp xếp ý :

+ Vấn đề xã hội được nhắc đến trong tác phẩm như thế nào ?

+ Tác giả đã nhìn nhận, đánh giá về vấn đề xã hội đó ra sao ?

+ Cắt nghĩa, lý giải : cơ sở nào hình thành vấn đề xã hội đó trong tác phẩm   (do   bối   cảnh  lịch  sử,   do   thực   tế   đời   sống,   do   quan   niệm   của   con người  ?)

- Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra

trong một tác phẩm chưa được học hoặc chưa nêu cụ thể đó là vấn đề

xã hội nào; thì cần thực hiện thao tác đọc hiểu văn bản tác phẩm văn học mà

đề cho, để rút ra vấn đề xã hội cần nghị luận. Đây là một thao tác không đơn giản vì một tác phẩm văn học thường mở ra nhiều hướng tiếp nhận, có thể mỗi học sinh lại phát hiện, nhìn nhận, đánh giá về tác phẩm một cách khác nhau. Làm sao để việc rút ra vấn đề xã hội từ tác phẩm đó không rơi vào tình trạng phỏng đoán thiếu căn cứ hoặc sa vào khuynh hướng xã hội hóa, dung tục ; giáo viên cần hướng dẫn cụ thể cho học sinh cách thức thực hiện khâu đọc hiểu và rút ra vấn đề xã hội trong tác phẩm. Có thể dựa vào những câu hỏi dưới đây để tư duy, sắp xếp ý :

+ Tác phẩm (câu chuyện mi-ni/ bài thơ ngắn/ đoạn trích ) nói về nội dung gì ?

Để trả lời câu hỏi này, học sinh có thể dựa vào nhan đề của tác phẩm, các yếu

tố nghệ thuật có tác dụng làm nổi bật nội dung như từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ, các hình thức liên kết câu – liên kết đoạn văn 

+ Tác phẩm/ đoạn trích đề cập đến những vấn đề xã hội nào ? Đâu là vấn đề xã hội cơ bản, liên quan đến yêu cầu của đề bài ? Vấn đề xã hội đó là một tư tưởng, đạo lí hay một hiện tượng đời sống ?

+ Tác giả có ngầm thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá của mình về vấn

đề xã hội được nhắc đến trong tác phẩm/đoạn trích đó hay không ?

      b.2. Nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học (Làm rõ vấn đề trong thực tế xã hội)    

Trang 16

xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là gì, thuộc phạm trù tư tưởng, đạo lí hay hiện tượng đời sống mà người viết sẽ tiến hành bàn luận về vấn đề đó theo trình tự nghị luận phù hợp với từng dạng bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hoặc Nghị luận về một hiện tượng đời sống.

- Nếu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một tư

tưởng, đạo lí; học sinh có thể bàn luận về vấn đề đó theo trình tự:

+ Giải thích (nếu cần). Với những vấn đề xã hội được diễn đạt bằng những từ ngữ, hình ảnh ít nhiều mang nghĩa ẩn dụ, biểu tượng hoặc có nhiều cách hiểu thì người viết cần giải thích nội dung của những từ ngữ đó trước khi tiến hành bàn luận vấn đề.

              + Bàn luận vấn đề: Soi chiếu vấn đề tư tưởng, đạo lí đó trên các phương diện khác nhau để nhìn nhận cả mặt đúng đắn (chính đề) hoặc chỗ chưa đầy đủ, thuyết phục của nó (phản đề).

b.3. Đánh giá, nhìn nhận nét ổn định hoặc chuyển biến của vấn đề xã hội từ tác phẩm văn học đến cuộc sống.

Để bài viết được sâu sắc, toàn diện; sau khi bàn luận về vấn đề xã hội thì người viết nên có cái nhìn đối sánh về nội dung xã hội được đề cập trong tác phẩm văn học và hiện thực cuộc sống hiện nay. Chỉ ra nét ổn định và biến đổi của vấn đề; lý giải nguyên nhân của nét ổn định và biến đổi đó (do hoàn cảnh, điều kiện xã hội, cái nhìn riêng của tác giả  )

c. Kết bài:  Khái quát lại vấn đề cần bàn luận.

      Rút ra bài học nhận thức và hành động.

3. Rèn kĩ năng diễn đạt, trình bày bài văn

Trang 17

Diễn đạt, trình bày, hoàn thiện bài văn là bước thực thi kế hoạch làm bài đã được vạch ra từ dàn ý; cũng là chỗ thể hiện rõ nhất năng lực ngôn ngữ của học sinh, quyết định chất lượng của bài viết. Với bất kì dạng đề văn nào, giáo viên cũng cần chú ý đến khâu rèn kĩ năng diễn đạt, trình bày cho học sinh. Từ việc rèn kĩ năng thực hiện bài văn theo bố cục ba phần: Mở, Thân, Kết với yêu cầu về nội dung, hình thức của từng phần; đến việc rèn những thao tác, kĩ năng cụ thể như viết câu, dựng đoạn, liên kết – chuyển ý giữa các câu, các đoạn; cách mở rộng, nâng cao vấn đề…

Trong phạm vi của chuyên đề này, chúng tôi không có điều kiện cụ thể hóa phương pháp rèn luyện từng kĩ năng để diễn đạt và hoàn thiện một bài văn; mà chỉ nêu lên một số kinh nghiệm rèn diễn đạt có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học.

Với dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học, cái khó không chỉ nằm ở chỗ cần xác định được vấn đề xã hội và lập

ý sao cho chặt chẽ, khoa học; mà còn ở khâu diễn đạt. Để có một bài nghị luận thuyết phục, học sinh cần biết cách sử dụng câu chữ, hành văn để kết nối các nội dung về văn học và đời sống một cách uyển chuyển, nhuần nhuyễn. Cần tránh tình trạng chia bài viết thành hai phần độc lập (phần thứ nhất là nghị luận văn học, phần thứ hai là nghị luận xã hội); hoặc lan man, sa đà phân tích tác phẩm văn học, hời hợt khi bàn luận về vấn đề xã hội. Với học sinh giỏi, càng cần có khả năng nhấn - lướt phù hợp, chọn lọc ý khi trình bày; biết cách

để thể hiện quan điểm, chủ kiến của mình về vấn đề bàn luận một cách tinh tường, sắc sảo. Do đó, khi thực hiện rèn kĩ năng làm văn cho học sinh; chúng tôi đặc biệt quan tâm đến kĩ năng diễn đạt mở bài, thân bài, kết bài và kĩ năng chuyển ý, chuyển đoạn.

3.1. Rèn kĩ năng viết mở bài

Giống như các dạng đề nghị luận khác, phần mở bài của bài văn nghị luận về vấn đề xã  hội được  đặt ra  trong  tác  phẩm  văn học có thể thực

hiện trực tiếp hoặc gián tiếp; và dù làm theo cách nào cũng cần đảm bảo

hai yêu cầu: vừa dẫn dắt, khơi gợi ấn tượng cho người đọc; vừa giới thiệu khái quát về vấn đề nghị luận sẽ được triển khai trong bài văn (nội dung nghị luận, phạm vi tư liệu, tầm quan trọng của vấn đề…).

Tuy nhiên, nếu những kiểu bài nghị luận khác như nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nghị luận về vấn

đề văn học… rất dễ để giới thiệu vấn đề nghị luận (thông thường học sinh chỉ cần trích xuất thông tin trong đề là đã hoàn thành khâu giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận) thì ở kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học việc giới thiệu vấn đề nghị luận gặp nhiều khó khăn hơn.

Trang 18

Vì: Học sinh vừa cần dẫn dắt, giới thiệu về tác phẩm văn học có liên quan; vừa phải nêu được vấn đề có ý nghĩa xã hội rút ra từ tác phẩm đó làm cơ sở

để bàn luận. Làm sao để việc dẫn dắt và nêu hai loại thông tin cần thiết này không khiến cho phần mở bài dài dòng, cứng nhắc là một thử thách với học sinh.

Trong quá trình rèn kĩ năng mở bài cho một bài văn nghị luận về vấn

đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học, chúng tôi thường hướng dẫn học sinh thực hiện một trong hai cách:

- Cách 1. Giới thiệu vấn đề cần bàn luận rồi khẳng định vấn đề đó không chỉ là câu chuyện/ tình tiết được đề cập trong một tác phẩm văn học

cụ thể mà còn là một vấn đề có ý nghĩa với xã hội hiện nay.

- Cách 2. Giới thiệu về tác phẩm văn học có liên quan, khẳng định một phương diện quan trọng làm nên giá trị nội dung của tác phẩm chính là vấn

đề có ý nghĩa xã hội được tác giả đề cập. Sau đó nêu rõ vấn đề xã hội đó là gì.

Ví dụ xét đề bài dưới đây:

Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ), nhân

vật Trương Ba đã nói: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Câu nói của Trương Ba, gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về tình trạng con người không được sống là mình ?  

Mở bài theo cách 1

Trong cuộc sống, nhiều khi vì hoàn cảnh mà con người không được sống là chính mình. Hiện tượng con người phải sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” không chỉ là bi kịch của nhân vật Trương Ba trong vở

kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, mà còn là một thực

ẩn mình trong từng vòm cây, khóm lá… nhưng tấm lòng và những suy tư, trăn trở về cuộc đời của ông trong vở kịch ấy vẫn còn mãi trong lòng bạn đọc Một trong số những phương diện làm nên thành công của vở kịch chính là

Trang 19

đã được nhà văn gửi gắm qua lời của nhân vật Trương Ba: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” Phải chăng chuyện con người không được sống là chính mình không chỉ là hoàn cảnh riêng của Trương Ba, mà đã thành bi kịch đau đớn của bao người trong xã hội hiện đại ?

(Trích: Bài làm của học sinh) Ngoài yêu cầu về một mở bài đúng, đáp ứng được yêu cầu về nội dung; giáo viên còn cần khuyến khích học sinh sáng tạo khi thực hiện mở bài với những cách diễn đạt giàu hình ảnh, nhịp điệu, cảm xúc  Tất nhiên, đây là chuyện lâu dài, cần có cả một quá trình rèn luyện, bồi dưỡng và có khi còn phụ thuộc cả vào năng khiếu của từng học sinh. Vì vậy trong chuyên đề này, chúng tôi chỉ dừng lại ở kinh nghiệm rèn kĩ năng viết mở bài nhằm giúp học sinh thực hiện một cách có hiệu quả nhất.

3.2. Rèn kĩ năng viết thân bài

Thân bài là phần trọng tâm của bài văn. Nhiệm vụ của phần thân bài là triển khai đầy đủ và chi tiết hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng để làm sáng tỏ luận đề. Khi thực hiện thân bài, học sinh cần biết cách chia tách thành nhiều đoạn văn và sắp xếp chúng theo trình tự hợp lí. Trong đó, mỗi đoạn văn

là sự triển khai hoàn chỉnh một nội dung đã được xác định từ khi lập dàn ý Bám sát dàn ý để viết thân bài là kĩ năng học sinh đã được rèn luyện khá nhiều, do đó chúng tôi chỉ tập trung trình bày về cách cách liên kết (chuyển ý, chuyển đoạn) trong khi học sinh thực hiện viết phần thân bài và việc tổ chức điểm nhìn phù hợp trong quá trình viết bài.

a. Cách chuyển ý, chuyển đoạn:

Bài văn là một thể thống nhất, hoàn chỉnh được tạo nên bởi các phần, các đoạn, các câu. Do đó giữa các phần, các đoạn, các câu cần có sự kết dính với nhau vì nếu không có sự kết dính ấy bài văn sẽ trở nên rời rạc, thiếu thống nhất. Sự kết dính ấy được gọi là liên kết. Trong đó liên kết các câu văn/ đoạn văn là một thao tác quan trọng. Trong khi rèn kĩ năng làm văn nghị luận nói chung và dạng bài nghị luận về vấn đề văn học đặt ra trong tác phẩm văn học, chúng tôi thường dành khá nhiều thời gian để hướng dẫn học sinh cách thức liên kết câu văn/ đoạn văn.

Để rèn khả năng liên kết các câu trong đoạn văn của bài văn nghị luận

về vấn đề văn học đặt ra trong tác phẩm văn học, trên cơ sở bồi dưỡng kiến thức về các phép liên kết câu (phép thế, phép nối, phép lặp, phép liên tưởng…)

Trang 20

chúng tôi thường ra các đề bài luyện tập để học sinh thực hành, nhất là yêu cầu chữa lỗi về liên kết câu.

Bên cạnh đó, liên kết các đoạn trong bài nghị luận về vấn đề văn học đặt ra trong tác phẩm văn học cũng là kĩ năng đòi hỏi học sinh rèn luyện nhiều. Trong bài văn, vị trí quan trọng cần liên kết thường tập trung ở vị trí:

giữa 3 phần bố cục của bài là Mở - Thân - Kết và giữa các đoạn (các luận

điểm) trong phần thân bài.

Chúng tôi thường hướng dẫn học sinh các cách liên kết đoạn văn như:

- Dùng từ ngữ để liên kết:  

Tùy theo mối quan hệ giữa các đoạn, các phần mà học sinh có thể dùng các từ nối thích hợp.  

+ Nếu muốn nối các đoạn có quan hệ thứ tự để làm rõ tính hệ thống của việc sắp xếp ý trong bài, ta có các từ ngữ liên kết như: trước tiên, trước hết, thoạt nhiên, tiếp theo, sau đó, cuối cùng, một là, hai là, bắt đầu là…

+ Nếu cần nối các đoạn văn được triển khai theo quan hệ song song (có điểm tương đồng về vai trò trong bài văn) ta có thể dùng các từ liên kết như: một mặt, mặt khác, ngoài ra, bên cạnh đó, cũng vậy,…

+ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ tăng tiến (đoạn sau nhấn mạnh, phát   triển   nội   dung   của   đoạn   trước)   ta   có   thể   sử   dụng   các   từ   liên   kết như: hơn nữa, thậm chí, không chỉ/ mà còn…

+ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ tương phản (để làm rõ những luận điểm có nội dung khác nhau, nhất là việc chuyển ý từ chính đề sang phản

đề trong bài nghị luận xã hội) ta có thể sử dụng những từ nối kết như: nhưng, tuy nhiên, tuy vậy, thế nhưng, trái lại, ngược lại, …

+ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ nhân quả, ta có thể sử dụng các

từ liên kết như: bởi vậy, do đó, vì thế cho nên…

+ Nếu cần chuyển ý sang một đoạn văn có ý nghĩa tổng kết ý nghĩa của các đoạn trước đó; ta có thể dùng các từ liên kết như: tóm lạị, chung quy, tổng kết lại, tựu trung lại, có thể khẳng định…

- Dùng câu để liên kết:

Trong một số trường hợp, học sinh có thể sử dụng các câu văn có chức năng liên kết hai đoạn văn với nhau. Các câu văn nối thường đứng ở đầu

Trang 21

đoạn văn hoặc cuối đoạn văn nhằm mục đích liên kết đoạn có chứa nó với đoạn khác. Nội dung thông tin chứa trong câu nối này hoặc đã được đề cập đến ở đoạn trước hoặc sẽ được trình bày kĩ ở đoạn văn sau. Giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh viết các dạng câu nối khác nhau, đựa ra những ví dụ

cụ thể để học sinh dễ hình dung về việc sử dụng câu nối. Dưới đây là một vài

ví dụ về câu nối các đoạn trong bài văn nghị luận (những câu gạch chân đóng vai trò phần nối kết với đoạn văn trước hoặc sau đó):

+ … Như trên đã nói, tác phẩm       Vợ nhặt       của nhà văn Kim Lân thực sự    

là một bài ca của lòng nhân ái. Điều đó sẽ khơi lên bao suy tư trong lòng bạn đọc về cuộc đời. Phải chăng: Chỉ có tình người mới cứu vớt được con người trong những hoàn cảnh khó khăn và cũng chỉ có tình người mới đủ khả năng

để che chở, bảo vệ cho những hạt ngọc thiện tính lấp lánh trong tâm hồn mỗi con người ?

(Trích bài viết của HS - Đề bài: Từ tác phẩm Vợ nhặt của

Kim Lân hãy trình bày suy nghĩ của mình về vẻ đẹp của tình người trong cuộc sống)

+ Nếu  tình   bạn  trong   bài  thơ       Khóc Dương Khuê       (Nguyễn   Khuyến)     được khẳng định qua hành trình dài gắn bó, song hành của hai người bạn; thì tình bạn trong cuộc sống hôm nay có biết bao biểu hiện phong phú. Ta có thể nhận ra vẻ đẹp của tình bạn trong một cái nắm tay động viên, một ánh mắt tin tưởng, một khoảnh khắc bên nhau để cùng chia sẻ niềm vui hay những nỗi buồn…

(Trích bài viết của HS - Đề bài: Từ bài thơ Khóc Dương Khuê của   Nguyễn   Khuyến   nghĩ   về   tình   bạn   trong   cuộc

sống hôm nay) Nhìn chung có nhiều cách chuyển ý/ chuyển đoạn khác nhau; sự đa dạng này tạo cơ hội chọn lọc cách diễn đạt phù hợp với văn phong của từng người.

b. Tổ chức điểm nhìn cho bài văn:

Điểm nhìn trong bài văn nghị luận tất nhiên không thể phong phú đa dạng như điểm nhìn trong tác phẩm văn chương. Việc lựa chọn điểm nhìn có liên quan tới việc thể hiện thái độ, bày tỏ cảm xúc làm nên sức hấp dẫn cho bài văn. Trong văn nghị luận, thường thì người viết luôn kết hợp điểm nhìn bên ngoài (để tạo tính chất khách quan, khoa học) với điểm nhìn bên trong (để thể hiện sự đồng cảm và sự tâm huyết, say mê) đối với vấn đề cần bàn luận. Điểm nhìn bên ngoài thường được lựa chọn khi lí giải, phát biểu cảm xúc, suy nghĩ về vấn đề. Khi thể hiện điểm nhìn bên ngoài, người viết là người

Ngày đăng: 13/02/2023, 08:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. (Ân). Lại Nguyên Ân, 150 Thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Công văn số 5466/BGD&ĐT - GDTrH/2013 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2013 - 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 5466/BGD&ĐT-GDTrH/2013 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2013 - 2014
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
4. (Cường). Nguyễn Văn Cường - Bernd Meireir, Lý luận dạy học hiện đại, Posdam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Nhà XB: Đại học Potsdam
Năm: 2009
5. (Hoan). Hà Thúc Hoan, Làm văn nghị luận: lý thuyết và thực hành, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn nghị luận: lý thuyết và thực hành
Tác giả: Hà Thúc Hoan
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
6. (Mai). Hoàng Thị Mai, Phương pháp dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam, H. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn nghị luận ở trường phổ thông
Tác giả: Hoàng Thị Mai
Nhà XB: Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. (Mạnh). Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Muốn viết được bài văn hay, NXB Giáo dục, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết được bài văn hay
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
8.   (Mạnh).   Nguyễn   Đăng   Mạnh, Điều quan trọng là phải sống sâu sắc. Tuyển tập 15 năm Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tập hai, NXB Giáo dục,2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập 15 năm Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tập hai
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. (Ninh). Nguyễn Quang Ninh, Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Nhiều tác giả, Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận, NXB Giáo dục, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
11. (Thống). Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Dạy và học nghị luận xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam, H.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học nghị luận xã hội
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
13. (Thống). Đỗ Ngọc Thống, Dàn bài làm văn 11, NXB Giáo dục Việt Nam, H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dàn bài làm văn 11
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
14. (Thống). Đỗ Ngọc Thống, Dàn bài làm văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam, H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dàn bài làm văn 12
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
15. (Thống). Đỗ Ngọc Thống, Hệ thống đề mở Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam, H.2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đề mở Ngữ văn 12
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
16. Sách giáo khoa, Sách giáo viên Ngữ văn 10, 11, 12 (Cơ bản và Nâng cao)17. (Quyên). Bảo Quyên, Rèn kĩ năng làm văn nghị luận, NXB Giáo dục, H.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận
Tác giả: Bảo Quyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
1. (A). Lê A (Chủ biên), Thực hành Làm văn lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam, H. 2009 Khác
12. (Thống). Đỗ Ngọc Thống, Dàn bài làm văn 10, NXB Giáo dục Việt Nam, H.2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w