1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn chuyên đề hình tượng người lính trong thơ văn kháng chiến chống pháp và chống mỹ

17 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng Người lính trong thơ văn kháng chiến chống pháp và chống mỹ
Tác giả Trần Thị Việt Hà
Trường học Trường THCS Tam Đảo - Tam Đảo - Vĩnh Phúc
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2011-2012
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 479,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người giáo viên với tiêu chí “Dạy làm người trước khi dạy chữ” SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM ĐẢO  Héi th¶o trao ®æi kinh nghiÖm BỒI DƯỠNG HSG MÔN NGỮ VĂN 9 HÌNH T[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC PHềNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM ĐẢO

- -Hội thảo trao đổi kinh nghiệm BỒI DƯỠNG HSG MễN NGỮ VĂN 9 HèNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VĂN KHÁNG CHIẾN

CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ

(6 TIẾT)

Họ và tờn giỏo viờn: TRẦN THỊ VIỆT HÀ.

Tổ chuyờn mụn: Khoa học xó hội.

Trường THCS Tam Đảo - Tam Đảo - Vĩnh Phỳc

Năm học 2011 -

2012 Năm học 2011 - 2012

Trang 2

Người giỏo viờn với tiờu chớ “Dạy làm người trước khi dạy chữ”

Dạy văn : Dạy kĩ năng sống Bởi: văn học là nhõn học KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HSG MễN NGỮ VĂN 9 HèNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VĂN KHÁNG CHIẾN CHỐNG

PHÁP VÀ CHỐNG MỸ

PHẦN I : KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HSG MễN NGỮ VĂN 9

A Giới thiệu vấn đề

Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, mà cuộc sống bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú Mỗi tác phẩm văn chơng là một mảng cuộc sống đã đợc nhà văn chọn lọc phản ánh.Vì vậy môn văn trong nhà trờng có một vị trí rất quan trọng : Nó là vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của con ngời, nó bồi đắp cho con ngời trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn M.Goóc- Ki nói : ''Văn học giúp con ngời hiểu đợc bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở con ngời khát vọng hớng tới chân lý".Văn học "Chắp đôi cánh" để các em

đến với mọi thời đại văn minh, với mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống , con ngời, trang bị cho các em vốn sống, hớng các em tới đỉnh cao của chân, thiện mỹ

B Nội dung

1 í nghĩa

Công tác bồi dỡng học sinh giỏi ở trờng THCS có ý nghĩa thật to lớn

Nó góp phần đào tạo một lực lợng lao động đặc biệt của xã hội, lao

động sáng tạo nghệ thuật Nó phát hiện ra những tài năng ,nhân tài cho đất nớc.Phát hiện và bồi dỡng kịp thời năng lực cảm thụ văn

ch-ơng là thể hiện sâu sắc tinh thần nhân văn cao đẹp của chế độ

ta, của các nhà giáo Và vì vậy nó kích thích cổ vũ ý thức ,tinh thần,thái độ học tập của học sinh Khác với môn học khác, trong dạy học tác phẩm văn chơng ,những học sinh có năng khiếu thật sự, nhiều khi có những phát hiện về tác phẩm mà giáo viên không thể ngờ tới Vì vậy công tác này còn là việc làm thiết thực góp phần nâng cao ý thức và trình độ chuyên môn ,trình độ nghiệp vụ cho giáo viên

2 Một số hỡnh thức bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9

a Những yờu cầu cú tớnh nguyờn tắc

- Việc bồi dỡng học sinh giỏi phải gắn liền với giáo dục t tởng, đạo

đức, các em vừa đợc bồi dỡng và phát huy năng khiếu vừa đợc có ý thức học tập và học tập nghiêm túc các môn học khác

Trang 3

-Tránh các khuynh hớng ''Nuôi gà chọi’’, ''Thành tích chủ nghĩa’’, ''Tính thời vụ’’

- Phải động viên đợc sự quan tâm của tập thể học sinh, nhất là giúp

đỡ ,động viên của gia đình và các đoàn thể địa phơng đối với việc bồi dỡng học sinh năng khiếu Đồng thời bản thân học sinh có năng khiếu, phải phát huy đợc vai trò tích cực đối với việc học tập của tập thể

b Một số biện phỏp và hỡnh thức bồi dưỡng

-Tổ chức kiểm tra năng lực, năng khiếu của học sinh:

-Kiểm tra khả năng nắm kiến thức cơ bản của học sinh.

-Hớng dẫn học sinh phơng pháp, kỹ năng làm bài

-Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập để rèn luyện kỹ năng.

-Kết hợp tập làm văn với việc bồi dỡng kiến thức tiếng Việt

-Tổ chức cho học sinh nhận xét văn ngời và sửa văn mình -Thảo luận trao đổi, giải đáp thắc mắc

c.Những kinh nghiệm để học tốt mụn văn:

1 Đọc truyện ngắn, tiểu thuyết

2 Khảo sỏt thực tế

3 Biến tiết học Văn trở nờn thỳ vị

4 Soạn bài trước ở nhà

5 Nghỉ ngơi

6 Nghe thầy cụ giảng

7 Rốn luyện cỏch làm bài văn nghị luận kết hợp với những phương thức khỏc

8 Hệ thống lại cỏc tri thức về tỏc giả, tỏc phẩm trong toàn bộ chương trỡnh (tập trung vào lớp 9)

9 ễn tập những nội Nắm vững cỏc biện phỏp nghệ thuật tu từ

10.dung văn học theo chủ đề Vớ dụ: Người phụ nữ, anh bộ đội, cụ thanh niờn xung phong

11.Sưu tầm cỏc đề thi cho HS làm thử

12.ễn và luyện tập cỏch dựng dấu cõu thế nào cho hiệu quả

13.ễn và rốn kỹ năng dựng từ, đặt cõu chớnh xỏc, hay

14.Kỹ năng viết đoạn văn

15.Hướng dẫn và rốn khả năng cảm thụ văn học

16.Đọc:

-Cỏc bài văn hay

-Cỏc bài phờ bỡnh văn học liờn quan đến cỏc tỏc phẩm cú trong chương trỡnh học tập và một số bài viết khỏc đặc sắc (GV gợi ý)

-Cỏc tỏc phẩm văn học cú trong chương trỡnh và cỏc tỏc phẩm văn học nổi tiếng phự hợp với cỏc em

-Đọc cú ghi chộp và nhận xột

Trang 4

Ngoài những kinh nghiệm trờn, tụi thiết nghĩ cũng cần phải cú ớt nhất hai tiết giỳp cỏc

em cú những kiến thức cơ bản về "Lớ luận văn học", để trong quỏ trỡnh làm bài cỏc em dựng từ cho chớnh xỏc ( vd như : phõn biệt hỡnh ảnh hỡnh tượng, chủ đề - đề tài, chức

Để rốn luyện năng lực cảm thụ văn học, tụi thường đưa ra những bài thơ, đoạn văn lạ ( khụng cú trong chương trỡnh học) để học sinh trỡnh bày cảm nhận

Để kớch thớch khả năng tư duy sỏng tạo, tụi đưa ra những vấn đề mang tớnh chất so sỏnh ( hai tỏc giả cựng thời , hai tỏc phẩm cựng chủ đề, hai khuynh hướng sỏng tỏc ) Núi chung, cụng tỏc bồi dưỡng học sinh giỏi Văn khỏ phức tạp, cả thầy và trũ cựng

cú sự đam mờ thỡ mới đạt được kết quả

C Kết luận

- Không đợc ép buộc học sinh, phải để học sinh tự chọn môn học mà mình yêu thích và có năng khiếu về môn đó

- Những giáo viên đợc phân công giảng dạy bồi dỡng phải có kế hoạch , chơng trình cụ thể, tránh dạy chay, thích gì dạy nấy

- Phải thật sự nhiệt tình say mê, tận tụy với học sinh

PHẦN II HèNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VĂN KHÁNG CHIẾN CHỐNG

PHÁP VÀ CHỐNG MỸ Với đề tài người lớnh, cỏc thầy cụ bồi dưỡng học sinh bắt đầu từ đõu

và như thế nào?

I-PHƯƠNG PHáP:

1-Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng(Cho HS xem phim,nghe ca

nhạc,xem tranh ảnh ,nghiờn cứu cỏc tỏc phẩm đó học trong chương trỡnh ,lĩnh hội,cảm thụ, làm bài.)

2-Cung cấp tài liệu (Dẫn chứng)

a-Trong chương trỡnh ngữ văn 9:

Thơ : Đồng chớ, bài thơ về tiểu đội xe khụng kớnh, ỏnh trăng, khỳc hỏt ru…

Truyện: Chiếc lược ngà, những ngụi sao xa xụi…

b-Mở rộng :

Bài:Tõy Tiến,Hoan hụ chiến sỹ Điện Biờn,Dỏng đứng Việt Nam …

-GV cần giỳp HS tỡm ra những nội dung quan trọng và những tớn hiệu nghệ thuật độc

đỏo và đặc sắc của từng tỏc phẩm để từ đú HS xoỏy sõu vào làm bài

3-Cỏch khai thỏc và sử dụng dẫn chứng

-Dẫn chứng phải theo tiến trỡnh lịch sử

-Chọn dẫn chứng tiờu biểu và đặc sắc

-Trỏnh liệt kờ dẫn chứng mà khụng biết khỏi quỏt nội dung

-Biết cảm thụ cỏi hay cỏi đẹp của dẫn chứng

II-NỘI DUNG

Trang 5

1.Văn học giai đoạn1945-1975 đó ghi lại được những hỡnh ảnh khụng thể phai mờ của một thời kỳ lịch sử đầy gian lao, hy sinh nhưng hết sỳc vẻ vang của dõn tộc

Đã hàng nghìn năm lịch sử trôi qua tiếng thơ vẫn là tiếng nói

t-ơi trẻ nhất của đời sống Nhà phê bình văn học Nga V Bi-ê-lin-xki đã

viết: “Thơ trớc hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật Phục vụ cuộc sống, phục vụ con ngời là mục đích lớn nhất của thơ chân chính” Chính những chi tiết chân thực, sống động của cuộc đời

đã khơi dậy những tình cảm sâu sắc, mới mẻ cho các nhà thơ Và cuộc chiến đấu gian lao của dân tộc ta trong suốt ba mơi năm ấy

đã khơi nguồn sáng tạo cho thơ ca, đem đến cho văn học Việt Nam thời kì này những tác phẩm thơ giàu giá trị phản ánh hiện thực Đó

là những tác phẩm bám sát thực tế đời sống dân tộc, phản ánh chân thực và sinh động hiện thực cuộc sống vĩ đại của nhân dân

ta trong hai cuộc kháng chiến và trong công cuộc xây dựng đất nớc

ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa

Cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm trờng kì là nguồn đề tài vô tận của thơ ca kháng chiến Bám sát thực tế, thơ ca thời kì này đã phản ánh cuộc sống gian lao của dân tộc ta trong những ngày đầu kháng chiến Các tác giả đã khai thác những chi tiết, hình

ảnh tự nhiên, bình dị mà giàu sức biểu cảm của cuộc đời Họ đã tìm thấy chất thơ ngay trong cái bình dị, bình thờng, gắn văn học với hiện thực đời sống kháng chiến gian khổ của nhân dân:

“áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cời buốt giá

Chân không giày.”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Đoạn thơ thật đến từng chi tiết, hình ảnh đã tái hiện lại cuộc sống gian khổ, thiếu thốn của cuộc đời quân ngũ Thiếu vũ khí,

thiếu quân trang, thiếu lơng thực, thuốc men ngời lính ra trận “áo vải chân không” rách tả tơi, ốm đau bệnh tật, sốt rét rừng:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run ngời vầng trán đẫm mồ hôi”

Chỉ cần mấy câu ngắn gọn hình ảnh anh bộ đội thời chống Pháp hiện lên rõ nét và điển hình Khó khăn, vất vả, thiếu thốn

nh-ng điều đó sẽ đợc giảm đi rất nhiều vì giữa họ có cái ấm áp của tình ngời Cái tình ấy đợc bồi đắp từ cuộc sống “đồng cam cộng

khổ” Chỉ có nơi nào gian khó, chia chung “áo anh”, “quần tôi”, mới

tìm thấy cái thực sự của tình ngời:

“Thơng nhau tay nắm lấy bàn tay”

Trang 6

Không nói lời hoa mỹ, không lý lẽ, giải trình mà chỉ có tình yêu giữa những ngời đồng đội mới tạo nên sức mạnh vô địch mà kẻ thù phải khiếp sợ Chính họ là những ngời đã trải qua:

“ Năm mơi sáu ngày đêm

Khoét núi Ngủ hầm

Ma dầm Cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng, chí không mòn.“

(Hoan hô chiến sỹ Điện Biên – Tố Hữu)

để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy non sông, chấn

động địa cầu, làm nên Vành hoa đỏ và thiên sử vàng cho dân

tộc

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi nhng một nửa đất nớc vẫn còn chìm trong bóng đêm của chế độ Mĩ - Nguỵ Để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, thơ ca đã theo kịp bớc đi của lịch sử, ghi lại những trang sử hào hùng của cả dân tộc ta thời đánh Mĩ Bài thơ

Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật viết năm

1969 nhng hơn ba mơi năm sau ngời đọc vẫn cảm thấy hừng hực không khí chiến trờng và khí thế ra trận của những binh đoàn vận tải quân sự Tác giả đã làm sống dậy một thời gian khổ oanh liệt của những anh bộ đội Cụ Hồ Trờng Sơn ở đó có cái dữ dội, khốc liệt của chiến tranh: chiếc xe vận tải mang đầy thơng tích không mui, không đèn, thùng xe lại bị xớc Nhng ở đó lại tồn tại những tiểu

đội xe không kính nh những gia đình nhỏ:

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đờng xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

Nhà thơ đã ghi lại chân thực nhịp sống thời chiến bằng những hình ảnh thật đặc sắc, điển hình Bếp lửa nh tín hiệu gọi nhau

về xum họp, rồi võng mắc chông chênh chung bát đũa Bữa cơm dã chiến chỉ có bát canh rau rừng, lơng khô mà đoàng hoàng, đậm

đà tình nghĩa Trải qua mấy trăm cây số đờng rừng ma bom bão

đạn, họ gặp nhau trong chốc lát, chỉ kip Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi để rồi lại tiếp tục lên đờng theo tiếng gọi của tiền

ph-ơng “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”

Nhà thơ Vũ Quần Phơng đã nhận xét: “Chỗ đặc sắc trong thơ Phạm Tiến Duật : lấy cuộc sống để nói tình cảm Cái đặc sắc tình cảm trong thơ anh phải tìm trong cuộc sống, không tìm trong

Trang 7

chữ nghĩa” Quả thật, thơ của ông có giọng chắc khoẻ, đợm chất

văn xuôi - một giọng thơ riêng biệt, mới mẻ trong nền thơ chống Mĩ Những hình ảnh trần trụi, những từ ngữ thờng ngày, những sự vật không nên thơ chút nào lại toả sáng trong thơ ông Những chiếc xe không kính là một sáng tạo độc đáo của Phạm Tiến Duật vì xa nay

ít có hoặc ít thấy loại xe nh thế đi lại trên đờng Thế mà trên tuyến

đờng Trờng Sơn có hàng nghìn, hàng vạn chiếc xe nh thế Thật

độc đáo, thật li kì Đó chính là sự khốc liệt, dữ dội của chiến tranh

đợc toát ra từ hình ảnh này Trong bài thơ còn có những câu mang dáng vẻ thô mộc, bình dị rất lính tráng thời trận mạc:

- Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

- Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng nh ngời già

- Không có kính ừ thì ớt áo

Ma tuôn ma xối nh ngoài trời

- Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xớc…

Nhng cũng có những câu thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Thấy con đờng chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Nh sa nh ùa vào buồng lái”

Chất hiện thực ngồn ngộn về đời sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của các chiến sĩ lái xe kết hợp hài hoà với cảm hứng trữ tình giàu chất sử thi đã tạo nên những vần thơ đầy ấn tợng Đọc lại bài thơ dờng nh ta vẫn nghe trong gió rít, bụi mù và bom nổ, tiếng cời nói râm ran, sôi nổi và trẻ trung của các anh lính lái xe Đây là khúc tráng ca anh hùng của anh bộ đội Cụ Hồ thời đánh Mĩ

2 Tiếng nói ngợi ca phẩm chất của con ngời Việt Nam

Lịch sử văn học dân tộc xét đến cùng là lịch sử tâm hồn của dân tộc ấy Lòng yêu nớc, tinh thần tự hào dân tộc là nét nổi bật trong tâm hồn ngời Việt Nam Nhng ở ngời Việt Nam, yêu nớc gắn liền với nhân đạo, nhân văn cao cả Điều này sẽ cắt nghĩa đợc vì sao một dân tộc luôn phải cầm gơm, cầm súng suốt mấy nghìn năm mà thơ văn lại nói nhiều đến nhân nghĩa, đến tình yêu, đến thân phận con ngời trong xã hội Yêu nớc và nhân đạo trở thành truyền thống lớn của con ngời Việt Nam, văn học Việt Nam, là huyết mạch thần kinh nhạy bén nhất của con ngời Việt Nam qua suốt trờng

kỳ lịch sử

a Lòng yêu nớc, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc

Trang 8

Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: “Dân tộc ta, dân tộc anh hùng”.

Văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chứa chan tình cảm yêu nớc và cao hơn không chỉ là yêu nớc mà là chủ nghĩa anh hùng của thời đại Cuộc chiến tranh nhân dân đợc phát huy cao độ đã tạo nên trên đất nớc này một chủ nghĩa anh hùng phổ biến trong toàn dân ấy là thời kì “ra ngõ gặp anh hùng” Thơ ca Việt Nam thời kì này đã miêu tả đợc nhiều giá trị cao đẹp về nhân dân với lòng yêu nớc thiết tha, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc Hình ảnh nhân dân kháng chiến đợc miêu tả đậm nét và gợi cảm Từ ngời Vệ quốc quân “má vàng nghệ” đến những anh giải phóng quân hiên ngang bất khuất; từ những bà bủ, bà bầm đến những bà mẹ con mọn vừa địu con vừa giã gạo, trỉa bắp, chuyển lán đạp rừng; từ những em bé má đỏ bồ quân đến những cụ già tóc bạc cũng muốn lập chiến công Cả nớc thành chiến sỹ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Nhng có lẽ đẹp hơn cả là hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ Đây đợc xem nh nhân vật trung tâm, thể hiện khá tập trung những đặc

điểm của con ngời mới trong chiến đấu Trong thơ ca, họ không

phải là anh lính thời xa “áo đỏ đuôi gà”, “chân bớc xuống thuyền

n-ớc mắt nh ma” mà là anh lính thật thà, chân thật nhng dũng cảm,

kiên cờng Đọc bài thơ Đồng chí của Chính Hữu ta thấy hiện lên

hình ảnh chân thực mà cao đẹp của anh bộ đội trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn thiếu thốn Họ

là những ngời nông dân nghèo khổ từ “tứ xứ ” nghe theo tiếng gọi

thiêng liêng của Tổ quốc mà tạm xa quê hơng lên đờng chiến đấu

Họ “mặc kệ” quê nhà, gia đình, ngời thân và cả những gì rất đỗi

thân thuộc ở chiến trờng họ cùng chung mục đích, cùng chung lí t-ởng chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc; cùng chia sẻ gian lao

thiếu thốn của cuộc sống quân ngũ để “súng bên súng, đầu sát bên

đầu ” trở thành tri kỉ và cao hơn là thành đồng chí đồng đội kề

vai sát cánh bên nhau:

“Đêm nay rừng hoang sơng muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo ’’

Rừng hoang sơng muối không chỉ là một hiện thực mà cao

hơn đó là điều kiện thiên nhiên thử thách ngời lính Trớc hiện thực khốc liệt ấy họ vẫn đứng vững vàng với cây súng trong tay sẵn sàng chờ giặc tới Đây là hành động sẵn sàng chiến đấu vì lí tởng cao đẹp, vì độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc Với cây súng trong tay, các anh trở thành linh hồn của đất nớc Chính Hữu đã tạc bức tợng đài về ngời chiến sỹ cách mạng từ tình đồng chí Từ

Trang 9

những ngời lính nông dân nghèo khổ “áo vải chân không” đợc

tình cảm cách mạng cao đẹp nâng bớc họ mang trong mình dáng hình mới - dáng đứng Việt Nam ở thế kỉ XX anh dũng, hiên ngang, bất khuất, kiên cờng Sự sáng tạo của Chính Hữu là ở chỗ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nớc của thơ văn yêu nớc thời kỳ trớc để làm mới, làm đẹp cho hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ

Vẫn là những anh lính Việt Nam nhng đến bài thơ Tiểu đội

xe không kính của Phạm Tiến Duật lại có một thái độ, t thế, tình

cảm, khí phách mới mang tính hiện đại của những con ngời không

phải chờ giặc mà là “tìm giặc” để đánh “nhằm thẳng quân thù

mà bắn” Thế hệ các anh là thế hệ của những Nguyễn Văn Thạc,

Đặng Thuỳ Trâm đã có thời mộng mơ, sôi nổi trên ghế nhà trờng nay hăm hở ra đi chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất

nớc với một lòng yêu nớc rực lửa: “Xẻ dọc trờng Sơn đi cứu nớc” Con

đờng Trờng Sơn đợc coi là một con đờng huyền thoại trong cuốn sử vàng đánh Mĩ Hàng triệu tấn bom của giặc Mĩ dội xuống làm biến dạng chiếc xe quân sự: không kính, không đèn, không mui Nhng ngời lính vẫn dũng cảm, can trờng trong t thế:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Một t thế ung dung tới mức ngang tàng của ngừơi lính lái xe Một sự tự tin, niềm kiêu hãnh của những con ngời rất đỗi tự hào về

sứ mệnh của mình - sứ mệnh giải phóng đất nớc:

“Xe vẫn chạy vì miền Nam ruột thịt Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Hình ảnh hoán dụ “trái tim” là biểu tợng của ý chí, của bản

thân, của bầu nhiệt huyết, của khát vọng tự do, hoà bình cháy bỏng trong trái tim ngời chiến sĩ Cho dù xe không kính, không đèn, không mui thì ngời lính vẫn còn một trái tim yêu nớc, một lòng khát khao giải phóng miền Nam cháy bỏng Phạm Tiến Duật mang theo cái nhìn của tuổi trẻ Việt Nam anh hùng, của những ngời lính trờng Sơn đã tạo dựng bức tợng đài ngời lính với nét ngang tàng, dũng cảm tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Thơ ca Việt Nam 1945 – 1975 đẫ dựng đợc những đài kỉ niệm kì vĩ, ghi lại những chiến công về lòng yêu nớc của con ngời Việt Nam anh hùng Vì độc lập tự do của dân tộc, biết bao thế hệ con ngời Việt Nam đã ngã xuống tô thắm thêm lá cờ đào của Tổ

quốc, trong đó có cả những em bé “tuổi nhỏ chí cao” Đọc thơ ca

chống Pháp, ngời đọc mãi khắc sâu hình ảnh một chú đội viên nhỏ

bé, nhanh nhẹn, hồn nhiên và vô cùng dũng cảm trong thơ Tố Hữu:

Trang 10

“Cháu bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh”

Đó là chú bé Lợm đáng yêu Nhng đáng yêu, đáng khâm phục hơn là ý chí quả cảm của ngời chiến sĩ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Với em, nhiệm vụ chiến đấu là trên hết, trớc hết Trớc gian

nguy, khi khói lửa mịt mù “đạn bay vèo vèo”, em không chần chừ,

nhụt chí:

“Th đề “thợng khẩn”

Sợ chi hiểm nghèo”

Sự ác liệt của chiến tranh đã không trừ một ai kể cả những em nhỏ cha thành ngời lớn Lợm tự nguyện bớc vào cuộc đời chiến đấu

và chấp nhận hi sinh, hi sinh anh dũng:

“Bỗng loè chớp đỏ Thôi rồi, Lợm ơi!

Chú đồng chí nhỏ Một dòng máu tơi”

Trong vần thơ có cái đau đớn, rụng rời, có tiếng khóc nức nở của nhà thơ Chắc chắn sẽ không tìm thấy ở đâu có một đài tởng niệm nào đẹp hơn đài tởng niệm về ngời anh hùng nhỏ tuổi dám xả thân vì quê hơng, đất nớc nh trong bài thơ này:

“Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng”

Tố Hữu đã đặt nhân vật anh hùng vào bối cảnh thiên nhiên, một thiên nhiên thuần phác, trẻ trung ngọt ngào, quen thuộc Đó là nơi

ra đi chiến đấu cũng là bờ bến trở về lúc hi sinh Đó chính là quê

h-ơng, đất nớc thân yêu của em

Đất nớc Việt Nam ta nh đẹp hơn, đợc tăng thêm sức mạnh khi có những em bé dũng cảm, gan dạ nh Lợm và khi có những ngời mẹ

địu con tham gia kháng chiến Khúc hát ru những em bé trên

l-ng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm là một tợl-ng đài bằl-ng thơ khắc hoạ

hình ảnh ngời mẹ Việt Nam anh hùng trong kháng chiến chống Mĩ cứu nớc Với ngời mẹ Tà Ôi, ngoài việc nuôi con nên ngời thì đánh giặc giải phóng quê hơng là điều trọng đại nhất của ngời mẹ trong những năm cả nớc gồng mình chống đế quốc Mĩ xâm lợc Tất cả

những công việc mà mẹ làm nh giã gạo, tỉa bắp, chuyển lán, đạp rừng đều vì việc chung, vì làng xóm, vì sự nghiệp cách mạng Và

Ngày đăng: 13/02/2023, 08:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w