Thuyết minh giải pháp mới, cải tiến: - Trong thực tiễn nhiều năm dạy học ở trường phổ thông, tôi thấy bài tậphóa học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo.Bà
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC DẠNG BÀI TẬP CƠ BẢN CỦA DUNG DỊCH
BAZƠ
Lĩnh vực: HOÁ HỌC
Tháng 4/ 2018
Trang 2MỤC LỤC
BÌA
MỤC LỤC
BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẦN MỞ ĐẦU
I Bối cảnh của đề tài: II Lí do chọn đề tài: III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: IV Mục đích nghiên cứu V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
II Thực trạng vấn đề
III Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề
IV Hiệu quả mang lại của sáng kiến
V Khả năng áp dụng và triển khai
VI Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN KẾT LUẬN
I Những bài học kinh nghiệm
II Những kiến nghi đề xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC VIẾT TẮT
1 2 3 6 6 6 6 6 6 7 7 7 8 34 35 35 36 36 36 35 1
SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm
THCS: Trung học cơ sở
K/S : Khảo sát
SL : Số lượng
TN : Thí nghiệm
Trang 3BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm 2018
1 Tên sáng kiến: "Các dạng bài tập cơ bản của dung dịch bazơ"
2 Mô tả ngắn gọn các giải pháp cũ thường làm:
Giải các bài tập riêng lẻ theo từng bài, bài tập độc lập riêng ở các mức
độ trung bình, khá, giỏi Các bài tập chưa có mối liên quan với nhau Cácbài tập chưa được chú ý nhiều đến nội dung tích hợp, liên môn và chủ đề
3 Mục đích của giải pháp:
- Giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học, học sinh đổi mớiphương pháp học tập, đặc biệt gây hứng thú học tập môn Hóa học cho họcsinh
- Giúp học sinh dễ học, tốn ít thời gian nhưng hiệu quả cao hơn
- Học sinh có thể tự đánh giá kết quả bản thân và giáo viên đánh giá phânloại học sinh chính xác hơn
4 Bản mô tả giải pháp sáng kiến:
4.1 Thuyết minh giải pháp mới, cải tiến:
- Trong thực tiễn nhiều năm dạy học ở trường phổ thông, tôi thấy bài tậphóa học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo.Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung lại vừa là phương phápdạy học hiệu quả Nó không những cung cấp cho học sinh kho tàng kiếnthức, mà còn mang lại niềm vui cho công việc tìm tòi, phát hiện khám phátrong học tập cũng như trong cuộc sống thường nhật Đặc biệt bài tập hóahọc còn mang lại cho học sinh một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhậnthức tự giác Đây là một yếu tố tâm lý quan trọng của quá trình nhận thứcđang được chúng ta quan tâm
- Việc phân loại bài tập đi song song với phân loại học sinh, nhằm hướngdẫn cho học sinh phương pháp học tập bộ môn theo hướng đổi mới dạy họctheo chủ đề - tích hợp liên môn - mô hình trường học mới
- Trong đề tài này tôi minh họa phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 9phân loại “ Các dạng bài tập cơ bản của dung dịch bazơ” dựa trên các tínhchất hóa học của dung dịch bazơ:
+ Dung dịch bazơ tác dụng với oxit axit
+ Dung dịch bazơ tác dụng với oxit axit
+ Dung dịch bazơ tác dụng với oxit lưỡng tính
+ Dung dịch bazơ tác dụng với dung dịch muối
+ Dung dịch bazơ tác dụng với phi kim halogen
4.2 Thuyết minh về hiệu quả mang lại:
- Trong học tập hoá học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển
tư duy cho học sinh là hoạt động giải bài tập Giáo viên hướng dẫn cácdạng bài tập, tạo điều kiện thuận lợi và tình huống có vấn đề để học sinhchủ động phát triển năng lực tư duy sáng tạo mới, thể hiện ở: Năng lực pháthiện vấn đề mới - Tìm ra hướng mới - Tạo ra kết quả học tập mới
- Phân dạng bài tập dựa vào tính chất hóa học đáp ứng với phương phápdạy học mới: Dạy học theo chủ đề - Trải nghiệm sáng tạo - Tích hợp liênmôn - Dạy học theo mô hình trường học mới
Trang 4- Thực hiện phát triển tư duy cho học sinh thông qua các dạng bài tập hoáhọc điều mà tôi tâm đắc nhất vì không khí lớp học vui vẻ sôi nổi nhưngnghiêm túc Tôi đã kết hợp cho điểm khuyến khích nên mặc dù giải bài tập
là căng thẳng nhưng tinh thần nét mặt các em luôn tỏ ra vui tươi phấn khởi,ngay từ đầu tiết học sự đón tiếp nồng nhiệt của các em làm tôi càng đa mê
và yêu nghề hơn Để kiểm nghiệm thực tế tôi đã đầu tư khảo sát đối tượngnghiên cứu thu được kết quả sau:
Bảng 1: Kết quả các lần khảo sát học sinh khối 9 khi chưa áp dụng đề tài.Lớp Sĩ số Số lầnK/S Giỏi Khá Trung bình
Bảng 2: Kết quả các lần khảo sát học sinh khối 9 khi đã dụng đề tài
4.3 Thuyết minh về lợi ích kinh kế, xã hội của sáng kiến:
Trang 5- Thông qua hoạt động phân loại bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện
và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nângtầm hiểu biết thế giới của học sinh lên một tầm cao mới, góp phần cho quátrình hình thành nhân cách toàn diện của học sinh Đề tài này bản thân nuôi
ấp ủ từ lâu và được tiến hành thực hiện hàng năm có đánh giá kết quả vàđúc rút kinh nghiệm Giúp cho việc đánh giá học sinh chính xác và giúphọc sinh tiết kiệm thời gian để nghỉ ngơi luyện tập thể thao nâng cao thểlực hạn chế bệnh tật Học sinh không tốn nhiều thời gian công sức mà kếtquả học tập lại cao
Thời gian tự học giànhcho môn Hóa 9 ở nhà
Số lượng bài tập Hóa
9 giải đượcTrước khi áp dụng đề tài 10 tiết/tuần 15 bài/ tuầnSau khi áp dụng đề tài 06 tiết/tuần 25 bài/ tuần
- Kết quả vừa nâng cao chất lượng đại trà vừa nâng cao chất lượng mũinhọn và đặc biệt là gây hứng thú học tập cho học sinh
4.4 Thuyết minh về tính khả thi, khả năng phổ biến, nhân rộng
- Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
vì vậy áp dụng cho mọi đối tượng học sinh và tất cả các trường THCS Căn
cứ vào đối tượng học sinh để lựa chọn mức độ phù hợp Đối với học sinhđại trà cần làm được 50% mỗi bài, 50% còn lại dành cho đối tượng họcsinh khá giỏi Tuy nhiên tùy nội dung bài dạy cụ thể, giáo viên cần lựachọn bài tập và sử dụng phương pháp cho phù hợp, mới phát huy được khảnăng tư duy của các em ở mức độ cao nhất, đem lại hiệu quả tốt nhất
- Với sáng kiến kinh nghiệm này có thể dùng cho tất cả các giáo viên dạymôn hóa học ở cấp THCS tham khảo trong quá trình giảng dạy, nhằm khắcsâu nội dung bài học, phát huy tính sáng tạo ở học sinh, nâng cao chấtlượng giảng dạy đại trà và mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu dạy học mới
4.4 Các tài liệu, hồ sơ gửi kèm:
02 bản cứng báo cáo sáng kiến, 01 bản mềm báo cáo sáng kiến
4.5 Cam kết không sao chép, vi phạm bản quyền:
Tôi xin cam đoan các giải pháp mà tôi trình bày trong sáng kiến khôngsao chép ở bất kì tài liệu nào, lần đầu được công bố tháng 5 năm 2017 sau
đó qua quá trình giảng dạy, rút kinh nghiệm thông qua dự giờ, đọc tài liệu
và đặc biệt rút kinh nghiệm từ khóa học sinh năm học 2015 2016, 2016
-2017 tôi đã bổ sung thêm các nội dung thiết thực và hữu ích để đề tài đượchoàn thiện hơn
Hà Tĩnh ngày 8 tháng 4 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Hường
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
I Bối cảnh của đề tài:
Môn Hóa học là một bộ môn được đưa vào chương trình THCS muộnnhất trong tất cả các môn học vì vậy thời gian để học sinh trải nghiệm vàđúc rút kinh nghiệm rất hạn hẹp Môn Hóa học cần tổng hợp nhiều kiếnthức của các môn học khác, luôn gắn liền với thực tiễn đời sống lao độngsản xuất, các ngành công nghiệp - nông nghiệp và có nhiều ứng dụng đốivới các ngành khoa học khác Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, công nghệ thông tin phát triển, nền kinh tế hội nhập hơn bao giờhết đòi hỏi con người năng động sáng tạo Vì vậy việc hình thành cho họcsinh kỹ năng phân tích tổng hợp, tư duy độc lập, bồi dưỡng phương pháp tựhọc và phát huy tính tích cực chủ động là cần thiết và cấp bách đối với tất
cả các môn học nói chung và môn Hóa học nói riêng Rèn luyện kỹ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống tác động đến tình cảm, manglại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh là việc vô cùng quan trọng
II Lí do chọn đề tài:
- Trong chương trình hoá học phổ thông tìm ra các dạng bài tập hoá
học là phương tiện hữu hiệu góp phần nâng cao khả năng tư duy sáng tạocho học sinh trong quá trình lĩnh hội, cũng cố và khắc sâu kiến thức
- Nhằm đáp ứng đổi mới hình thức thi học sinh giỏi của Sở giáo dục
và đào tạo vừa quan tâm hoạt động cá nhân vừa quan tâm hoạt động nhómđồng đội
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Trong phạm vi đề tài này tôi minh họa phương hướng xây dựng
“Các dạng bài tập cơ bản của dung dịch bazơ” với tham vọng dựa trên cơ
sở các dạng bài tập này tiếp tục xây dựng các dạng bài tập cho các hợp chấttiếp theo
- Học sinh THCS, đặc biệt học sinh có trình độ khá giỏi
IV Mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu chính là nâng cao trình độ tay nghề cho bản thân và bạn bè đồng nghiệp, nâng cao chất lượng học tập môn Hóa học nói riêng, chấtlượng văn hóa nói chung
- Nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay bao gồm bốn trụ cột
chính: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳngđịnh mình hay để làm người
- Cần đào tạo nhân lực nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội
- Đặc biệt đáp ứng với đổi mới phương pháp dạy học: Dạy học theo
chủ đề tích hợp liên môn, dạy học trải nghiệm sáng tạo và dạy học theo môhình trường học mới
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
- Hình thành các kỹ năng tư duy khoa học cho học sinh: Kỹ năng phân tích, suy luận, tổng hợp, lôgic; Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; Kỹnăng tư duy sáng tạo và phản biện; Kỹ năng tự học và tự học hiệu quả,
Trang 7- Hình thành nhân cách và kỹ năng sống: Kỹ năng tự lãnh đạo bản thân nhưtrung thực tự trọng tự tin; Kỹ năng đặt mục tiêu, tạo động lực, tổ chức cáchoạt động có hiệu quả; Kỹ năng ứng xử giao tiếp, quan hệ, lắng nghe, đàm phán, trình bày thuyết trình; Kỹ năng hoạt động nhóm, đồng đội,
PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận:
Để giúp học sinh tiếp thu kiến thức chủ động, vận dụng kiến thức linhhoạt cần xây dựng phương pháp học tập tích cực Một trong các phươngpháp học tập tích cực là phân dạng bài tập Phân dạng bài tập qua hai giaiđoạn, giai đoạn thứ nhất là phân dạng bài tập cho từng loại chất cụ thể:Dạng bài tập của oxit bazơ, dạng bài tập của oxit axit, dạng bài tập củabazơ, dạng bài tập của axit, dạng bài tập của muối, Sau đó phân dạngbài tập chung cho tất cả các chất gọi là chuyên đề: Chuyên đề nồng độdung dịch, chuyên đề xác định công thức hóa học, chuyên đề nhận biết,chuyên đề tách chất, chuyên đề tăng giảm khối lượng, Trong đề tài nàytôi đi sâu phân dạng bài tập cho từng loại chất cụ thể Thông qua kiến thứctrong từng chủ đề định hướng các dạng bài tập cơ bản bổ sung vào nộidung củng cố, vận dụng, tìm tòi và mở rộng Các dạng bài tập được xâydựng dựa trên ba mức độ trung bình, khá và giỏi Bài tập dành cho chohọc sinh trung bình và khá thường là bài toán thuận tính chất nhận biết,thông hiểu và vận dụng kiến thức ở mức độ thấp Bài tập dành cho học sinhgiỏi thường là vận dụng ở mức độ cao lấy kết quả bài thuận làm đề bài chobài toán đảo Việc lấy kết quả bài toán thuận làm đề bài cho bài toán đảovừa khắc sâu kiến thức cơ bản, vừa đễ tìm phương pháp giải hơn vì chuyểnbài tập khó trở thành bài tập đơn giản hơn, vừa có kết quả để kiểm tra đốichứng
II Thực trạng của vấn đề :
Qua thực tế việc xây dựng các dạng bài tập cho mỗi loại chất khôngphải một hai ngày, năm bảy tháng mà kéo dài từ năm này sang năm khácmỗi năm tích lũy kinh nghiệm bổ sung thêm Vì vậy sau một thời giangiảng dạy và phối kết hợp với học sinh quỹ kiến thức ngày càng hoàn thiệnhơn Theo xu hướng mới dạy học theo chủ đề, dạy học theo tích hợp liênmôn, day học theo mô hình trường học mới lại càng được phát huy lợi thếhơn bao giờ hết Thực trạng hiện nay học sinh tự học tự nghiên cứu hạnchế, đang trái ngược với xu hướng dạy học mới tự tìm tòi tự nghiên cứusáng tạo và trải nghiệm Vì thế bắt buộc giáo viên cần phải có kế sách gâyhứng thú học tập, tạo điều kiện thuận lợi và định hướng cho học sinh họctập Đối với học sinh mỗi lớp thông thường có ba đối tượng học sinh trungbình, học sinh khá và học sinh giỏi Cá biệt có năm có thêm đối tượng họcsinh yếu song đối tượng này thường phải đầu tư nhiều hơn để chuyển lênđối tượng trung bình Hàng năm tôi tiến hành kết hợp sách giáo khoa, sáchbài tập, sách tham khảo, đề thi hàng năm, để hình thành thành các dạngbài tập ở ba mức độ khác nhau theo hình bậc thang dễ trước khó sau, hướngdẫn cụ thể học sinh giải quyết được nội dung nào là đạt mức độ trung bình,mức độ khá và mức độ giỏi Song song với phân loại bài tập là phân loại
Trang 8học sinh, việc phân loại học sinh và lựa chọn dạng bài tập hoàn toàn khôngcứng nhắc mà căn cứ vào thực tế từng lớp và từng năm Đặc biệt đối vớicác môn ít tiết không có quỹ thời gian bồi dưỡng thêm, giáo viên cần chủđộng bồi dưỡng cho học sinh và hướng dẫn học sinh tự bồi dưỡng thôngqua các tiết dạy chính khóa Vì vậy việc xây dựng các dạng bài tập là cầnthiết trong xu hướng giáo dục hiện nay.
III Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:
- Trên cơ sở thực tiễn và lý luận đã phân tích ở trên tôi thấy việc rèn luyện
tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua các dạng bài tập hoá học là cầnthiết Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh là một quá trình liêntục, phức tạp trải qua nhiều giai đoạn, nhiều mức độ Vì thế cần hình thànhphương pháp học tập các em ngay từ bài học đầu tiên Trong hoạt động họctập nhận thức cần nâng dần từng bước từ thấp đến cao Cần rèn luyện họcsinh các dạng bài tập từ dễ đến khó Tôi đã đặt cho mình câu hỏi cần phảilàm gì để học sinh có thể giải bài tập một cách tốt nhất, trong thời giannhanh nhất Trả lời nhanh cho câu hỏi này là cần chọn các dạng bài tập chotừng tính chất rồi tổng hợp nâng dần các dạng bài tập của loại chất (oxit,axit, bazơ, muối, kim loại, hiđrocacbon, dẫn xuất hiđrocacbon ) và cácdạng bài tập nói chung cho môn Hóa học Hàng năm tôi thực hiện hướngdẫn cho học sinh phân dạng bài tập theo từng tính chất ngay đầu năm lớp 9
- Thực tế việc phân loại các dạng bài tập cho từng tính chất đầu tiên mất nhiều thời gian công sức, sau khi học sinh có kinh nghiệm tiến hành khá dễdàng và hiệu quả Trong đề tài này tôi minh họa phương pháp hướng dẫnhọc sinh lớp 9 phân loại “ Các dạng bài tập cơ bản của dung dịch bazơ”dựa trên các tính chất hóa học của dung dịch bazơ:
+ Dung dịch bazơ tác dụng với oxit (oxit axit và oxit lưỡng tính)
+ Dung dịch bazơ tác dụng với một số kim loại
+ Dung dịch bazơ tác dụng với bazơ lưỡng tính
+ Dung dịch bazơ tác dụng với dung dịch axit
+ Dung dịch bazơ tác dụng với dung dịch muối
Tính chất 1: Dung dịch bazơ tác dụng với oxit (oxit axit và oxit lưỡng tính).
- Lí thuyết:
+ Khi cho dung dịch bazơ tác dụng với một số oxit sản phẩm tạo thành phụthuộc tỉ lệ số mol của dung dịch bazơ và oxit (Chỉ tạo ra muối trung hòa,chỉ tạo ra muối axit, tạo ra hỗn hợp muối trung hòa và muối axit)
Ba(OH)2 + CO2 BaCO3 + H2O
Ba(OH)2 + 2CO2 Ba(HCO3)2
+ Khi cho lượng dung dịch bazơ hoặc lượng oxit tác dụng với nhau tạo radung dịch cô cạn dung dịch thu được m gam muối hoặc m gam chất rắn
Trang 9- Bài tập vận dụng:
D
ẠNG I :
- Khi cho dung dịch bazơ tác dụng với một số oxit sản phẩm tạo thành phụ thuộc tỉ lệ số mol của dung dịch bazơ và oxit (Chỉ tạo ra muối trung hòa, chỉ tạo ra muối axit, tạo ra hỗn hợp muối trung hòa và muối axit).
- Cho hỗn hợp oxitaxit tác dụng với dung dịch bazơ, oxitaxit có axit tương ứng mạnh hơn phản ứng trước phản ứng hết nếu kiềm dư thì oxitaxit tiếp theo mới phản ứng.
Dạng I A : Cho a (mol/ lit/ gam CO 2 , SO 2 , ) tác dụng dung dịch chứa b mol KOH, NaOH .
Cách giải thứ nhất theo cơ chế phản ứng
(1) Oxit axit + Dung dịch ba zơ Muối trung hòa + Nước
Nếu oxitaxit hết tính toán theo (1), nếu oxitaxit dư viết tiếp:
(2) Muối trung hòa + Oxit axit + Nước Muối axit
Tiếp tục tính toan theo (2)
Cách giải thứ hai xét tỉ lệ số mol của bazơ và số mol của oxit axit
theo 2 phương trình độc lập.
(1) Oxit axit + Dung dịch ba zơ Muối trung hòa + Nước
(2) Oxit axit + Dung dịch ba zơ Muối axit
Trang 10Cách giải này có ưu điểm giúp học sinh giải nhanh nhất các bài tập, bên cạnh đó có nhược điểm không giải được các bài tập ở mức độ giỏi.
Bài 2: Sục chậm 0,25 mol CO2 vào:
2.a 300 (g) dung dịch KOH 11,2% thu được dung dịch X
2.b 250 (g) dung dịch KOH 11,2% thu được dung dịch Y
2.c 200 (g) dung dịch KOH 11,2% thu được dung dịch Z
2.d 125 (g) dung dịch KOH 11,2% thu được dung dịch P
2.e 100 (g) dung dịch KOH 11,2% thu được dung dịch Q
Tính nồng độ phần trăm chất tan có trong các dung dịch X, Y, Z, P, Q.Hướng dẫn
Cách giải thứ nhất theo cơ chế phản ứng:
2.a
2 KOH + CO2 K2CO3 + H2O
Trước p/ư 0,6 0,25
Sau p/ư 0,1 0 0,25 0,25 (mol)
So sánh tính khối lượng dung dịch theo 2 cách: Cách 1 tính nhanh hơn2.b
2 KOH + CO2 K2CO3 + H2O
Trước p/ư 0,5 0,25
Sau p/ư 0 0 0,25 0,25 (mol)
2.c
Trang 12Sau p/ư 0 0,05 0,2 (mol)
Nhận xét: Câu d, e giải theo cách 2 nhanh hơn, ngắn gọn hơn.
Bài 3: Cho hỗn hợp x mol SO3 và y mol SO2 sục châm vào dung dịch chứa
a mol NaOH Hãy xác định muối trong dung dịch thu được theo x, y, a
NaOH + SO3 NaHSO4
a x x (mol)
Trang 13- Dung dịch chứa: a = x (mol) Na2SO4
Sau p/ư 0 a - 2x - y a - 2x (mol)
- Dung dịch chứa: x (mol) Na2SO4, a – 2x (mol) NaHSO3
Dạng 1 B : Cho a (mol/ lit/ gam CO 2 , SO 2 , ) tác dụng dung dịch chứa
b mol Ca(OH) 2 , Ba(OH) 2
Cách giải thứ nhất: Theo cơ chế phản ứng
(1) Oxit axit + Dung dịch ba zơ Muối trung hòa + Nước
Nếu oxitaxit hết tính toán theo (1), nếu oxitaxit dư viết tiếp:
(2) Muối trung hòa + Oxit axit + Nước Muối axit
Tiếp tục tính toan theo (2)
(1) CO2 + Ba(OH)2 BaCO3 + H2O
Nếu CO2 hết tính toán theo (1), nếu CO2 dư viết tiếp:
Trang 14(2) CO2 + BaCO3 + H2O Ba(HCO3)2
Cách giải này có ưu điểm giúp học sinh dễ hiểu bản chất phản ứng và thuậnlợi giải các bài tập ở mức độ giỏi, bên cạnh đó còn tồn tại một số trườnghợp giải dài dòng
Cách giải thứ hai xét tỉ lệ số mol của bazơ và số mol của oxit axit
theo 2 phương trình độc lập.
(1) Oxit axit + Dung dịch ba zơ Muối trung hòa + Nước
(2) Oxit axit + Dung dịch ba zơ Muối axit
Trang 15Bài
2 : Sục chậm 0,2 mol SO2 vào:
2.a 300 (g) dung dịch Ba(OH)2 17,1% thu được dung dịch X
2.b 200 (g) dung dịch Ba(OH)2 17,1% thu được dung dịch Y
2.c 150 (g) dung dịch Ba(OH)2 17,1% thu được dung dịch Z
2.d 100 (g) dung dịch Ba(OH)2 17,1% thu được dung dịch P
2.e 80 (g) dung dịch Ba(OH)2 17,1% thu được dung dịch Q
Tính nồng độ phần trăm chất tan có trong các dung dịch X, Y, Z, P, Q.Hướng dẫn
Cách giải thứ nhất theo cơ chế phản ứng:
2,a
Ba(OH)2 + SO2 BaSO3 + H2O
Trước p/ư 0,3 0,2
Sau p/ư 0,1 0 0,2 0,2 (mol)
So sánh tính khối lượng dung dịch theo 2 cách: Cách 1 tính nhanh hơn Chú ý tính khối lượng dung dịch trừ chất kết tủa
Trang 16Sau p/ư 0,04 0 0,08 (mol)
Chú ý tính khối lượng dung dịch chỉ cộng phần CO 2 phản ứng
Cách giải thứ hai nhận xét tỉ lệ số mol của Ba(OH )2 và CO 2
Sau p/ư 0 0 0,2 0,2 (mol)
Dung dịch Y không có chất tan
3
415,0
2,01
2
2
) (
mol n
n OH Ba
gọi nBaSO3 = x (mol) ; nBa(HSO3)2= y (mol)
Ba(OH)2 + SO2 BaSO3 + H2O
Trang 17Sau p/ư 0 0,04 0,08 (mol)
Nhận xét: Câu d, e giải theo cách 2 nhanh hơn, ngắn gọn hơn.
Bài 3: Sục chậm 0,25 mol CO2 vào 200 gam dung dịch hỗn hợp KOH5,6%, Ba(OH)2 8,55% phản ứng kết thúc thu được dung dịch X Tính nồng
độ phần trăm chất tan trong dung dịch X
Hướng dẫn:
- Hai chất cùng tác dụng với một chất, chất có sản phẩm có tạo ra kết tủahoặc thoát khí thì được ưu tiên phản ứng trước hết rồi đến chất có sản phẩmkhông có kết tủa hoặc thoát khí
- Hai chất cùng tác dụng với một chất, chất có hòa tan thuần túy trong nướcthì được ưu tiên phản ứng trước hết rồi đến chất không hòa tan trong nước
Trang 18Sau p/ư 0,06 0 0,2 (mol)
- Hướng dẫn: Dựa vào cơ chế phản ứng vẽ đồ thị
Bài 1: Sục chậm 0,84 lít CO2 (đkp) vào 1lít dung dịch Ca(OH)2 0,025 M
Vẽ đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc số mol kết tủa và số mol CO2
B
CaO
0,0250,015
0,025 0,035