Đặt vấn đề PHÒNG GD&ĐT HUYỆN THẠCH HÀ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC KỶ NĂNG GIAO TIẾP TRONG CÁC TIẾT ÔN TẬP “ LANGUAGE FOCUS ” CHO HỌC SINH THCS Người thực hiện Nguyễn Trung Sơn Đơn vị Trường THSC[.]
Trang 1PHÒNG GD&ĐT HUYỆN THẠCH HÀ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG CÁC KỶ NĂNG GIAO TIẾP TRONG CÁC TIẾT ÔN TẬP
“ LANGUAGE FOCUS ” CHO HỌC SINH THCS
Người thực hiện: Nguyễn Trung SơnĐơn vị: Trường THSC Thạch Hội
Thạch Hà, tháng 10 năm 2016.
=*=
MỤC LỤC
Trang 2
Trang 3 3 4 4 4 4 5 5 6 6 8 8 9 19 21 22 23 26 A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài………
2 Đối tượng nghiên cứu………
3 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu………
4 Giả thuyết khoa học………
5 Phương pháp nghiên cứu………
6 Dự báo đóng góp của đề tài………
7 Cấu trúc của đề tài.………
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………
Chương 1 Cơ sở lý luận………
Chương 2 Cơ sở thực tiển………
I Thực trạng………
II Giải pháp thực hiện………
III Áp dụng………
IV Kết quả………
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm………
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………
D TÀI LIỆU THAM KHẢO………
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 31 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tínhnăng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết vàgiải quyết vấn đề cho học sinh Để đạt được mục tiêu này, học sinh phải đượccoi là chủ thể của các hoạt động giáo dục, khuyến khích các hoạt động học tậptích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình tiếp thu là rất cần thiết
Trong việc dạy và học Ngoại Ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai
có thể thay thế người học trong việc nắm các phương tiện ngoại ngữ và sử dụngchúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình, hay nóicách khác học ngoại ngữ là học cách sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp, đó là quanđiểm đặc thù của bộ môn, nó đòi hỏi nhận thức và giải quyết hợp lý mối quan hệgiữa kiến thức và kỹ năng Chỉ có kiến thức mà không có kỹ năng thì không thể
có khả năng giao tiếp, ngược lại, chỉ có kỹ năng mà không có kiến thức thì khảnăng giao tiếp sẽ bị hạn chế và không phát triển được Mục đích cuối cùng củaviệc học ngoại ngữ không phải là để biết các hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữpháp mà là biết sử dụng hệ thống đó để đạt được mục đích giao tiếp
Trong thực tế đa số học sinh chúng ta luôn luôn nghĩ Tiếng Anh rất khó
và những ai giỏi Tiếng Anh chắc chắn phải được học từ bé, gặp may hay cónăng khiếu đặc biệt về việc học ngoại ngữ, nên nhiều em đã lao vào học từ vựng
và ngữ pháp Liên tục làm các bài tập ngữ pháp từ dạng này đến dạng khác vìcác em luôn nghĩ rằng chưa nắm vững ngữ pháp thì chưa thể nào sử dụng đượcTiếng Anh
Mặc dù ngày nay phương pháp giao tiếp đang được khuyến khích sử dụng
để dạy Tiếng Anh nhằm phát triển các kỹ năng, nghe – nói – đọc – viết cho học
sinh nhưng theo tôi thế vẫn chưa đủ, điều này khiến tôi thường xuyên trăn trởmỗi khi soạn bài lên lớp
Sau một thời gian suy nghĩ, quan sát tôi đã áp dụng các kỹ năng giao tiếp
khi dạy phần Language Focus, hay nói cách khác là tổ chức các hoạt động cặp,
nhóm trên lớp khi thực hành luyện tập Tôi xin mạnh dạn chia sẻ chút kinhnghiệm này với quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp Rất mong nhận được sựquan tâm góp ý của quý thầy cô và đồng nghiệp để góp phần nâng cao chấtlượng môn Tiếng Anh của đơn vị trường và của Huyện nhà
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Các kỹ năng giao tiếp khi dạy phần Language Focus, nhằm nâng cao hiệuquả giờ dạy góp phần kích thích học sinh tích cực luyện tập kỹ năng nói.
b Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian : Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016.
- Về mặt không gian: Các tiết dạy Language Focus của chương trình sáchgiáo khoa Tiếng Anh khối 6, 7, 8, 9
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu các thủ thuật và phương pháp để áp dụng các kỹ năng giao
tiếp cho các tiết dạy Language Focus
- Xây dựng hệ thống câu hỏi, các bài hội thoại và các tình huống phù hợpvới nội dung của từng bài học
- Nâng cao kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh trong nhà trường
b Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thực hiện các yêu cầu giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Anh trong lớp học
và ngoài lớp học
- Diễn đạt các nội dung giao tiếp đơn giản hàng ngày liên quan đến cácchủ điểm và nội dung ngôn ngữ đã học trong chương trình
4 Giả thiết khoa học của đề tài
- Nếu giáo viên sử dụng các phương pháp đơn thuần, tức là chỉ yêu cầu
học sinh ghi nhớ và nắm thật vững kiến thức ngữ pháp cơ bản trong sách giáokhoa mà giáo viên thuyết trình trong suốt các giờ dạy, điều này dẫn tới giờ dạytrở nên nhàm chán, học sinh thì thụ động ghi chép máy móc và dường như rất ítlàm việc, trong khi giáo viên thì là việc vất vã mà chất lượng lại thấp
- Nếu giáo viên biết vận các phương pháp nhằm thúc đẩy tính tích cực , tựgiác để nâng cao kỹ năng giao tiếp như sử dụng tốt hệ thống câu hỏi, các tìnhhuống và liên hệ thực tế phù hợp với nội dung bài học và khả năng tiếp thu củahọc sinh được kết hợp nhuần nhuyển với nhau thì hiệu quả của giờ dạy sẽ rấtcao
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích số liệu
- Phương pháp liên hệ thực tế
- Phương pháp khảo sát điều tra
6 Dự báo đóng góp của đề tài
Trang 5- Giúp học sinh trút bỏ được ý tưởng luôn mang nặng trong đầu là họctiếng Anh thì rất khó.
- Giúp học sinh nắm rõ bản chất của môn học là kỹ năng và thói quen ,
qua đó có nhu cầu tiếp thu kiến thức, vận dụng kỹ năng để giao tiếp, hứng thúvới các tài liệu học tập, tự giác, chủ động huy động vốn kinh nghiệm đã tích lũy
để bắt chước, tái hiện, biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý địnhcủa mình thông qua giao tiếp nói hoặc viết
7 Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mỡ đầu, phần kết luận và kiến nghị thì đề tài gồm có 3chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc áp dụng các kỹ năng giao tiếp trong các tiết ôn tập “Language focus” cho học sinh
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc áp dụng các kỹ năng giao tiếp trong các tiết ôn tập “Language focus” cho học sinh
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 6B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1
Cơ sở lý luận của việc áp dụng các kỹ năng giao tiếp trong các tiết ôn tập “Language focus” cho học sinh
1.1 Khái niệm kỹ năng giao tiếp qua việc học Tiếng Anh của học sinh
- Kỹ năng giao tiếp là khả năng ứng dụng kiến thức của bài học vào quátrình giao tiếp có hiệu quả nhất
- Trong chương trình Tiếng Anh THCS đã khẳng định tầm quan trọng vàtính chất bao trùm của nguyên tắc thực hành giao tiếp Tuy nhiên, trong môitrường giảng dạy cụ thể nhiều khi vẫn còn cứng nhắc, rập khuôn, vì vậy chúng
ta cần phải hiểu và áp dụng kỷ năng giao tiếp như thế nào cho phù hợp
đó, việc sử dụng ngữ liệu phải gắn với ngữ cảnh, kết hợp với rèn luyện các kỷnăng và tuân theo một trình tự hợp lý
1.3 Các hình thức giao tiếp
- Phỏng vấn ( interview)
- Làm phiếu điều tra ( survey)
- Đóng vai ( role play)
- Thảo luận ( discussion), trò chơi ( games)…
1.4 Ý nghĩa của việc áp dụng các kỹ năng giao tiếp trong các tiết ôn tập.
1.4.1 Đối với giáo viên
- Thường xuyên nắm rõ mức độ kiến thức của học sinh một cách nhanhchóng, tạo điều kiện cho giáo viên áp dụng các phương pháp tích cực hơn nữa
để nâng cao kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh
Trang 7- Giáo viên sẽ chuyển giao nhiệm vụ học tập sinh động, hấp dẫn, khuyếnkhích học sinh hoạt động tích cực
- Thông qua các kỹ năng gao tiếp để liên hệ thực tế, vận dụng liên môn,giáo dục học sinh
1.4.2 Đối với học sinh
- Tăng khả năng tiếp cận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập một cáchhứng thú
- Chủ động nắm bắt những nội dung, kiến thức thông tin cần thiết để sẳnsàng giao tiếp
- Kỹ năng giao tiếp còn bồi đắp cho học sinh những phẩm chất cần thiếtnhư: lòng kiên trì, ý thức tự giác, chịu khó và tôn trọng…
***************
Trang 8Chương 2
Cơ sở thực tiễn của việc áp dụng các kỹ năng giao tiếp trong các tiết
ôn tập “Language focus” cho học sinh.
Nhìn chung học sinh THCS tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sửdụng được ngoại ngữ nhưng khả năng độc lập trong học tập chưa tốt (ví dụ : cònrụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi trong khi nói), hầu hết học sinh của chúng tôiđều ở nông thôn nên còn chịu nhiều ảnh hưởng của thói quen, tập tục, giọng nói
và các điều kiện khác nên các em ít có cơ hội luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiêntrì trong rèn luyện phát triển kỹ năng ngôn ngữ nên kết quả học tập thường bịhạn chế, dễ nản chí và chây lười và mất hứng với bộ môn Vì vậy các em cầnphải thường xuyên được sự khuyến khích, động viên kịp thời của giáo viên vàcần có sự hổ trợ của các phương pháp dạy học thích hợp, đặc biệt là phải thườngxuyên vận dụng các kỹ năng giao tiếp, qua đó giúp cho các em thấy rõ rằng mônTiếng Anh không phải là môn học khó, từ đó xây dựng lại cảm hứng để củng cố,
ổn định và nâng cao hiệu quả học tập của các em
I Thực trạng
- Bảng khảo sát thăm dò dành cho học sinh 2 lớp 8A và 8B về việc thích
hay không thích giao tiếp bằng Tiếng Anh trên lớp:
Trang 9Từ kết quả trên cho thấy lúc ban đầu khả năng làm các bài tập dạngLanguage Focus của các em còn kém nên chất lượng bài kiểm tra quá thấp, kếtquả còn chênh lệch giữa các học sinh trong lớp và giữa các lớp với nhau.Nguyên nhân nhiều em chưa thực sự quan tâm và có hứng thú với việc họcTiếng Anh, lười luyện tập và giao tiếp bằng Tiếng Anh Do vậy việc thực hiệndạng bài tập thường gặp không ít khó khăn Vấn đề trên đây sẽ được giải quyếttrong phần tiếp theo.
II Các giải pháp thực hiện
Phần Language Focus trong sách giáo khoa nhằm giúp học sinh hệ thốnghóa, củng cố và luyện tập bằng cách sử dụng ngôn ngữ, các điểm ngữ pháp đãhọc trong các bài trước
- Giáo viên có thể cho học sinh thực hành phần Language Focus trên lớphoặc làm mẩu, giải thích, hướng dẫn các em tự làm
- Quan trọng nhất là giáo viên phải hệ thống hóa kiến thức cơ bản, củng
cố và chữa bài từ đó rút ra những mặt mạnh mặt yếu của học sinh để kịp thời rènluyện, bồi dưỡng thêm cho các em
- Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý không dạy ôm đồm hoặc quá sâu kiếnthức ngữ pháp và từ vựng không trọng tâm, không nên yêu cầu học sinh phải sửdụng thành thạo ngay một cấu trúc hoặc từ vựng trong bài, vì nguyên tắc xoáytròn ốc luôn củng cố, phát triển những nội dung và kỷ năng ngôn ngữ đã đượchọc Vì vậy cần phải nắm rõ hình thức và phương pháp tiến hành các hoạt độngnhư sau
1 Hình thức tiến hành các hoạt động
a Chuẩn bị
- Xác định mục đích yêu cầu hoạt động
- Soạn bài, xây dựng nội dung và hướng dẫn cụ thể
b Giới thiệu hoạt động
- Ổn định tổ chức
- Dẫn dắt vào bài
- Hướng dẫn, yêu cầu học sinh biết phải làm gì
- Là mẫu ( trial run with students )
c Luyện tập
Giai đoạn này rất quan trọng, giáo viên phải khéo léo đưa ra những thủthuật sao cho học sinh luyện tập từ dễ đến khó Các điểm ngữ pháp hoặc từ vựng
Trang 10xuất hiện tự nhiên theo tình huống và được luyện tập theo ngữ cảnh, từ việc thựchành có kiểm soát ( controlled practice) đến thực hành có hướng dẫn ( guidedpractice) đến thực hành tự do ( free practice).
Để phát huy khả năng giao tiếp tôi thường cho học sinh luyện tập thànhhai giai đoạn;
Các hoạt động giao tiếp xã hội(social communicative
activities)
Việc phân chia các bước trên chỉ mang tính lý thuyết Trong thực tế cáchoạt động luôn xảy ra uyển chuyển không có giới hạn rành mạch Quan điểm đitừng phần đến tổng thể, từ thực hành máy móc đến sử dụng phổ thông và thường
áp dụng trong các nhà trường hiện nay
Để tạo điều kiện cho học sinh thực hành giao tiếp qua các bài tập củaphần language focus, tôi thường tạo điều kiện cho học sinh hoạt động theo cặphoặc theo nhóm dưới dạng các hoạt động nói: phỏng vấn ( interview), làm phiếuđiều tra ( survey), đóng vai ( role play), thảo luận ( discussion), trò chơi ( games)
….Các hoạt động này thường được tiến hành sau các hoạt động có hướng dẫn
Ví dụ 1( thực hành có kiểm soát,) : Language focus 1 – English 7 ( Futuresimple tense)
Lead in : This is a list of what Nam will do or will not do tomorrrow
- Now look at the list and make sentences, using the simple future tense
Các hoạt động tiền giao tiếp(Precommunicative activities)
Các hoạt động giao tiếp(Communicative activities)
Trang 11Teacher’s modal : - Nam will go to the post office, but he won’t call Ba.Teacher : do homework and tidy yard
Students : He will do his homework but he won’t tidy yard
- Use of the list and ask your partner:
S1: Will Nam go to the post office tomorrw ?
Teacher gives a situation : I don’t
fell well today, What should I do ?
- S1 You should take a rest
- S2 You should stay at home
- S3 You should go and see the
doctor after work
Teacher xeplains “ should “ is used to give an advice
d Củng cố
- Get feed back
- Deal with correction
- Sum up vocabulary or structures
- Lead in the next activity or have students do homework
Trang 12Teacher: point the students in the raws and number the: one- two- one –
two… Number one hand up…ok number two hand up… Number one asks, number two answers.
Teacher points one student and asks: What is your number? What do youhave to do first? And then?
…Then change the positions Number two asks, number one answers.
Example 2: Unit 4 lesson 5 Write English 9
Write a letter of inquiry to request for information or action
Teacher asks students to work in groups of 4- 8 to write Teacher askseach group to write outline then write a full letter
Teacher controls 4 groups in the class and go around to help them
- Discuss to write a letter The secretary writes
2.1.2 Trước khi làm việc theo cặp, nhóm giáo viên cần có sự chuẩn bị tốt, có mẫu hoặc ví dụ cho trước, cung cấp đủ ngữ liệu cho bài tập.
The teacher models with one good/ strong student, the whole class listen
Unit 5 A3 English 6
T: What do you do after school?
S: I read book
T: Can you ask me?
S: What do you do after school?
2.1.4 Giáo viên cần quy định thời gian cụ thể cho từng hoạt động.
Trang 13Teacher: Now, time begins, work in pairs please (after 2 minutes).
Teacher: Now, time is up Stop asking and answering
2.1.5 Giáo viên nên linh động phân cặp, nhóm hợp lý có thể chọn học sinh cùng trình độ để làm việc với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất của từng bài tập, mẫu câu Việc phân nhóm này nên quy định cho học sinh theo thói quen
Ví dụ trong việc phân cặp một học sinh có thể hoạt động ở hai đến ba cặpkhác nhau và việc quy định này phải được thực hiện ngay từ những buổi đầu vàmỗi cặp có quy ước về số hoặc tên riêng của cặp mình
Ta có thể kết hợp các cặp như sau: Mỗi học sinh có thể có ít nhất từ 2 - 3cặp cho mình để hoạt động Giáo viên nên quy định những học sinh A, D mang
số 1 ; học sinh B, E mang số 2 ; học sinh C, F mang số 3
Ví dụ này dùng trong các bài tập đơn giản như thay thế hoặc word cues
2.1.6 Sau khi học sinh thực hành bài tập theo cặp, nhóm cần có sự kiểm tra, nhận xét, góp ý kiến kịp thời từ bạn mình ở nhóm khác Chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng.
2.1.7 Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp, nhóm.
2.2 Đối với học sinh - người thực hiện hoạt động để chủ động lĩnh hội
kiến thức qua hình thức hoạt động này cần phải xây dựng thói quen tuân theomột số quy định cần thiết
2.2.1 Cần phải nghe những yêu cầu của bài tập.
- Yêu cầu này thể hiện trong sách giáo khoa là một phần mà phần lớn làhướng dẫn và yêu cầu của giáo viên, người điều khiển hoạt động
Trang 14Ví dụ: Có thể yêu cầu về hoạt động, thời gian hoạt động, nhiệm vụ củatừng nhóm, cá nhân trong nhóm.
2.2.2 Cần làm việc tự giác không gây quá ồn ào.
2.3.3 Cần phải bắt đầu và ngừng ngay hoạt động khi giáo viên yêu cầu, không cố hoàn thành phần đang làm dở.
2.3 Phương pháp tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm.
2.3.1 Hoạt động theo cặp (pair work).
2.3.1a Cặp giữa thầy và một trò (teacher and a student).
- Giáo viên có thể gọi những học sinh khá thực hành với mình làm mẫu.Sau đó gọi học sinh yếu hơn làm lại Những học sinh yếu giáo viên có thể đưa ranhững câu hỏi dễ, để kích thích và lôi cuốn toàn bộ học sinh vào hoạt động aicũng phải suy nghĩ và trả lời
2.3.1c Cặp đóng (closed pair) giữa hai học sinh ngồi kề nhau.
- Với hình thức này giáo viên phải đánh số học sinh theo hàng dọc hoặctheo hàng ngang, quy nhiệm vụ của từng học sinh trong cặp – hỏi trả lời vàngược lại hoặc vai A - vai B và ngược lại đổi vai
- Sau khi giáo viên chủ động điều khiển, giáo viên nên gọi một vài cặpnói trước lớp những gì họ đã hoàn thành
Ví dụ: Các bước thực hiện - điều khiển một hoạt động theo cặp:
Example: The steps of controlling a pair work
Exercise: Likes and dislikes