1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý nghĩa của học phần tâm lý học đại cương hình thành ý thức cho học sinh trong tương lai

16 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý nghĩa của học phần tâm lý học đại cương hình thành ý thức cho học sinh trong tương lai
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Báo cáo học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ BÀI Câu 1 Phân tích ý nghĩa của học phần tâm lý học đại cương với bản thân? Câu 2 Phân tích khái niệm nhân cách theo quan điểm tâm lý học Anh(chị) hãy rút ra kêt luận trong việc rèn luyện nhân cách. Ý nghĩa thực tiễn của việc hiểu biết tâm lý học sinh tiểu học đối với người giáo viên tiểu học hình thành ý thức cho học sinh trong tương lai+ Có hứng thú học tập: thích hay không thích học được biểu hiện ở những hành động như: chăm chú nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập + Có tâm trạng tích cực trong học tập: tâm trạng tích cực trong học tập biểu hiện ở sự sảng khoái, vui vẻ, thoải mái khi tham gia giờ học. * Kết quả học tập: Tính tích cực nhận thức cao hay thấp cuối cùng được thể hiện ở kết quả học tập của sinh viên. Kết quả học tập của sinh viên trong các môn học không chỉ thể hiện ở việc lĩnh hội tri thức mà còn thể hiện ở việc nắm vững các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết. Như vậy, khi sinh viên ý thức được đầy đủ mục đích, ý nghĩa của việc học tập môn Tâm lý học, từ đó cũng có thái độ học tập đúng đắn, tự nguyện, tự giác tham gia hoạt động để thỏa mãn tính tò mò, ham hiểu biết của mình đồng thời thực hiện các các hành vi tương ứng với thái độ đó, thì khi đó họ đã có tính tích cực học tập bô môn này. Đây là cơ sở lý luận để chúng tôi xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra, mẫu phiếu quan sát, nội dung phỏng vấn... trong nghiên cứu của mình về các mức độ tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên. Tất cả các mặt của tính tích cực học tập có mối quan hệ biện chứng với nhau, khi sinh viên ý thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa của việc học tập thì người học sẽ hình thành thái độ học tập đúng đắn, tự nguyện, tự giác tham gia vào hoạt động học tập bộ môn để thỏa mãn nhu cầu nắm bắt tri thức của mình, đồng thời thực hiện các hành vi, hành động học tập tích cực tương ứng với thái độ học tập tích cực đó. Bởi vậy, khi nghiên cứu về tính tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở tất cả các mặt trên. Để nâng cao tính tích cực học tập môn Tâm lý học của sinh viên cần phải tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau như: Kích thích 2 / 16 BÀI LÀM Câu 1: Ý nghĩa của học phần tâm lý học đại cương với bản thân Sinh viên là đội ngũ tri thức tương lai của đất nước. Sự phát triển của đất nước đòi hỏi phải có lực lượng lao động có trình độ khoa học, tay nghề cao, có đạo đức và có sức khỏe tốt. Chính vì vậy, trong quá trình học tập, bên cạnh việc học tốt các môn cơ sở ngành, các môn chuyên ngành, sinh viên còn cần phải học tập tốt các môn học đại cương. Việc học tập tốt các môn học đại cương sẽ giúp cho sinh viên có được vốn tri thức cần thiết, làm nền tảng quan trọng cho việc đi sâu nghiên cứu và dễ dàng nắm bắt nội dung của các môn học chuyên ngành. Hoạt động nhận thức hay quá trình lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng kỹ xảo của con người nói chung và của sinh viên nói riêng là một hoạt động có tính chất đặc biệt và bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó tính tích cực học tập là yếu tố đóng vai trò quyết định. Tính tích cực không chỉ là điều kiện để phát triển khả năng tư duy, tưởng tượng, năng lực sáng tạo, thế giới quan và các phẩm chất nhân cách mà còn là điều kiện cần thiết và quan trọng để nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách nhanh chóng và hiệu quả. Tính tích cực có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập của người học, tạo ra sự thống nhất giữa nội lực và ngoại lực. Môn Tâm lý học đại cương là môn học được tổ chức giảng dạy ở nhiều ngành học khác nhau thuộc các trường Cao đẳng, Đại học trong cả nước nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản nhất về tâm lý con người, làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn các môn học chuyên ngành, vận dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn, hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường. Môn Tâm lý học đại cương có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp tri thức và nâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp đối với sinh viên tất cả các ngành học. Tuy nhiên từ thực tế hoạt động giảng dạy tôi nhận thấy đa số sinh viên chưa thực sự ý thức được tầm quan trọng của môn Tâmnhu cầu, khơi gợi hứng thú, hình thành động cơ cũng như thái độ học tập đúng đắn cho SV, đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, động viên và giúp đỡ sinh viên vận dụng, ứng dụng kiến thức Tâm lý học đại cương đã học được vào cuộc sống bản thân, tham vấn, hỗ trợ cho một số cá nhân sinh viên có khó khăn liên quan đến tính tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương... theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV. Câu 2: Khái niệm nhân cách theo quan điểm tâm lý học. Anh(chị) hãy rút ra kết luận trong việc rèn luyện nhân cách của bản thân. Khái niệm nhân cách theo quan điểm tâm lý học Nhân cách là một khái niệm rộng và phức tạp của Tâm lí học. Ở mỗi góc độ khác nhau, các tác giả có những quan điểm, quan niệm khác nhau về nhân cách. a. Một số quan niệm sai lầm về nhân cách Quan niệm sinh vật hoá nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể (Krcst Chmev), ờ góc mặt (C. Lombrozo), ở thể trạng (Sheldon), ớ bản năng vô thức (S. Freud)... Quan điểm xã hội học hoá nhân cách: lấy các quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm,...) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính của cá nhân đó. Trong số những quan niệm trên, có quan niệm chí chú ý đến cái chung, bỏ qua cái riêng trong nhân cách, đồng nhất nhân cách với con người. Ngược lại, một số quan niệm chỉ chú ý tính đơn nhất, có một không hai của nhân cách. b. Quan niệm khoa học về nhân cách Các nhà tâm lí học cho rằng khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung 3 / 16 lý học đại cương trong chương trình học, xem nó là môn học phụ, không có ý nghĩa và không cần thiết đối với nghề nghiệp tương lai. Từ sự nhận thức sai lầm cùng với những yếu tố khó khăn từ môn học, từ giảng viên... dẫn đến sinh viên chưa có nhu cầu, động cơ, hứng thú, thái độ và hành động học tập đúng đắn nên dẫn đến kết quả không như chúng ta mong đợi. Từ đó cho thấy, muốn nâng cao kết quả học tập môn Tâm lý học đại cương thì cần phải hình thành những nhận thức đúng đắn về môn học, khơi gợi hứng thú, tính chủ động, tự giác và vun đắp niềm say mê trong học tập, nghiên cứu môn học của sinh viên. Tri thức Tâm lý học chứa đựng một hệ thống khái niệm, đặc điểm, quy luật...hết sức trừu tượng, mới mẻ. Vì vậy, để sinh viên học tập tích cực, trước hết các em phải có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa, nội dung, tính chất của môn học. Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa, nội dung, tính chất của môn học sẽ tạo ra nhu cầu và động cơ học tập tích cực ở sinh viên. Sinh viên là chủ thể của quá trình lĩnh hội tri thức tâm lý học nên các em có thái độ tích cực hay không, tự giác hay không, điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng học tập, đồng thời cũng tạo ra cảm xúc tích cực. Thái độ tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên được thể hiện: + Nhu cầu học tập cao: có nhu cầu nhận thức cao tức là luôn luôn có niềm vui trong học tập, luôn mong muốn giáo viên giao thêm nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình hăng hái tìm đọc thêm các tài liệu, vui vẻ tham gia các hoạt động nội, ngoại khóa, câu lạc bộ chuyên ngành, các hội thi, hội vui...phục vụ cho việc nâng cao tri thức chuyên ngành và nghiệp vụ mà sinh viên đang theo đuổi. + Có động cơ học tập đúng đắn: học để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hoàn thiện nhân cách theo yêu cầu của xã hội

Trang 1

ĐỀ BÀI Câu 1: Phân tích ý nghĩa của học phần tâm lý học đại cương với bản

thân?

Câu 2: Phân tích khái niệm nhân cách theo quan điểm tâm lý học.

Anh(chị) hãy rút ra kêt luận trong việc rèn luyện nhân cách của bản thân

Câu 3: Trình bày các con đương, điều kiện và đề xuất 1 biện pháp giúp

hình thành ý thức cho học sinh trong tương lai

Trang 2

BÀI LÀM Câu 1: Ý nghĩa của học phần tâm lý học đại cương với bản thân

Sinh viên là đội ngũ tri thức tương lai của đất nước Sự phát triển của đất nước đòi hỏi phải có lực lượng lao động có trình độ khoa học, tay nghề cao, có đạo đức và có sức khỏe tốt Chính vì vậy, trong quá trình học tập, bên cạnh việc học tốt các môn cơ sở ngành, các môn chuyên ngành, sinh viên còn cần phải học tập tốt các môn học đại cương Việc học tập tốt các môn học đại cương sẽ giúp cho sinh viên có được vốn tri thức cần thiết, làm nền tảng quan trọng cho việc đi sâu nghiên cứu và dễ dàng nắm bắt nội dung của các môn học chuyên ngành

Hoạt động nhận thức hay quá trình lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng

kỹ xảo của con người nói chung và của sinh viên nói riêng là một hoạt động

có tính chất đặc biệt và bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó tính tích cực học tập là yếu tố đóng vai trò quyết định Tính tích cực không chỉ là điều kiện để phát triển khả năng tư duy, tưởng tượng, năng lực sáng tạo, thế giới quan và các phẩm chất nhân cách mà còn là điều kiện cần thiết và quan trọng để nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách nhanh chóng và hiệu quả Tính tích cực có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập của người học, tạo ra sự thống nhất giữa nội lực và ngoại lực

Môn Tâm lý học đại cương là môn học được tổ chức giảng dạy ở nhiều ngành học khác nhau thuộc các trường Cao đẳng, Đại học trong cả nước nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản nhất về tâm lý con người, làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn các môn học chuyên ngành, vận dụng

và nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn, hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường Môn Tâm lý học đại cương có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp tri thức và nâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp đối với sinh viên tất cả các ngành học Tuy nhiên từ thực tế hoạt động giảng dạy tôi nhận thấy đa số sinh viên chưa thực sự ý thức được tầm quan trọng của môn Tâm

Trang 3

lý học đại cương trong chương trình học, xem nó là môn học phụ, không có ý nghĩa và không cần thiết đối với nghề nghiệp tương lai Từ sự nhận thức sai lầm cùng với những yếu tố khó khăn từ môn học, từ giảng viên… dẫn đến sinh viên chưa có nhu cầu, động cơ, hứng thú, thái độ và hành động học tập đúng đắn nên dẫn đến kết quả không như chúng ta mong đợi Từ đó cho thấy, muốn nâng cao kết quả học tập môn Tâm lý học đại cương thì cần phải hình thành những nhận thức đúng đắn về môn học, khơi gợi hứng thú, tính chủ động, tự giác và vun đắp niềm say mê trong học tập, nghiên cứu môn học của sinh viên

Tri thức Tâm lý học chứa đựng một hệ thống khái niệm, đặc điểm, quy luật…hết sức trừu tượng, mới mẻ Vì vậy, để sinh viên học tập tích cực, trước hết các em phải có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa, nội dung, tính chất của môn học Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa, nội dung, tính chất của môn học sẽ tạo ra nhu cầu và động cơ học tập tích cực ở sinh viên

Sinh viên là chủ thể của quá trình lĩnh hội tri thức tâm lý học nên các

em có thái độ tích cực hay không, tự giác hay không, điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng học tập, đồng thời cũng tạo ra cảm xúc tích cực Thái độ tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên được thể hiện:

+ Nhu cầu học tập cao: có nhu cầu nhận thức cao tức là luôn luôn

có niềm vui trong học tập, luôn mong muốn giáo viên giao thêm nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình hăng hái tìm đọc thêm các tài liệu, vui vẻ tham gia các hoạt động nội, ngoại khóa, câu lạc bộ chuyên ngành, các hội thi, hội vui…phục vụ cho việc nâng cao tri thức chuyên ngành và nghiệp vụ mà sinh viên đang theo đuổi

+ Có động cơ học tập đúng đắn: học để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hoàn thiện nhân cách theo yêu cầu của xã hội

Trang 4

+ Có hứng thú học tập: thích hay không thích học được biểu hiện ở những hành động như: chăm chú nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập

+ Có tâm trạng tích cực trong học tập: tâm trạng tích cực trong học tập biểu hiện ở sự sảng khoái, vui vẻ, thoải mái khi tham gia giờ học

* Kết quả học tập: Tính tích cực nhận thức cao hay thấp cuối cùng được thể hiện ở kết quả học tập của sinh viên Kết quả học tập của sinh viên trong các môn học không chỉ thể hiện ở việc lĩnh hội tri thức mà còn thể hiện

ở việc nắm vững các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết

Như vậy, khi sinh viên ý thức được đầy đủ mục đích, ý nghĩa của việc học tập môn Tâm lý học, từ đó cũng có thái độ học tập đúng đắn, tự nguyện,

tự giác tham gia hoạt động để thỏa mãn tính tò mò, ham hiểu biết của mình đồng thời thực hiện các các hành vi tương ứng với thái độ đó, thì khi đó họ đã

có tính tích cực học tập bô môn này Đây là cơ sở lý luận để chúng tôi xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra, mẫu phiếu quan sát, nội dung phỏng vấn… trong nghiên cứu của mình về các mức độ tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên

Tất cả các mặt của tính tích cực học tập có mối quan hệ biện chứng với nhau, khi sinh viên ý thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa của việc học tập thì người học sẽ hình thành thái độ học tập đúng đắn, tự nguyện, tự giác tham gia vào hoạt động học tập bộ môn để thỏa mãn nhu cầu nắm bắt tri thức của mình, đồng thời thực hiện các hành vi, hành động học tập tích cực tương ứng với thái độ học tập tích cực đó Bởi vậy, khi nghiên cứu về tính tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở tất

cả các mặt trên

Để nâng cao tính tích cực học tập môn Tâm lý học của sinh viên cần phải tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau như: Kích thích

Trang 5

nhu cầu, khơi gợi hứng thú, hình thành động cơ cũng như thái độ học tập đúng đắn cho SV, đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, động viên và giúp đỡ sinh viên vận dụng, ứng dụng kiến thức Tâm lý học đại cương đã học được vào cuộc sống bản thân, tham vấn, hỗ trợ cho một số cá nhân sinh viên có khó khăn liên quan đến tính tích cực học tập môn Tâm lý học đại cương theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV

Câu 2: Khái niệm nhân cách theo quan điểm tâm lý học Anh(chị) hãy rút ra kết luận trong việc rèn luyện nhân cách của bản thân.

Khái niệm nhân cách theo quan điểm tâm lý học

Nhân cách là một khái niệm rộng và phức tạp của Tâm lí học Ở mỗi góc độ khác nhau, các tác giả có những quan điểm, quan niệm khác nhau về nhân cách

a Một số quan niệm sai lầm về nhân cách

Quan niệm sinh vật hoá nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể (Krcst Chmev), ờ góc mặt (C Lombrozo), ở thể trạng (Sheldon), ớ bản năng vô thức (S Freud)

Quan điểm xã hội học hoá nhân cách: lấy các quan hệ xã hội (gia đình,

họ hàng, làng xóm, ) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính của cá nhân đó

Trong số những quan niệm trên, có quan niệm chí chú ý đến cái chung,

bỏ qua cái riêng trong nhân cách, đồng nhất nhân cách với con người Ngược lại, một số quan niệm chỉ chú ý tính đơn nhất, có một không hai của nhân cách

b Quan niệm khoa học về nhân cách

Các nhà tâm lí học cho rằng khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung

Trang 6

của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội được chuyển vào trong mỗi con người Có thể nêu lên một số định nghĩa nhân cách như sau:

“Nhân cách là tuột cả nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong

xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định ” (A.G Covaliov)

“Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính về phẩm chất tâm lí, quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội." (E.v Sorokhova) “Nhân cách là có thể hoá ý thức xã hội ” (V.s Mukhina)

Từ những điều trình bày ở trên, có thể nêu lên một định nghĩa về nhân cách như sau: Nhâncách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con người

Trước hết, nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lí xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lí riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lí mới Nói cách khác, nhân cách là tổng hợp thể những đặc điểm tâm lí dặc trưng với một cơ cấu xác định Do đó, không phải con người sinh ra là đã có nhân cách Nhân cách được hình thành dần trong quá trình tham gia các mối quan hệ của con người

Nhân cách quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng dồng mà cá nhân đó là dại biểu Ví dụ: Mỗi sinh viên Việt Nam đểu là nhân cách duy nhất với tất cả những đặc điểm riêng biệt của mình, song đều có cái chung của con người Việt Nam là tình yêu xóm làng, quê hương, đất nước của mình

Nhân cách biểu hiện trên ba cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu cá nhân

Trang 7

Ở cấp độ thứ nhất, nhân cách được thể hiện dưới dạng cá nhân, ở tính không đồng nhất, ở sự khác biệt với mọi người, với cái chung Chính vì vậy, giá trị nhân cách ở cấp độ này là tính tích cực của nó trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh và những hạn chế của bản thân Có thể nói, phàn tích nhân cách ở cấp dộ bên trong cá nhân là xem xét nhân cách từ bên trong bản thân như một đại diện của toàn xã hội

Ở cấp (độ thứ hai, nhân cách dược thể hiện trong các mối quan hộ, liên

hệ với nhân cách khác Nhân cách nằm trong mối quan hệ liên nhân cách, tạo nên đặc trưng của mỗi nhàn cách Giá trị của nhân cách ở cấp độ này dược thể hiện trong các hành vi ứng xử xã hội của chủ thể Như vậy, phân tích nhân cách ở cấp độ liên cá nhân là đã tách nhân cách ra thành các mức độ trong nhóm của nó (trong giai cấp, trong nhóm, trong tập thể)

Ớ cấp độ cao nhất, cấp độ siêu nhân cách, nhân cách dược xem xét như

là một chủ thể đang tích cực hoạt động và gây ra những biến đổi ở người khác, ở cấp độ này, giá trị nhân cách được xác định ở những hành động và hoạt động của nhân cách này có ảnh hưởng như thế nào tới những nhân cách khác

Các đặc điểm cơ bản của nhân cách:

Hiện nay, trong các tài liệu, giáo trình tâm lí học thường nêu lên bốn đặc điểm cơ bản của nhân cách: tính ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao lưu của nhân cách

Tính ổn định của nhân cách

Dưới ảnh hưởng của cuộc sống và giáo dục, từng thuộc tính tạo nên nhân cách có thể được biến đổi, được chuyển hoá, nhưng trong tổng thể thì chúng tạo thành một cấu trúc trọn vẹn của nhân cách Cấu trúc này tương đối

ổn định nói lên bộ mặt tâm lí – xã hội của cá nhân ấy trong một khoảng thời gian nào đó của cuộc đời con người Nhờ có tính ổn định tương đối này của

Trang 8

nhân cách, người ta có thể đánh giá được giá trị xã hội của một nhân cách nào

đó ở thời điểm hiện tại và có thể dự đoán trước được hành vi của nó trong những tình huống nhất định

Tính thống nhất của nhân cách

Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất của các thuộc tính hay các phẩm chất và năng lực của con người Các thuộc tính đó có liên quan, kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống nhất chứ không phải là một phép cộng đơn giản các thuộc tính riêng lẻ Vì vậy khi xem xét, đánh giá một nét nào đó của nhân cách phải xét nó trong mối liên hệ với các thuộc tính khác của nhân cách và toàn bộ nhân cách Chẳng hạn, tinh thần dũng cảm của một chiến sĩ cảnh sát làm nhiệm vụ bảo vệ dân khác xa với sự dũng cảm của một kẻ trong một băng cướp, khi đánh giá về mặt đạo đức của nhân cách Vì vậy , không được giáo dục nhân cách theo “từng phần”, từng thuộc tính riêng lẻ tách bạch

mà phải giáo dục con người như một nhân cách hoàn chỉnh

Tính tích cực của nhân cách

Nhân cách là một sản phẩm của xã hội Nhân cách không chỉ là khách thể chịu sự tác động của các mối quan hệ xã hội, mà điều quan trọng hơn là

nó chủ động tham gia vào các mối quan hệ đó, là chủ thể của các mối quan hệ

xã hội ấy , nghĩa là nó có tính tích cực của mình Tính tích cực của nhân cách biểu hiện ở những hoạt động muôn hình muôn vẻ với mục đích cải tạo thế giới xung quanh và cải tạo chính bản thân mình Nếu không hoạt động, con người không thể tồn tại, nhân cách của họ không thể được hình thành và phát triển Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét ở tính tích cực của nhân cách Như vậy , cá nhân được coi là nhân cách khi nó tích cực hoạt động và giao lưu trong xã hội một cách có ý thức Do đâu có được tính tích cực của nhân cách Theo quan niệm của tâm lí học thì nguồn gốc tính tích cực của nhân cách chính là nhu cầu Tính tích cực của nhân cách thể hiện trong quá trình thoả mãn nhu cầu của nó

Trang 9

Khác với động vật và bằng hoạt động lao động của mình, con người không thoả mãn nhu cầu bằng các đối tượng có sẵn mà luôn luôn sáng tạo ra những đối tượng mới, các phương thức mới để thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng và ngày càng cao của mình

Tính giao lưu của nhân cách

Nhân cách chỉ có thể tồn tại trong sự giao lưu với những nhân cách khác Vì lí do nào đó mà ngay từ lúc mới sinh con người bị tách khỏi xã hội loài người thì không thể tồn tại và phát triển như một nhân cách Chẳng hạn, một đứa trẻ mới sinh bị bỏ rơi ở ngoài rừng được các con vật nuôi hay một đứa trẻ bị nuôi ở dưới hầm từ lúc còn rất bé không được tiếp xúc, giao lưu với những nhân cách khác thì không thể trở thành một nhân cách Như vậy , nhân cách không thể tồn tại, không thể hình thành và phát triển bên ngoài sự giao tiếp, bên ngoài xã hội loài người Nhu cầu giao lưu hay giao tiếp được xuất hiện rất sớm và có thể coi như một nhu cầu bẩm sinh của con người Nhu cầu của con người trước hết là nhu cầu về người khác Vì sao vậy? Bởi vì chỉ có thông qua giao tiếp cá nhân mới có thể gia nhập các mối quan hệ với các cá nhân khác trong các nhóm xã hội và quan hệ với toàn xã hội Qua giao tiếp,

cá nhân lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội và cũng nhờ có giao tiếp, mỗi cá nhân được nhìn nhận, được đánh giá theo quan niệm về giá trị, đạo đức của thời đại cá nhân đó đang sống Trên cơ sở đó, cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội và cũng qua giao tiếp mỗi cá nhân có thể tham gia đóng góp những giá trị phẩm chất nhân cách của mình cho sự phát triển xã hội Đặc điểm này của nhân cách là

cơ sở tâm lí học cho nhiều phương pháp biện pháp giáo dục trẻ, đặc biệt là nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể do nhà giáo dục Nga A.X.Macarencô đề xướng

Trang 10

Kết luận trong việc rèn luyện nhân cách của bản thân

Là một sinh viên Đại học, tôi nhận thấy cần phải tập trung phát triển nhân cách sinh viên như sau:

Thực trạng nhân cách sinh viên

Nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều kiện hiện nay, ngoài những đặc điểm chung của nhân cách, thì còn có những biểu hiện riêng về phẩm chất đạo đức và năng lực, như sinh viên hiện nay năng động, sáng tạo và thực tế hơn So với các thế hệ sinh viên trước đổi mới, sinh viên hiện nay có tính thực

tế cao Chọn ngành học là biểu hiện đầu tiên của tính thực tế Họ tập trung nhất vào những ngành học mà ra trường có thể xin việc được ngay vì xã hội đang cần, những nghề có thu nhập cao, chỉ số ít sinh viên chọn nghề theo mơ ước

Sinh viên hiện nay rất năng động Họ năng động trong phương thức tiếp nhận tri thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính là học tập; năng động trong quá trình tham gia vào hoạt động xã hội: Làm thêm dưới nhiều hình thức thời gian (nửa ngày, vài ngày trong một tuần, buổi tối), phong phú về nghề (làm gia sư, bán hàng, giúp việc nhà ) Một số sinh viên có tham vọng trở thành những nhà kinh doanh giỏi đã mở cửa hàng kinh doanh thể hiện tính chủ động, sáng tạo cao trong công việc của mình

Tính sáng tạo của sinh viên được thể hiện ở việc rất nhiều sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế, quốc gia, giải thưởng Tài năng trẻ Việt Nam hàng năm do Bộ Giáo dục và Đào tạo

tổ chức

Sinh viên hiện nay đề cao vai trò cá nhân: Kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Sinh viên luôn có ý thức cao việc khẳng định nhân cách bằng cách trau dồi kiến thức chuyên môn, khẳng định vị trí của mình trước xã hội Đồng thời, họ thể hiện rõ vai trò cá nhân, lợi ích cá nhân trong hành động Lợi

Ngày đăng: 13/02/2023, 00:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Mạnh Quân (2007). Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2007
2. Dương Thị Liễu (2013), Giáo trình Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn hóa kinh doanh
Tác giả: Dương Thị Liễu
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2013
3. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
4. Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2010
5. Nguyễn Minh Đoan (2011), Ý thức, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w