1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học, Vấn đề bản thể luận trong triết học ấn độ cổ đại tiểu luận cao học

13 114 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề bản thể luận trong triết học ấn độ cổ đại
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn cao học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 28,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTrong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng. Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo. Lịch sử loài người là một tiến trình thống nhất, vì đây là lịch sử của một loài sinh vật đặc biệt. Cho dù mỗi dân tộc đều có văn hoá độc đáo của mình như hình thức biểu thị đặc trưng riêng của mình, song mỗi dân tộc đều là một. Bản thể luận hình thức, là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác để làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể. Bản thể luận luôn phải chỉ rõ những từ ngữ nào dùng để chỉ những thực thể nào, những từ ngữ nào không, tại sao, và phạm trù kết quả là thế nào. Vì thế bản thể luận còn là cơ sở nền tảng cho nhiều chuyên ngành triết học khác. Để hiểu sâu hơn, em xin trình vấn đề: “Vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ cổ đại”.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 0

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái quát về bản thể luận 2

2 Vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ cổ đại 6

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo Lịch sử loài người là một tiến trình thống nhất, vì đây là lịch sử của một loài sinh vật đặc biệt Cho dù mỗi dân tộc đều có văn hoá độc đáo của mình như hình thức biểu thị đặc trưng riêng của mình, song mỗi dân tộc đều là một Bản thể luận hình thức, là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề

sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác để làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể Bản thể luận luôn phải chỉ rõ những từ ngữ nào dùng để chỉ những thực thể nào, những từ ngữ nào không, tại sao, và phạm trù kết quả là thế nào Vì thế bản thể luận còn là cơ sở nền tảng cho nhiều chuyên ngành triết học khác Để hiểu

sâu hơn, em xin trình vấn đề: “Vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ cổ

đại”.

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái quát về bản thể luận

Bản thể luận là một khuynh hướng chủ đạo của triết học phương Tây cổ đại, nghiên cứu các khái niệm về thực tại và bản chất của sự tồn tại, bản thể luận được hình thành trên cơ sở của siêu hình học (metaphysics) Bản thể luận tìm cách mô tả phạm trù tồn tại và các mối quan hệ của phạm trù tồn tại để xác định nên thực thể và các kiểu thực thể bên trong khuôn khổ của tồn tại

Bản thể luận hình thức, là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề

sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác để làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể Bản thể luận luôn phải chỉ rõ những từ ngữ nào dùng để chỉ những thực thể nào, những từ ngữ nào không, tại sao, và phạm trù kết quả là thế nào Vì thế bản thể luận còn là cơ sở nền tảng cho nhiều chuyên ngành triết học khác

Thuật ngữ bản thể luận bao hàm hai vấn đề:

- Cách nhìn nhận thực tế xã hội (là khách quan hay chủ quan?)

- Xã hội quy định hành vi cá nhân hay chính các hành vi của con người tạo thành sự tồn tại của xã hội (cái nào quyết định cái nào?)

- Kiểu bản thể luận thứ nhất:

+ Nhìn nhận xã hội và văn hóa như là thực tại khách quan:

Đại diện cho quan điểm này có thể kể từ Francis Bacon (15611626) -người cha đẻ của tinh thần thực nghiệm khoa học Nhưng phải đến khi Auguste Comte (1798-1857) đặt tên sociology cho một bộ môn khoa học mới, thì quan điểm coi xã hội là một thực tại khách quan và xã hội cũng cần được nghiên cứu bằng những "phương pháp khoa học" - tức được nghiên cứu theo cách của khoa học tự nhiên - mới được thừa nhận và phát triển (Nói theo ngôn từ của A Comte thì khoa học nghiên cứu về xã hội ấy phải được hiểu như là "vật lý xã hội")

Trong các nghiên cứu văn hoá của các chuyên ngành như tâm lý học, nhân học, xã hội học, khuynh hướng trên cũng được thể hiện rất rõ

Trang 4

Tiêu biểu cho khuynh hướng này trước hết phải kể đến E Durkheim Thực tại xã hội - theo Durkheim - là thực tại khách quan, tính khách quan đó được thể hiện ở “sự kiện xã hội”, ở “ý thức tập thể” Ông cho rằng, “sự kiện xã hội”- những cách thức hành động, kể cả tư duy và cảm giác - có đặc tính đáng chú ý là tồn tại ngoài ý thức của cá nhân

Các loại hình hành vi hay tư duy đó chẳng những ở bên ngoài cá nhân, mà còn có sẵn một sức mạnh ra mệnh lệnh và cưỡng bức, nhờ đó mà chúng được áp đặt cho cá nhân, dù cá nhân đó muốn hay không Chắc chắn là khi tôi hoàn toàn

tự nguyện phù hợp với nó, sự cưỡng bức ấy sẽ không còn làm cho cảm thấy, hoặc chỉ cảm thấy ít thôi, vì vô ích Nhưng nó vẫn là một thực chất bên trong của các sự kiện ấy, chứ không ít hơn, và bằng chứng là nó tự khẳng định khi tôi

cố chống lại.1

+ Xã hội quy định hành vi của cá nhân

Trong các chuyên ngành nghiên cứu văn hoá, đặc biệt là trong nhân học

và xã hội học, kiểu bản thể luận thứ nhất thường được thể hiện ở việc lựa chọn

lý thuyết tổng thể luận, coi xã hội là một cấu trúc hữu cơ, tồn tại khách quan và quy định hành vi của các thành viên trong xã hội Xã hội học cấu trúc - chức năng của Talcott Parsons chẳng hạn: Trong lý thuyết này, ông không phủ nhận rằng các chủ thể cá nhân trong xã hội đã có những giá trị, những niềm tin, những động cơ và những thái độ tương đối riêng, nhưng các phân tích của Parsons cho rằng các khía cạnh này của kinh nghiệm và ý nghĩa của nó đến từ bên ngoài cá nhân

Thái độ và hành vi cá nhân trước tiên và trên hết là những phản chiếu hoặc những biểu đạt của một văn hóa tập thể không - cá nhân làm phát sinh những mong đợi, niềm tin và thực hành Như vậy hệ thống văn hóa được coi như ở bên ngoài ý thức cá nhân, những thành phần cấu trúc của nó, đặc biệt tập hợp thiết chế những chuẩn mực của nó, buộc các cá nhân xử sự theo một cách riêng biệt

1 Emile Durkheim (1993), Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, tr.30.

Trang 5

Bởi vậy, kiểu phân tích này cho rằng các cấu trúc xã hội, với tư cách là những cái quyết định hành vi, không thể bị giảm xuống thành những hành động

cá nhân kín đáo hoặc được xác định bằng những hành động đó

Như vậy, các nghiên cứu về xã hội và văn hoá là nhằm vào sự khám phá

ra những mối quan hệ nhân - quả giữa các hiện tượng (hay giữa các thành tố trong một sự vật, hiện tượng) trong thực tế Nói cách khác là chúng phải đi tìm những qui luật khoa học trong các mối tương liên nhân - quả ấy Theo cách đó, các sự kiện trong tương lai cũng có thể được dự báo

Tiếp theo, những nghiên cứu tuân thủ phương pháp luận này phải đưa ra những giả định về cấu trúc và những quan hệ nhân - quả vẫn còn chưa được chứng minh của đối tượng nghiên cứu Đó là giả thuyết Giả thuyết có thể được xây dựng thành một lý thuyết nếu nó được kiểm chứng

- Kiểu bản thể luận thứ hai

+ Nhìn nhận xã hội và văn hóa như là thực tại chủ quan

Quan niệm này có gốc rễ đầu tiên ở nền triết học và khoa học xã hội Đức cuối thế kỷ XIX-đầu XX Các học giả Đức như Sombart, Dilthey, Rickert và Weber, tất thảy đều quan tâm theo nhiều cách phân biệt các khoa học "nhân văn" hoặc "văn hoá" với các khoa học tự nhiên Họ cho rằng, khác với khoa học

tự nhiên (có đối tượng nghiên cứu là những sự vật tồn tại khách quan, và tìm ra qui luật nhân quả của những sự kiện "bên ngoài" là mục đích của các nghiên cứu), đặc trưng của "khoa học nhân văn" (hay "triết học đời sống") là quan tâm đến tri thức bên trong của "cách cư xử có ý nghĩa", hoặc, quan tâm đến sự "nắm bắt ý nghĩa" của một kinh nghiệm cá nhân về thế giới Một nhà xã hội học đã phát biểu quan điểm của mình về vấn đề này như sau:

Con người không phải là những "sự vật" phải được nghiên cứu theo cách người ta nghiên cứu cây cỏ hoặc đá, mà là những sinh vật kèm theo giá trị, ý nghĩa mà phải được hiểu như là những chủ thể và được biết như là chủ thể Xã hội học đề cập đến hành động có ý nghĩa, và mọi sự hiểu biết, giải thích, phân tích, hoặc bất cứ gì khác, phải được tiến hành với sự cân nhắc tới những ý nghĩa

Trang 6

đang khiến cho sắp xếp hành động con người trở nên khả thể áp đặt những ý nghĩa thực chứng luận lên lĩnh vực các hiện tượng xã hội, đó là bóp méo bản chất cơ bản của sự tồn tại con người

Khác với một người thường, một nhà nhân học văn hóa khi quan sát sẽ cố gắng tìm hiểu để phân biệt sự khác biệt của một cái nháy mắt với một cái chớp mắt Các nhà nhân học sẽ dựa vào những hiểu biết về văn cảnh mà hành động được quan sát diễn ra và cá nhân ấy để phân biệt ý nghĩa của những tín hiệu dường như giống nhau ấy: hoặc ý nghĩa ấy sẽ là “tôi đang đùa”, hay “em đẹp thật”, hoặc “được đấy” 2

+ Thế giới được cấu thành thông qua sự tác động qua lại giữa những chủ thể

Những người theo quan điểm này cho rằng, "thực tại xã hội được tạo ra một cách có ý thức và tích cực bởi các cá nhân có ý định làm các chuyện này chuyện nọ và gán những ý nghĩa cho hành vi những người khác Vậy là, về mặt bản thể luận, thực tại xã hội chỉ tồn tại như sự tác động qua lại có ý nghĩa giữa các cá nhân”

Những ngôn từ trên giống như tuyên ngôn của kiểu bản thể luận thứ hai: Không có sự tồn tại của xã hội hay văn hoá một cách chung chung, trừu tượng, ngược lại chỉ khi có những con người cụ thể giao tiếp với nhau trong những hoàn cảnh cụ thể mới tạo ra thực tại xã hội

Những người bị chi phối bởi kiểu bản thể luận thứ hai này được coi là những người theo phản - thực chứng luận, họ luôn cố gắng "xem xét thế giới qua những đôi mắt của chủ thể và đem ý nghĩa cho nó qua những phương tiện họ sử dụng, bởi lẽ không có thế giới xã hội nào ngoài cái thế giới này” Như vậy, phản

- thực chứng luận là một kiểu bản thể luận

Thực ra, thuật ngữ "phản - thực chứng" chỉ là một thuật ngữ mang tính qui ước, dùng để chỉ những quan điểm đối lập với quan điểm thực chứng luận

2 Richard L Warms; R Jon MC Gee (2000), Lý thuyết nhân học (người dịch Bùi Lưu Phi Khanh), tư liệu Viện Văn hóa Thông tin Tr.12.

Trang 7

Quan điểm này phê phán thực chứng luận chủ yếu ở việc bác bỏ quan điểm "xã hội có thể được mô tả và hiểu theo một bản thể luận và phương pháp luận coi hành vi xã hội như phạm trù được quan niệm trước mà thực chứng luận nghĩ ra để định nghĩa thực tế xã hội"

2 Vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ cổ đại

Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo Đúng như lời nhận xét của Radhakrishnan:"Triết học Ấn Độ mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc chiến tranh của thù trong giặc ngoài Hết người Hy Lạp, người Mông Cổ, đến người Pháp, người Anh đã muốn tàn phá và huỷ diệt nền văn minh của đất nước này, nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu Trong suốt quá trình lịch sử của mình, đất nước Ấn Độ tồn tại vì một mục đích: Đấu tranh cho chân lý và chống lại mọi sai lầm Lịch sử tư tưởng Ấn Độ đã và đang minh chứng về những cuộc kiếm tìm vô tận của trí tuệ trong quá khứ, hiện tại và tương lai"

Giống như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ ra đời sớm và chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về thế giới, trong đó có vấn đề phạm trù triết học Điều này dễ hiểu, bởi nếu không có các phạm trù triết học thì không thể có tư duy logic và quá trình nhận thức thế giới khách quan Theo cách phân chia truyền thống, triết học Ấn Độ cổ đại được chia thành hai hệ thống với 9 trường phái Hệ chính thống gồm 6 trường phái: Mimansa, Vêdanta, Samk- huya, Nyaya, Vaisesika Hệ không chính thống gồm 3 trường phái: Jainism (Kỳ na giáo), Budđhism (Phật giáo), Lokayata hay còn gọi là Carvaka Trong 9 trường phái kể trên, có 3 trường phái đề cập đến vấn đề phạm trù triết học một cách chuyên sâu và hệ thống, đó là: Jainism, Nyaya, Vaisesika

Jainism - trường phái triết học mang đượm màu sắc tôn giáo, ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN Người sáng lập là Ma- havira Tư tưởng triết học của trường phái này được phản ánh trong "Tattvartha" Quan điểm của các nhà

Trang 8

triết học theo trường phái này mang tính mâu thuẫn Họ là những người duy vật khi giải quyết vấn đề bản thề luận Theo họ, vật chết là bản thể vũ trụ, tồn tại một cách khách quan trong không gian và thời gian Nhưng khi giải quyết vấn

đề nhận thức luận, họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan và tương đối luận Theo họ, mọi mệnh đề cung như khách thể nhận thức đều có tính ước lệ, tương đối, chưa đầy đủ vì nó dược xác định bởi chủ thể nhận thức Dựa trên nhưng quan điểm triết học như vậy, các nhà triết học theo trường phái Jainism đưa ra một hệ thống bao gồm 9 phạm trù triết học như:

+ Giới hữu cơ (jiva): Phạm trù này bao gồm các thực thể có linh hồn, trong đó có con người

+ Giới vô cơ (ajiva): Phạm trù này bao gồm các thực thể không có linh hồn nhưng chúng có thể nhận thức được bằng các giác quan, trong đó vật chất đóng vai trò quan trọng Vật chất được xem như một thực thể cấu tạo tử nguyên

tử, không gian, thời gian, vận động và đứng yên Không gian là khoảng trống cho vật chết tồn tại, còn thời gian là hình thức của vũ trụ liên kết chuỗi vận động liên tục của thế giới

+ Cái thiện: sự thể hiện nhưng hành động tốt

+ Tội lỗi: sự thể hiện những hành động

+ Asrava: sự di chuyển vật chất vào linh hồn, được hiểu như nguyên nhân của sự phụ thuộc

+ Samvara: hành động ngăn chặn quá trình đi chuyển vật chất vào linh hồn

+ Phụ thuộc: được coi như là sự thể hiện mối quan hệ giữa linh hồn và các hành vi liên kết nó

+ Nírjan: cái phá huỷ hay đập tắt các nghiệp liên kết như thân nghiệp, khẩu nghiệp, hành nghiệp

+ Giải thoát: được hiểu như là sự phân cách tuyệt đối giữa linh hồn và thể xác

Trang 9

Theo các nhà triết học thuộc trường phái này, người nào củng cố và làm chủ được 9 phạm trù kể trên sẽ có những hành động đạo đức đúng, niềm tin vững vàng và tri thức đầy đủ Nhìn vào hệ thống 9 phạm trù nêu trên chúng ta thấy các phạm trù đã bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau của thế giới, từ tự nhiên đến xã hội, đạo đức, tôn giáo… Trong số 9 phạm trù kể trên, hai phạm trù "giới hữu cơ" và "giới vô cơ" được đặt lên vị trí hàng đầu, từ chúng có thể triển khai thành các phạm trù con khác Qua việc phân tích các phạm trù đó chúng ta cũng thấy rằng các nhà triết học đã nhìn thấy vai trò của các phạm trù đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn, coi chúng như những phương tiện để con người có thể đạt được tri thức

Vaisesika - trưởng phái triết học xuất hiện vào thế kỷ thứ III TCN Nội dung chủ yếu của trường phái này được phản ánh trong "Vaisesika sung", trong

đó trình bày học thuyết nguyên tử (Atomism) và hệ thống bao gồm 7 phạm trù triết học sau:

+ Thực thể

+ Thuộc tính hay là chất (gừng)

+ Vận động hay là nghiệp (karma)

+ Cái chung

+ Cái đặc thù

+ Tồn tại

+ Không tồn tại

Trong 7 bản thể nêu trên, các nhà triết học tập trung phân tích 2 phạm trù chủ yếu thực thể và thuộc tính Phạm trù thực thể được triển khai thành 9 phạm trù phụ thuộc (phạm trù con), thuộc hai nhóm vật chất và phi vật chất Nhóm vật chất gồm 5: đất, nước, lửa, không khí, ethe Nhóm phi vật chất gồm 4: thời gian, không gian, linh hồn, trí tuệ Phạm trù thuộc tính được triển khai thành 24 phạm trù con: xúc giác, vị giác, thị giác, khướu giác, thính giác, lượng, liên kết, phân

rã, đại lượng, xác đính, khuyếch tán, hội tụ, khả năng, học hỏi, thoả mãn, đau

Trang 10

khổ, mong muốn, thiện và ác, nỗ lực, ấn tượng, ghét bỏ, nhầy nhụa, nặng nề, lưu động và nhanh nhẹn

Nyaya - trường phái triết học xuất hiện vào thế kỷ thứ I sau CN Quan điểm triết học của trường phái này chủ yếu được phản ánh trong "Nyaya sutra”

mà tác giá là Gau- tama Theo các nhà triết học thuộc trường phái này, thế giới tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người, nhận thức là quá trình phát hiện khách thể và tiêuchuẩn của nhận thức là thực tiễn Trường phái triết học này chú trọng đến vấn đề logic, họ đưa ra hệ thống bao gồm 16 bản thể luận logic sau:

+ Phương tiện hay công cụ nhận thức: được biểu hiện dưới 4 dạng: tri giác, kết luận, so sánh, chứng minh bằng lời

+ Đối tượng nhận thức chân chính: đó là linh hồn, thể xác, tình cảm, khát vọng

+ Nghi ngờ là tri giác không xác định (ví dụ: không rõ đàng kia là cây cột hay con người)

+ Nguyên nhân

+ Ví dụ: là sự kiện không thuộc đối tượng tranh luận

+ Quy tắc: bao gồm 4 dạng khác nhau:

Quy tắc chung được mọi người công nhận,

Quy tắc được công nhận bằng một trường phái nào đó

Quy tắc từ đó có thể rút ra nhưng quy tắc khác

Quy tắc được chấp nhận như một niềm tin

+ Các thành phần của tam đoạn luận bao gồm 5 thành phần:

Phán đoán làm tiền đề cần phải chứng minh (đồi có lửa cháy)

Cơ sở của sự chứng minh đó (bởi trên đồi có khói)

Phán đoán chung trong đó ví dụ đưa ra là trường hợp phụ thuộc (ở đâu có lửa, ở đỏ có khói)

Phán đoán chứng thực cho phán đoán chung trong trường hợp cụ thể (trên đồi có khói)

Ngày đăng: 13/02/2023, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w