1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương chương 1 2 luật hôn nhân và gia đình, câu hỏi nhận định có đáp án

22 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương chương 1 2 luật hôn nhân và gia đình, câu hỏi nhận định có đáp án
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình
Thể loại Đề cương
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 165,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề 1 Kết hôn a) Khái niệm Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Khoản 5 Điều 3 Luật HNGĐ 2014) b) Điều kiệ.

Trang 1

Vấn đề 1: Kết hôn a) Khái niệm:

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Khoản 5 Điều 3 Luật HNGĐ 2014)

b) Điều kiện kết hôn (Điều 8 LHNGĐ 2014)

- Điều kiện tuổi kết hôn:

+ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định chặt chẽ hơn khi bổ sung thêm từ “đủ” vào độ tuổi, có nghĩa nam phải tròn 20 tuổi không thiếu 01 ngày,

nữ phải tròn 18 tuổi không thiếu 01 ngày mới đủ tuổi kết hôn Độ tuổi này được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và rất phù hợp với thực tế vì ở

độ tuổi như vậy, cả nám và nữ đều đã là người đủ năng lực hành vi dân sự, có thể tự lao động để nuôi bản thân cũng như có đủ trưởng thành để xây dựng cuộc sống hôn nhân

+ Thực tiễn: Ngoài ra, thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều

bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn Ở một số địa phương, cộng đồng, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này đặc biệt tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc ít người sinh sống còn khá cao Nhưng trên thực tế khá nhiều nam, nữ chung sống với nhau như

vợ chồng chưa tới độ tuổi này và Pháp luật về hộ tịch vẫn thừa nhận quyền làm

mẹ của người chưa đủ 18 tuổi, vẫn được đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú

- Điều kiện ý chí chủ thể trong kết hôn

+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định Việc kết hôn cũng được coi như một giao dịch dân sự vậy, các bên tham gia vào quan hệ vọ chồng phải tự mình tham gia, tự mình thỏa thuận và tự nguyện, không được lừa dối, cưỡng épkết hôn

+ Quy định này nhằm đề cao tính độc lập về suy nghĩ và sự tự nguyện, chủ động quyết định dựa trên tình cảm, tình yêu của mỗi bên nam, nữ khi kết hôn Đây cũng là đặc điểm quan trọng của chế độ hôn nhân tiến bộ, khác với chế độ hôn nhân cổ hủ thời phong kiến với quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, ép

Trang 2

buộc một bên hoặc cả 02 bên nam nữ phải kết hôn trái với ý chí, nguyện vọng, tình cảm của mình.

- Điều kiện năng lực hành vi dân sự

+ Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân trong việc nhận thức, điều khiển hành vi của mình xác lập quyền, thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân,

+ Nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn với người khác sẽ không đạt được mục tiêu xây dựng được gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; sẽ ảnh hưởng đến khả năng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người bạn đời của mình cũngnhư các thành viên khác trong gia đình Chưa kể người bị mất năng lực hành vidân sự kết hôn với người khác có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh sản hoặc tạo ra các thế hệ cũng bị mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Các trường hợp cấm kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng:

(điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

+ Cấm kết hôn giả tạo (Khoản 11 Điều 3 LHNGĐ 2014): Trên thực tế thì việc kếthôn giả tạo vẫn được đảm bảo về thủ tục pháp lý, những cặp vợ chồng dù chỉ kết hôn giả tạo vẫn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Tuy nhiên, mục đích của hôn nhân lại không đảm bảo và việc kết hôn, cũng như các thủ tục pháp lý chỉ là hình thức giấy tờ, hai người không hề chung sống với nhau hoặc chung sống nhưng lại nhanh chóng ly hôn sau khi một trong hai người

hoặc cả hai đã đạt mục đích Hôn nhân giả tạo thực chất chỉ là cuộc hôn nhân theo hợp đồng thỏa thuận trái với quy định pháp luật vì những lợi ích nào

đó chứ không xuất phát từ tình yêu với mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình.

+ Cấm tảo hôn, lừa dối, cưỡng ép, cản trở kết hôn

Trang 3

+ Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời không có tính khả thi khi áp dụng

tại các vùng dân tộc thiểu số (Ví dụ như đồng bào dân tộc Xinh Mun trên địa bàn huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La còn có hôn nhân cận huyết nhiều)

+ Kết hôn trái pháp luật được hiểu: “ Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã

đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này” Như

vậy trong Điều 8 có dẫn chiếu đến các điểm a,b,c,d khoản 2 Điều 5 của Luật

quy định các hành vi bị cấm Trong đó tại điểm c quy định cấm “ Người đang

có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” Những trường hợp người đang có vợ, có

chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác trên thực tế xảy ra khá nhiều, ảnh hưởng không nhỏ đến danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ nói riêng, phá vỡ hạnh phúc gia đình vốn đang tốt đẹp, nhưng rất khó giải quyết Muốn xác định chung sống như vợ chồng với nhau phải đáp ứng nhiều khía cạnh pháp lý, do vậy đường lối giải quyết của địa phương đa phần là vận động, giải thích pháp luật để các bên chấm dứt quan hệ sai trái

+ Khoản 5 Điều 10 của Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng giới tính” còn khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014 quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người

cùng giới tính” Quy định như vậy có nghĩa là Nhà nước sẽ không công nhận

mối quan hệ hôn nhân của những người cùng giới tính là hợp pháp, không

chấp nhận cho họ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Những người cùng giới có thể làm lễ cưới, thực hiện các nghi thức kết

hôn như những cặp đôi nam nữ bình thường khác tuy nhiên pháp luật lại không công nhận mối quan hệ của họ là hôn nhân hợp pháp, việc họ ăn ở

Trang 4

chung với nhau không làm phát sinh quyền, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm như vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn.

+ Về quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự Người mất năng lực

dân sự được hiểu là người bị mắc căn bệnh làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự

+ Quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đặc biệt đối với trường hợp chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 Theoquy định tại Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì những trường hợp này xem như đã có đăng ký kết hôn, trong mọi giao dịch của họ được xem là vợ chồng hợp pháp

c) Đăng ký kết hôn:

Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo các quy định của pháp luật về điều kiệnkết hôn và đăng ký kết hôn Vì vậy, khi kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy

định về ĐKKH và phải thực hiện việc Đăng ký kết hôn theo quy định PL.

- Thẩm quyền đăng ký kết hôn:

+ Không có yếu tố nước ngoài (Điều 17, 53 Luật hộ tịch)

Căn cứ Điều 17 Luật hộ tịch 2014: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn”.

Nơi cư trú của công dân được Luật cư trú giải thích cụ thể như sau: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống.”

Theo như quy định trên, thẩm quyền đăng ký kết hôn thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú của một trong các bên thực hiện đăng ký kết

hôn

Trang 5

+ Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài (Khoản 1 ĐIều 123 LHNGĐ 2014, Điều 7(điểm d, khoản 1), Điều 37, ĐIều 53 Luật hộ tịch, Điều 18 NĐ 123/2015)

Luật Hộ tịch mới số 60/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 1-1-2016 thì thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài do UBND huyện thực hiện Cụ thể như sau:

UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn

giữa công dân trong nước với người nước ngoài, giữa công dân trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau, giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài

Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì UBND cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kếthôn

Như vậy, thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài đã được chuyển từ Sở

tư pháp sang Uỷ ban nhân dân cấp huyện Sự thay đổi này sẽ giúp giảm bớt được chi phí, thời gian cho công dân trong việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan

đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài) thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nếu việc đăng ký đó không trái với pháp luật của nước sở tại

Trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài kết hôn với nhau thì Cơ quan đại diện thực hiện đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu

Ngoài ra, đối với trường hợp người Việt Nam và người nước ngoài sinh sống tại khu vực biên giới thì thẩm quyền đăng ký tại khu vực biên giới thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã

- Hậu quả pháp lý của việc kết hôn không đúng thẩm quyền

Theo quy định tại Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2014, việc kết hôn không đúng thẩm quyền thì sẽ không có giá trị pháp lý

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn sẽ bị thu hồi, hủy bỏ, 2 bên nam nữ sẽ phải đăng ký kết hôn lại tại cơ quan có thẩm quyền

Trang 6

- Nghi thức, thủ tục đăng ký kết hôn:

Vấn đề 2: Hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận QH vợ chồng a) Khái niệm

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này (Khoản 6 Điều 3 LHNGĐ 2014)

b) Xử lý kết hôn trái pháp luật

- Thẩm quyền xử lý việc kết hôn trái pháp luật

Theo khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Tòa án thực hiện việc xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và pháp luật về tố tụng dân sự

Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa

án phải căn cứ vào các yếu tố sau để quyết định như:

+ Yêu cầu của đương sự;

+ Điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

+ Điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

(Căn cứ khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch BTP)

01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC Trường hợp hai bên kết hôn trái pháp luật vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn tại thời điểm Tòa án giải quyết

Tại khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP,

trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên

Trang 7

kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì thực hiện như sau:

+ Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;

+ Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trong các trường hợp trên thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

- Trường hợp cả hai bên kết hôn đã có đủ điều kiện kết hôn tại thời điểm Tòa án giải quyết

Khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch

01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì Tòa án xử lý như

sau:

+ Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa

án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn

có đủ điều kiện kết hôn

+ Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều

12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Trang 8

- Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôncòn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Trong trường hợp này:

+ Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn;

+ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

+ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

- Ai có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật?

+ Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn

Theo khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người bị cưỡng ép kết hôn, bịlừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền sau:

- Tự mình yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm điềukiện tự nguyện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

- Đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình

2014 yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm điều kiện

tự nguyện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức theo khoản 2 Điều 10 LHNGĐ 2014

Cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, bao gồm:

Trang 9

- Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con,người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật.

- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình

- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

- Hội liên hiệp phụ nữ

Ngoài ra, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức như cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

- Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:

+ Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan

c) Không công nhận quan hệ vợ chồng

- Căn cứ không công nhận QHVC

+ không đăng ký kết hôn

Trang 10

Theo quy định tại điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

+ kết hôn cùng giới tính

Hiện nay, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn nhưng cũng “không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này Do vậy, dù những người đồng giới kết hôn họ cũng không được công nhận là vợ chồng hợp pháp

+ không đủ điều kiện kết hôn

Điều kiện kết hôn theo quy định hiện nay gồm:

Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại cácđiểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này, gồm:

+ đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp việc đăng

ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch

và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước…”

Vấn đề 3: Quan hệ giữa vợ và chồng

1 Khái niệm QHVC

Là quan hệ phát sinh do hành vi kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng được PL thừa nhận; gồm quyền

Trang 11

CÂU HỎI

1 Xác định thời kỳ hôn nhân theo PL hiện hành

- Khái niệm thời kỳ hôn nhân (TKHN)

Khoản 13 Điều 3 LHNGĐ: “ Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ

vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.

Theo đó:

+ ngày đăng ký kết hôn được lấy làm mốc đầu để thời kỳ hôn nhân bắt đầu, + ngày chấm dứt hôn nhân là mốc cuối

Khi thời kỳ hôn nhân bắt đầu thì pháp luật cũng bắt đầu điều chỉnh quan hệ này giữa

vợ và chồng, trong đó bao gồm tài sản chung, con cái, quan hệ cấp dưỡng, nuôi dưỡngkhác đối với các thành viên trong gia đình với nhau,…

Trường hợp TKHN bắt đầu trước ngày đăng ký kết hôn và sau ngày đăng ký kết hôn.

+ Thời kỳ hôn nhân bắt đầu trước ngày đăng ký kết hôn

Điều 13 LHNGĐ quy định như sau: “Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không

đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, huỷ bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.”

Như vậy, nếu lần đầu đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn thì khi có yêu cầu, người đăng ký kết hôn sai thẩm quyền phải đi thực hiện đăng ký kết hôn lần thứ hai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Lúc này,

quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn tại cơ quan không đúng thẩm quyền (tức lần đầu).

+ Thời kỳ hôn nhân bắt đầu sau ngày đăng ký kết hôn

Khái niệm “kết hôn trái pháp luật” được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình là:

“việc nam, nữ đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật này.”

Ngày đăng: 12/02/2023, 21:03

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w