MỞ ĐẦU 1/ Tính cấp thiết của đề tài. Theo dòng chảy của quỹ đạo thời gian, tư duy lại quá khứ về quá trình phát triển của một hình thái xã hội. Một hình thái có tính khoa học và tiên tiến của nhân loại, đó là hình thái xã hội chủ nghĩa. Ở đó, không áp bức bất công, không bóc lột giữa người với người, mọi người cùng phát triển, con người được giải phóng hoàn toàn. Quá trình ấy là một quá trình phát triển rích rắc; có lúc thăng, lúc trầm; có khi phát triển đạt đến đỉnh cao khoa học của nhân loại, nhưng cũng có khi suy thoái cục bộ một số mô hình. Tuy nhiên, dù sao chăng nữa có thể khẳng định rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải phóng được con người, cũng như con người sống trong xã hội chủ nghĩa mới được giải phóng. Lịch sử nhân loại trải qua các hình thái xã hội, theo đó hình thành các kiểu ý thức xã hội tương ứng với từng hình thái xã hội ấy. Tất cả đã chứng minh được rằng một hình thái xã hội cũ mất đi, một hình thái xã hội mới xuất hiện bao giờ cũng có sự kế thừa từ những tinh hoa, những cái tiên tiến ban đầu. Cụ thể là, khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, thì trước đó đã xuất hiện trong lòng Nhà nước Phong Kiến những tư tưởng tư sản, hệ tư tưởng tư sản hình thành và phát triển cùng với hệ tư tưởng Phong Kiến trong cùng một xã hội và luôn diễn ra sự đấu tranh gây gắt của hai hệ tư tưởng giữa cái lạc hậu lỗi thời - cái tiến bộ, giữa hệ tư tưởng Phong Kiến và hệ tư tưởng Tư Sản. Cuối cùng thì lịch sử xã hội loại người chỉ chấp nhận những yếu tố nào tiến bộ, tiên tiến và đào thải, loại bỏ những gì chậm tiến bộ, kiềm hãm con người phát triển. Cứ thế, khi chủ nghĩa xã hội ra đời, trước những nhu cầu thiết thực của nhân loại, thì lịch sử lập lại một lần nữa sự lựa chọn, tiếp thu những cái ưu việt, những cái tiến bộ, những cái tinh hoa trên cơ sở nền tảng của cái củ. Đó là, chủ nghĩa xã hội, một xã hội mà ở đó con người được giải phóng, tự do thật sự, không áp bức bất công , không bóc lột, con người được phát triển toàn diện. Tuy nhiên, Sự phát triển của hệ tư tưởng vô sản cũng trải qua quá trình đấu tranh quyết liệt của hệ tư tưởng đối lập, đó là sự đấu tranh giữa hệ tư tưởng tư sản và hệ tư tưởng vô sản. Chúng phủ định, chống phá cái mới, cái tiến bộ nhằm giữ vị trí thống trị của mình. Đặc biệt là, sự không thừa nhận chủ nghĩa xã hội của các nước tư sản có tiềm năng kinh tế và sức mạnh quân sự hiện đại. Cho nên, chúng dùng mọi biện pháp, mọi thủ đoạn chống phá các nước xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực, trong và ngoài nước. Nhằm tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa vì họ cho rằng đây là những quái thai của xã hội hiện đại, đó là xã hội tư bản của giai cấp tư sản. Xuất phát từ những vấn đề có tính chất lịch sử. Do vậy, trong toàn bộ chiến lược toàn cầu phản cách mạng chống phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, các thế lực hiếu chiến và chống cộng luôn tập trung mũi nhọn tuyên truyền về sự phá sản của chủ nghĩa xã hội và sự vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản. Họ sử dụng đồng bộ và tổng hợp nhiều biện pháp, kể cả những biện pháp bạo lực phản cách mạng nhằm làm giảm bớt hoặc vô hiệu quá vai trò lãnh đạo của Đảng tiến tới tiêu diệt Đảng cộng sản, nhằm cố chứng minh cho cái gọi là chủ nghĩa xã hội sẽ bị phá sản hoàn toàn và chủ nghĩa tư bản sẽ tồn tại vĩnh hằng. Từ khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ và một số Đảng cộng sản, công nhân ở Đông Âu tan rã, các thế lực chống cộng càng đẩy tới chiến dịch tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội, chống Đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa còn lại một cách quyết liệt. Họ cho rằng, không còn thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội do Cách Mạng Tháng Mười mở đầu và điên cuồng chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa với mưu đồ kết liễu nó vào cuối thế kỷ XX. Khi ý đồ đó bị thất bại họ tiếp tục quyết định kéo dài việc thực hiện mục tiêu ấy đến những thập niên đầu thế kỷ XXI. Việt Nam được xác định là một trong những trọng điểm trong chiến dịch tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội của họ. Thời gian gần đây, các thế lực hiếu chiến và chống cộng ở phương Tây rộ lên các chiến dịch chống Việt Nam; ngang nhiên đả kích, trắng trợn vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam. Một số phần tử phản động người Việt sống lưu vong ở nước ngoài cũng ráo riết hoạt động. Chúng lập ra các nhóm, đảng, nhen nhóm cái gọi là phong trào nọ, chiến dịch kia; rồi giao dịch, thư từ, mốc nối, đi lại rối rít như con thoi. Thậm chí chúng chuẩn bị kế hoạch đưa cả người, cả tiền của, súng đạn về nước để tiến hành hoạt động lật đổ. Đặc biệt, chúng triệt để khai thác các phương tiện thông tin như một công cụ cực kỳ lợi hại để tuyên truyền, kích động, phá hoại ta về mặt tư tưởng. Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng đẻ ra nhiều tờ báo, nhiều ấn phẩm; sử dụng lợi thế của các phương tiện nghe nhìn , và các công nghệ mới, lập thêm các đài phát thanh với nhiều thứ tiếng ra rả rêu rao các luận điệu chống chủ nghĩa xã hội một cách thâm độc. Mặt khác, đối với tình hình trong nước chúng ra sức tuyên truyền, dùng mọi biện pháp kể cả chính trị, kinh tế và đa dạng về hình thức, nhằm bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, bôi nhọ lãnh tụ, từng bước làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động quần chúng gây rối trật tự địa phương, không ổn định về chính trị, gây hoan mang về tư tưởng, mất lòng tin vào Nhà nước để từng bước đứng hẳn về với họ; Ngoài ra, chúng sử dụng thủ đoạn thâm độc hơn là lôi kéo những phần tử bất mảng chế độ có ảnh hưởng lớn trong xã hội để tuyên truyền theo nội dung và mục đích đã định trước, nhằm làm cơ sở chứng minh cho những luận điệu phản khoa học của chúng. Mục tiêu số một của họ lúc này là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, khai tử nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thay nó bằng chế độ tư bản chủ nghĩa. Bằng thủ đoạn thâm độc với quy mô, cường độ chống phá ta ở mật độ cao, các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong đã gây ra tình hình bất ổn định về chính trị, môi trường xã hội thiếu sự thông thoáng tuyệt đối, đậm nét nhất là hàng loạt các điểm nóng đây đó xảy ra trong nước ta như : điểm nóng Thái Bình; điểm nóng Phật giáo ở Huế; điểm nóng ở Giáo sứ Trà Cổ ở Đồng Nai và đặc biệt là điểm nóng ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam. Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi chúng ta phải nhận thức và xử lý đúng đắn, kịp thời các điểm nóng để giử vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện yêu cầu đó, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo chính trị phải có bản lĩnh chính trị, có năng lực và phương pháp đúng để xử lý các tình huống chính trị - xã hội, các điểm nóng chính trị - xã hội khi chúng xảy ra. Xuất phát từ những yêu cầu mang tính thời sự cấp thiết của xã hội, vận dụng những kiến thức đã học ở trường, thực tiễn tham gia giải quyết điểm nóng ở Tây Nam bộ cụ thể là xã An Cư - huyện Tịnh Biên - tỉnh An Giang, một xã có đông đồng bào dân tộc Khmer và thành phần tôn giáo rất đa dạng và là một vùng biên giới rất nhạy cảm về chính trị. Với tinh thần của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng và là người con của quê hương Tịnh Biên anh hùng, tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Điểm nóng chính trị - xã hội ở xã An Cư, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang - cách xử lý và một số bài học kinh nghiệm” mong muốn được góp một ít công sức vào kho tàng lý luận và kinh nghiệm đối với việc xử lý điểm nóng chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước.
Trang 1MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài.
Theo dòng chảy của quỹ đạo thời gian, tư duy lại quá khứ về quá trình pháttriển của một hình thái xã hội Một hình thái có tính khoa học và tiên tiến của nhânloại, đó là hình thái xã hội chủ nghĩa Ở đó, không áp bức bất công, không bóc lộtgiữa người với người, mọi người cùng phát triển, con người được giải phóng hoàntoàn Quá trình ấy là một quá trình phát triển rích rắc; có lúc thăng, lúc trầm; có khiphát triển đạt đến đỉnh cao khoa học của nhân loại, nhưng cũng có khi suy thoái cục
bộ một số mô hình Tuy nhiên, dù sao chăng nữa có thể khẳng định rằng chỉ có chủnghĩa xã hội mới giải phóng được con người, cũng như con người sống trong xã hộichủ nghĩa mới được giải phóng
Lịch sử nhân loại trải qua các hình thái xã hội, theo đó hình thành các kiểu ýthức xã hội tương ứng với từng hình thái xã hội ấy Tất cả đã chứng minh được rằngmột hình thái xã hội cũ mất đi, một hình thái xã hội mới xuất hiện bao giờ cũng có sự
kế thừa từ những tinh hoa, những cái tiên tiến ban đầu Cụ thể là, khi chủ nghĩa tư bảnxuất hiện, thì trước đó đã xuất hiện trong lòng Nhà nước Phong Kiến những tư tưởng
tư sản, hệ tư tưởng tư sản hình thành và phát triển cùng với hệ tư tưởng Phong Kiếntrong cùng một xã hội và luôn diễn ra sự đấu tranh gây gắt của hai hệ tư tưởng giữacái lạc hậu lỗi thời - cái tiến bộ, giữa hệ tư tưởng Phong Kiến và hệ tư tưởng Tư Sản.Cuối cùng thì lịch sử xã hội loại người chỉ chấp nhận những yếu tố nào tiến bộ, tiêntiến và đào thải, loại bỏ những gì chậm tiến bộ, kiềm hãm con người phát triển
Cứ thế, khi chủ nghĩa xã hội ra đời, trước những nhu cầu thiết thực của nhânloại, thì lịch sử lập lại một lần nữa sự lựa chọn, tiếp thu những cái ưu việt, những cáitiến bộ, những cái tinh hoa trên cơ sở nền tảng của cái củ Đó là, chủ nghĩa xã hội,một xã hội mà ở đó con người được giải phóng, tự do thật sự, không áp bức bất công ,không bóc lột, con người được phát triển toàn diện Tuy nhiên, Sự phát triển của hệ tưtưởng vô sản cũng trải qua quá trình đấu tranh quyết liệt của hệ tư tưởng đối lập, đó là
sự đấu tranh giữa hệ tư tưởng tư sản và hệ tư tưởng vô sản Chúng phủ định, chống
Trang 2phá cái mới, cái tiến bộ nhằm giữ vị trí thống trị của mình Đặc biệt là, sự không thừanhận chủ nghĩa xã hội của các nước tư sản có tiềm năng kinh tế và sức mạnh quân sựhiện đại Cho nên, chúng dùng mọi biện pháp, mọi thủ đoạn chống phá các nước xãhội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực, trong và ngoài nước Nhằm tiêu diệt các nước xã hộichủ nghĩa vì họ cho rằng đây là những quái thai của xã hội hiện đại, đó là xã hội tưbản của giai cấp tư sản.
Xuất phát từ những vấn đề có tính chất lịch sử Do vậy, trong toàn bộ chiếnlược toàn cầu phản cách mạng chống phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cácthế lực hiếu chiến và chống cộng luôn tập trung mũi nhọn tuyên truyền về sự phá sảncủa chủ nghĩa xã hội và sự vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản Họ sử dụng đồng bộ vàtổng hợp nhiều biện pháp, kể cả những biện pháp bạo lực phản cách mạng nhằm làmgiảm bớt hoặc vô hiệu quá vai trò lãnh đạo của Đảng tiến tới tiêu diệt Đảng cộng sản,nhằm cố chứng minh cho cái gọi là chủ nghĩa xã hội sẽ bị phá sản hoàn toàn và chủnghĩa tư bản sẽ tồn tại vĩnh hằng
Từ khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ và một số Đảng cộng sản, công nhân ởĐông Âu tan rã, các thế lực chống cộng càng đẩy tới chiến dịch tuyên truyền chốngchủ nghĩa xã hội, chống Đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa còn lại một cáchquyết liệt Họ cho rằng, không còn thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội do Cách Mạng Tháng Mười mở đầu và điên cuồng chống phá chế độ xã hộichủ nghĩa với mưu đồ kết liễu nó vào cuối thế kỷ XX Khi ý đồ đó bị thất bại họ tiếptục quyết định kéo dài việc thực hiện mục tiêu ấy đến những thập niên đầu thế kỷXXI Việt Nam được xác định là một trong những trọng điểm trong chiến dịch tuyêntruyền chống chủ nghĩa xã hội của họ
Thời gian gần đây, các thế lực hiếu chiến và chống cộng ở phương Tây rộ lêncác chiến dịch chống Việt Nam; ngang nhiên đả kích, trắng trợn vu cáo, xuyên tạc,bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam Một số phần tử phản động người Việt sống lưuvong ở nước ngoài cũng ráo riết hoạt động Chúng lập ra các nhóm, đảng, nhen nhómcái gọi là phong trào nọ, chiến dịch kia; rồi giao dịch, thư từ, mốc nối, đi lại rối rít
Trang 3như con thoi Thậm chí chúng chuẩn bị kế hoạch đưa cả người, cả tiền của, súng đạn
về nước để tiến hành hoạt động lật đổ Đặc biệt, chúng triệt để khai thác các phươngtiện thông tin như một công cụ cực kỳ lợi hại để tuyên truyền, kích động, phá hoại ta
về mặt tư tưởng Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng đẻ ra nhiều tờ báo, nhiều ấnphẩm; sử dụng lợi thế của các phương tiện nghe nhìn , và các công nghệ mới, lậpthêm các đài phát thanh với nhiều thứ tiếng ra rả rêu rao các luận điệu chống chủnghĩa xã hội một cách thâm độc
Mặt khác, đối với tình hình trong nước chúng ra sức tuyên truyền, dùng mọibiện pháp kể cả chính trị, kinh tế và đa dạng về hình thức, nhằm bôi nhọ vai trò lãnhđạo của Đảng ta, bôi nhọ lãnh tụ, từng bước làm suy giảm lòng tin của nhân dân đốivới Đảng; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động quần chúng gây rối trật tựđịa phương, không ổn định về chính trị, gây hoan mang về tư tưởng, mất lòng tin vàoNhà nước để từng bước đứng hẳn về với họ; Ngoài ra, chúng sử dụng thủ đoạn thâmđộc hơn là lôi kéo những phần tử bất mảng chế độ có ảnh hưởng lớn trong xã hội đểtuyên truyền theo nội dung và mục đích đã định trước, nhằm làm cơ sở chứng minhcho những luận điệu phản khoa học của chúng Mục tiêu số một của họ lúc này là xoá
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, khai tử nền tảng tư tưởng của Đảng là chủnghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân doĐảng Cộng sản lãnh đạo, thay nó bằng chế độ tư bản chủ nghĩa
Bằng thủ đoạn thâm độc với quy mô, cường độ chống phá ta ở mật độ cao, các thếlực thù địch và bọn phản động lưu vong đã gây ra tình hình bất ổn định về chính trị, môitrường xã hội thiếu sự thông thoáng tuyệt đối, đậm nét nhất là hàng loạt các điểm nóng đây
đó xảy ra trong nước ta như : điểm nóng Thái Bình; điểm nóng Phật giáo ở Huế; điểmnóng ở Giáo sứ Trà Cổ ở Đồng Nai và đặc biệt là điểm nóng ở Tây Bắc, Tây Nguyên, TâyNam Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi chúng ta phải nhận thức và xử lý đúng đắn, kịp thờicác điểm nóng để giử vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện yêu cầu đó, đòi hỏi người cán bộ
Trang 4lãnh đạo chính trị phải có bản lĩnh chính trị, có năng lực và phương pháp đúng để xử lý cáctình huống chính trị - xã hội, các điểm nóng chính trị - xã hội khi chúng xảy ra.
Biên anh hùng, tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Điểm nóng chính trị - xã hội ở xã An Cư, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang - cách xử lý và một số bài học kinh nghiệm” mong
muốn được góp một ít công sức vào kho tàng lý luận và kinh nghiệm đối với việc xử lýđiểm nóng chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước
2/ Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề cập đến vấn đề mang tính thời sự sâu sắc đã, đang và sắp xãy ra trên địabàn Đồng thời, nghiên cứu tình hình và dự báo khả năng các điểm nóng có thể xảy ra
và các biện pháp cần thiết để xử lý các loại điểm nóng, trên từng vùng, từng khu vực,từng đặc thù cơ bản của dân tộc, tôn giáo cụ thể Xác định bản chất, nguyên nhân xảy
ra điểm nóng đã có nhiều văn bản, công trình nghiên cứu như :
- Các nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội
- Các bài viết trên các tạp chí: Cộng sản; Tư tưởng – Văn hoá; Thông tin lý luận…
- Các bài tham luận của các nhà lý luận trong các kỳ hội thảo về điểm nóng vàcác quy trình giải quyết điểm nóng do tỉnh An Giang đăng cai tổ chức
Nhìn chung, những đề tài nghiên cứu trên có cách tiếp cận và phương phápnghiên cứu khác nhau, làm rõ nhiều vấn đề về điểm nóng và các quy trình giải quyếtđiểm nóng nói chung Vì vậy, sinh viên mong muốn nghiên cứu đề tài này, nhằm cụthể hoá một số vấn đề về điểm nóng và các quy trình giải quyết điểm nóng ở phạm vimột Xã có đông đồng bào dân tộc, thành phần tôn giáo phức tạp và đặc thù là Xãbiên giới rất nhạy cảm về chính trị
Trang 53/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về điểm nóng và các quy trình giải quyếtđiểm nóng ở xã An Cư - huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang Từ đó nêu bật một số vấn
đề có tính bức thiết trong quá trình xử lý điểm nóng trước tình hình mới của đất nước
4/ Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài bắt đầu từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về điểm nóng và các quytrình giải quyết điểm nóng ở xã An Cư - huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang Từ đó đềxuất một số giải pháp và một số bài học kinh nghiệm cụ thể xử lý điểm nóng ở một xãđặc thù ở miền Tây Nam bộ
5/ Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp, dựa trên nền tảng phương pháp luậnduy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng, các phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lôgíc – lịch sử, phươngpháp thu thập và xử lý thông tin Qua tham khảo các loại sách, tạp chí nói về điểmnóng và các quy trình giải quyết điểm nóng để nghiên cứu
6/ Kết cấu đề tài
Nội dung của tiểu luận được chia thành ba chương.
Chương I : Vấn đề lý luận chung về điểm nóng xã hội và điểm nóng chínhtrị - xã hội Đặc điểm và vai trò của đồng bào dân tộc Khmer
Chương II: Diễn biến và quá trình xử lý điểm nóng chính trị - xã hội ở xã An
Cư - huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang
Chương III: Một số bài học kinh nghiệm
Ngoài ra còn có, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6NỘI DUNG
Chương I : VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỂM NÓNG XÃ HỘI VÀ ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER.
1.1 Một số khái niệm
1.1.1.Khái niệm điểm nóng xã hội:
Thuật ngữ " điểm nóng" được sử dụng trong nột số văn bản của các cơ quanĐảng, Nhà nước và khá phổ biến trong các văn bản của những cơ quan pháp luật nhưThanh tra, Viện kiểm sát, Công an, Toà án và cả trong đời sống sinh hoạt thườngngày Thế nhưng cho đến nay chưa có cơ quan nào, ngành nào (kể cả những cơ quan
có trách nhiệm giải quyết) đưa ra khái niệm đầy đủ, chính xác về "điểm nóng" để làm
Trang 7cơ sở cho việc phân loại, xác định chính xác diễn biến tình hình nơi xảy ra vụ việc để
đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp
Nhiều địa phương, ngành đã xác định "điểm nóng" theo các tiêu chí riêng củamình, thậm chí theo các quan điểm cá nhân của từng người Do vậy, việc đánh giádiễn biến tình hình ở cơ sở không đồng nhất, có nơi chỉ "sốt nhẹ" nhưng đã xác định
là "điểm nóng", ngược lại có nơi "nóng" thật sự nhưng vì những lý do khác nhau màkhông được xác định là ''điểm nóng"
Cả hai khuynh hướng trên dẫn tới hậu quả là cấp ủy đảng và chính quyền cáccấp đã có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo không phù hợp, từ đó giảm hiệu quả, hiệulực của các quyết định giải quyết, thậm chí có nơi, có lúc còn làm tình hình thêmphức tạp Do vậy cần có một khái niệm về "điểm nóng" và xác định các tiêu chuẩn,các yếu tố đặc trưng để làm cơ sở cho việc đánh giá diễn biến các mâu thuẫn từng địaphương, từng ngành và toàn quốc Có thể khái niệm điểm nóng xã hội như sau:
Điểm nóng xã hội là đời sống xã hội trong trạng thái không bình thường, bất
ổn, rối loạn, diễn ra sự xung đột, chống đối giữa các lực lượng với những hành vikhông còn tự kiềm chế được, đã vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật và chuẩn mựcvăn hoá đạo đức, diễn ra tại một địa điểm, trong một thời gian nhất định và có khảnăng lan toả sang nơi khác
1.1.2 Khái niệm điểm nóng chính trị - xã hội:
Điểm nóng chính trị - xã hội là điểm nóng xã hội diễn ra trong lĩnh vực chínhtrị - xã hội khi mà sự chống đối của đám đông quần chúng của các lực lượng đối lập
đã hướng trực tiếp vào những người nắm quyền lực chính trị và thể chế chính sáchcủa chính quyền Nhà nước
Trong thực tiễn thường xảy ra các điểm nóng xã hội nhiều hơn là các điểmnóng chính trị - xã hội Điểm nóng chính trị ít xảy ra hơn nhưng phức tạp và quyết liệthơn vì nó có quan hệ trực tiếp với quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, điểm nóng xã hộitrong các lĩnh vực khác nhau đều có khả năng trực tiếp trở thành điểm nóng chính trị -
Trang 8xã hội Chẳng hạn, những cuộc đình công, bãi công của người lao động chống giớichủ, học sinh bãi công chống ban lãnh đạo nhà trường, nông dân tranh chấp đất đaivới nhau… Nếu không có cách xử lý đúng đều có thể chuyển thành cuộc đấu tranhchống chính quyền Nhà nước Như vậy, nếu chúng ta xử lý tốt điểm nóng xã hội thì sẽhạn chế sự phát sinh điểm nóng chính trị - xã hội
1.1.3 Phương pháp tiếp cận điểm nóng chính trị - xã hội:
Khi điểm nóng nổ ra, tình hình rất khẩn cấp Trước chúng ta là hàng trăm, hàngtriệu người đang chống đối, vì vậy cần có cách tiếp cận như thế nào để nhận thứcđúng và đề ra những giải pháp kịp thời, ứng phó với tình hình Trên cơ sở lý luận và
có tính khái quát chung nhất, có thể có mấy cách tiếp cận như sau:
Một là, cần phải phân tích những yêu sách của đám đông quần chúng đang nêu
ra phải tìm hiêu xem họ đang đòi hỏi lợi ích gì? Lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợiích văn hoá, tín ngưỡng…? cũng có thể yêu sách là sự đan xen giữa các lợi ích ấy Từ
sự phân tích yêu sách chúng ta sẽ thấy tình huống có vấn đề bắt nguồn từ đâu Nếu xétthấy yêu sách của quần chúng là chính đáng, thì tình huống có vấn đề bắt nguồn từ từ
sự sai lầm, khiếm khuyết của lực lượng cầm quyền, của cơ quan quyền lực hoặc thểchế chính sách của Nhà nước Có thể yêu sách của quần chúng lúc đầu là chính đáng,nhưng do sự kích động, hoặc có thể là do kẻ địch lợi dụng dẫn đến những đòi hỏi quáđáng mà không sao giải quyết được Muốn giải quyết những tình huống như vậy, cầnphải trở lại yêu sách ban đầu của họ
Những yêu sách của quần chúng có thể chứa đựng âm mưu kích động, phá hoạicủa kẻ xấu, của lực lượng thù địch Yêu sách ấy có thể công khai nêu rõ những mưu
đồ chính trị, nhưng cũng có thể âm mưu sâu xa, nham hiểm được thể hiện ra nhưnhững yêu cầu rất bình dị Nguồn gốc của vấn đề lại được xuất phát từ những mưu đồcủa kẻ xấu, của lực lượng thù địch Yêu sách có thể là sự đan xen, cài đặt giữa nguyệnvọng của quần chúng với âm mưu của các thế lực thù địch, đây là tình huống rất phứctạp và nguy hiểm nếu ta không thật sự tỉnh táo, sáng suốt để nhận định bản chất củachúng
Trang 9Hai là, Chúng ta phải phân tích người đứng đầu đám đông quần chúng Người
đứng đầu có thể là người xuất đầu lộ diện, đi đầu trong đám biểu tình, nhưng trongnhiều trường hợp họ là kẻ dấu mặt, trá hình, đứng đằng sau chỉ huy những người hunghăng, quá khích Chỉ khi tìm đúng người đứng đầu, phân tích rõ bản chất của ngườiđứng đầu mới thấy được bản chất của điểm nóng và mục tiêu của cuộc đấu tranh ẩngiấu đằng sau những yêu sách của quần chúng
Nếu người đứng đầu là kẻ xấu, phản động thì những yêu sách của quần chúngnêu ra thường ẩn chứa những ý đồ chính trị, từ những yêu sách này họ sẽ lấn tớinhững yêu sách khác và cuối cùng đi đến lật đổ chính quyền; nếu người đứng đầu làngười tốt, đại diện cho lợi ích của nhân dân thì yêu sách của quần chúng thường làchính đáng, mục tiêu đấu tranh của họ là thực hiện dân chủ và công bằng xã hội
Ba là, Phải phân tích tâm lý, hành vi của đám đông quần chúng Trong đám
đông thường có hai khuynh hướng gắn với hai bộ phận khác nhau Đó là, tâm lý củaquần chúng đã ở trong tình trạng bất bình thường cao độ, không còn tự kiềm chế được
đã dẫn đến những hành vi bột phát, quá đà, hình thành nên bộ phận được gọi là nhữngngười quá khích Bộ phận này có thể bao gồm những người có tiền án, tiền sự, bấtmãn với chính quyền, những người do kẻ địch lợi dụng Đó là bộ phận nòng cốt dẫnđầu đám đông quần chúng; Đó là, quần chúng bị hùa theo, do sự nhẹ dạ cả tin, do sựngộ nhận hoặc ép buộc Nhóm đối tượng này chiếm một bộ phận không nhỏ trongđám đông và họ dễ dàng bị tan rã, nếu được giải thích tuyên truyền, giải thích, thuyếtphục, làm rõ đúng sai, hoặc bị sức ép xử lý kiên quyết đúng đắn nào đó của cơ quanquyền lực
1.1.4 Những yêu cầu xử lý điểm nóng chính trị - xã hội:
Nhìn chung, mỗi điểm nóng chính trị - xã hội xảy ra đều có tính đặc thù riêng,mang dấu ấn của từng vùng, địa phương và mang trong nó những sắc thái rất khácnhau Do vậy, để giải quyết mỗi điểm nóng chính trị - xã hội cụ thể phải tính đến nétđặc thù của chúng Tuy nhiên trên cơ sở lý luận và qua tổng kết rút kinh nghiệm từ
Trang 10việc xử lý những điểm nóng chính trị - xã hội trườc đó, có thể nêu ra một số yêu cầuchung nhất xử lý điểm nóng chính trị - xã hội như sau:
Một là, trước hết cần áp dụng các giải pháp cho điểm nóng nguội dần và hạn
chế sự lan toả sang nơi khác Biện pháp này được gọi là hạ nhiệt độ "rút ngòi nổ", cóthể hình dung như ta dập tắt một đám cháy sao cho nó không bùng phát lớn hơn,không lan toả sang nơi khác mà ngày càng nguội dần đi Các giải pháp hành độngtrong trường hợp này phải mau lẹ, chính xác, phải hạn chế một cách tối đa những thiệthại có thể xảy ra
Hai là, khắc phục tình trạng bất ổn định, tạo lập sự ổn định chính trị - xã hội
làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đảm bảo sự ổn định chắc chắn cả bêntrong và bên ngoài tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định lâu dài
Ba là, cần tạo ra những tiền đề, nhân tố để điểm nóng không tái phát Đạt yêu
cầu này thì những giải pháp xử lý điểm nóng không phải chỉ mang tính cấp thiết, nhấtthời mà phải có ý nghĩa chiến lược, cơ bản và lâu dài Thường phải có những giảipháp chữa trị căn nguyên sinh ra điểm nóng và kết hợp với tổng thể các giải phápkhác để cho đời sống xã hội phát triển vững mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhội…
Bốn là, cần củng cố sự bền vững của cơ sở chính trị và tăng cường hiệu lực của
hệ thống chính trị Xử lý điểm nóng chính trị - xã hội không chỉ với mục tiêu thiết lập
sự ổn định chính trị, mà là cơ bản hơn là củng cố sự bền vững của cơ sở chính trị Sựbền vững ấy là chính sách an dân, chiếm được lòng dân và sự đồng tình ủng hộ củanhân dân với Nhà nước huy động sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhànước Và cũng trên cơ sở đó mà củng cố và tăng cường hiêu lực của hệ thống chínhtrị, sao cho sau khi xử lý điểm nóng, cơ sở chính trị và hệ thống chính trị mạnh hơntrước
1.2 Đặc điểm và vai trò của đồng bào dân tộc Khmer ở xã An Cư - huyện Tịnh Biên - tỉnh An Giang
Trang 111.2.1 Đặc điểm:
Dân tộc Khmer là một trong các dân tộc theo đạo phật, có sự tín ngưỡng rất cao
về tôn giáo, xem Sải Cả, À Cha là những đấng tâm linh của dân tộc, mỗi một ngườicon của dân tộc Khmer trước khi sinh ra điều được đưa vào chùa để Sải Cả làm phép,khi đến tuổi trưởng thành phải vào chùa tu tối thiểu là một năm để gọi là báo hiếu chocha, mẹ (không thực hiện sẽ bị cộng đồng dân tộc khi dễ và bị cô lập), các đôi trai gáilấy nhau cũng phải vào Chùa trình báo hoặc ít nhất cũng phải mời Sải Cả đến dự tiệccưới để chứng cho tình yêu đích thực của họ Khi có người chết cũng phải mời Sải Cảlại làm phép nhằm đưa người chết đến chổ vĩnh hằng được suông sẽ và sung sướng.Nói tóm lại, nhà chùa của đồng bào dân tộc Khmer là một mô hình thu nhỏ của đờisống tâm linh của dân tộc Khmer
Trong đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất đồng bào dân tộc Khmer chủ yếu
là lao động thủ công, sản xuất giản đơn, nông nghiệp là chính theo hình thức tự cung
tự cấp và tính tộc hệ rất cao; đời sống văn hoá tinh thần cũng rất phong phú đa dạng,
có truyền thống các ngày hội sinh động mang đậm bản sắc dân tộc (tết cổ truyền, lễmừng mùa vụ thành công (He), lễ rước hạt, lễ Cho-tho-nam-tho-may.v.v) Đặc biệt là
có lễ hội đua bò truyền thống
1.2.2 Vai trò
Trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập của dân tộc ta, đồng bào Khmer cóvai trò không nhỏ trong đấu tranh bảo vệ tổ quốc Rất nhiều nhà chùa là cơ sở cáchmạng, là nơi hoạt động có hiệu quả của Đảng trong những ngày ác liệt nhất của chiếntranh Đồng bào dân tộc Khmer không ngại gian khổ cùng Đảng chống kẻ thù xâmlược, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào sự thắnglợi của cách mạng và có niềm tin sâu sắc vào Đảng, vào cách mạng, cùng cả nước tiếnlên xây dựng của nghĩa xã hội
Trong quá trình đổi mới của đất nước, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp nông thôn Đồng bào dân tộc Khmer có vai trò rất quan trọng, đặc biệt làviệc thực hiện thành công chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của địa
Trang 12phương, đồng bào dân tộc Khmer đã tích cực cùng đảng bộ Huyện xây dựng những
mô hình điểm trình diễn và ứng dụng các khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất vàchăn nuôi Đồng thời cùng các cấp ủy Đảng vận động bà con sử dụng các giống lúamới có năng suất cao, thâm canh tăng vụ, xen canh các giống màu có giá trị kinh tế,góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần trong cộng đồng đồng bào dân tộcKhmer nói riêng và đưa xã, huyện nhà phát triển về mọi mặt nói chung Quyết tâmlàm giàu trên chính mảnh đất của mình
Chương II: DIỄN BIẾN VÀ QUÁ TRÌNH XỬ LÝ ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở XÃ AN CƯ - HUYỆN TỊNH BIÊN – TỈNH AN GIANG.
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã An Cư - huyện Tịnh Biên – An Giang 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của xã An Cư - huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang.
An Cư là một xã miền núi của Huyện có tổng diện tích đất đai 127,04km2; Dân
số 36.420 người, mật độ dân số 286,7người/km2 có 13 khóm, ấp Trong đó, ngườiKinh 5.463người (15%); Người dân tộc Khmer 30.957người (85%) Theo niên giámthống kê vào tháng 8 năm 2002
Xã An Cư có vị trí địa lí rất quan trọng, phía bắc giáp đất bạn Campuchia cótrên 20km đường biên giới xe ô tô đi lại thông suốt bốn mùa rất thuận lợi cho việcgiao thương mua bán, trao đổi hàng hoá giữa hai Nước; phía nam, tây giáp huyện Tritôn; phía đông giáp thị xã Châu Đốc tạo thành khu kinh tế liên hoàn, đa năng và đadạng
Kinh tế tăng trưởng mạnh năm sau cao hơn năm trước, tốc độ tăng trưởng từ8,5% trở lên Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng Nông - Lâm nghiệp giảmdần, tỷ trọng ngành dịch vụ - du lịch tăng lên Đặc biệt là, trong những năm thực hiệncuộc cách mạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp và chủtrương phát triển ngành công nghiệp không khói dựa trên những điều kiện tự nhiênthuận lợi của địa phương
Trang 13Bên cạnh đó, song song với việc phát triển kinh tế – xã hội thì vấn đề Vănhoá – xã hội cũng được đảm bảo, đời sống người dân được nâng lên, mức hưởng thụvăn hoá ngày càng được đáp ứng đầy đủ về mặt tinh thần với các chương trình mangđậm tính xã hội và nhân văn của truyền thống dân tộc đó là công tác xóa đói giảmnghèo, giải quyết việc làm, chăm lo phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục đào tạo,bảo vệ sức khỏe cộng đồng, thực hiện chính sách xã hội… được đẩy mạnh và đạtnhiều kết quả.
Quốc phòng an ninh cũng được quan tâm Đặc biệt là an ninh trong mặt trận tưtưởng của xã nói riêng và cả huyện nói chung
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội trong đồng bào dân tộc Khmer của xã An cư
- huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang.
Trong nhiều năm qua Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách trong việcxoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, vận động, hổ trợ tạo mọi điều kiện để cho con
em người dân tộc đến trường, nhằm từng bước nâng dần trình độ dân trí đối với ngườidân tộc Khmer Vì vậy, trình độ dân trí trong đồng bào dân tộc Khmer tuy có đượcnâng lên nhưng còn rất chậm so với mức bình quân chung toàn Huyện Những ngườinằm trong độ tuổi phải biết đọc biết viết chữ phổ thông cũng như chưa biết chữ dântộc còn khá nhiều chiếm trên 50%, nên việc tiếp thu các chủ trương chính sách còn rấthạn chế làm cho khâu vận động, tuyên truyền trong đồng bào dân tộc còn nhiều khókhăn
Cơ sở vật chất phục vụ sinh hoạt đời sống của người dân tộc từng bước cũngđược nâng lên Đáng kể nhất là tình trạng nhà ở được ổn định và khang trang hơn cụthể là trên 95% là nhà thuộc quyền sở hữu của họ, tỷ lệ nhà ở khang trang chiếm trên60% và tỷ lệ nhà đơn sơ giảm xuống còn 32,18% Bên cạnh đó nhờ có những chínhsách ưu đải của nhà nước cũng như từ những nguồn hổ trợ khác mà việc sử dụng điện,nước máy và tỷ lệ số hộ có sử dụng Tivi, Radio, Cassette cũng đang được phát triển.Tuy nhiên so với mức bình quân chung của Huyện thì tỷ lệ này còn thấp chỉ bằng
Trang 14khoản 50% nên điều kiện sinh hoạt trong đời sống người dân tộc Khmer còn rất hạnchế.
Tình hình hoạt động SXKD phần lớn là sản xuất nông lâm nghiệp và làm thuêmướn là chính, trong mấy năm qua do ảnh hưởng của tình hình lũ lụt, hạn hán làmcho ngân sách thấp và giá cả các măt hàng nông sản luôn biến động giảm nên kết quảsản xuất mang lại hiệu quả thấp Bên cạnh đó , về tư liệu sản xuất như diện tích đấtsản xuất bình quân một hộ thấp, số hộ không có đất sản xuất còn tương đối nhiều vàphần lớn là các hộ này sống bằng nghề làm mướn, nên đã làm ảnh hưởng đến chỉ tiêuchung trong kết luận đời sống của người dân tộc còn gặp nhiều khó khăn Mặc dù nhànước đã có những chủ trương chính sách ưu đải như cấp đất, cho vay tiền chuột đất Tuy nhiên trong điều kiện sản xuất của người dân tộc cũng có một số thuận lợi nhất làviệc chăn nuôi bò mang lại hiệu quả khá cao do thị trường tiêu thụ rộng, giá cả luôn
ổn định và có chiều hướng tăng, hiện đang phát triển mạnh và đây cũng là nghềtruyền thống của đồng bào dân tộc Khmer Vì vậy, trên 50% hộ dân tộc đều có chănnuôi bò, với lượng bò nuôi chiếm 68% lượng bò trong toàn Huyện, từ đó góp phầngiảm bớt khó khăn trong sinh hoạt đời sống của người dân tộc Khmer
Mức sống của người dântộc Khmer còn rất thấp so với mức sống bình quânchung toàn huyện Với kết quả điều tra mức thu nhập bình quân chung toàn Huyệncủa người dân tộc Khmer chỉ đạt 121.252đ/1người/1tháng sấp sỉ với chỉ tiêu ngưỡngnghèo chỉ cao hơn 1,04% ( 1.252đ/1 người/1tháng) trong đó đáng kế nhất là có 7 Xã
có mức thu nhập bình quân chung thấp hơn chỉ tiêu ngưỡng nghèo Nên trong kết quả
tự đáng giá của các hộ thì tỷ lệ hộ nghèo rất cao chiếm 44,96% so tổng số hộ dân tộcKhmer
Nhìn chung đời sống và điều kiện sinh hoạt của người dân tộc Khmer ngàycàng được nâng lên cũng như các chủ trương chính sách ưu đãi của nhà nước đối vớinhững người dân tộc ngày càng được chú trọng và nhiều hơn Nhưng do điều kiệnkinh tế của Huyện còn nhiều khó khăn nên trong việc hổ trợ giải quyết khó khăn chocác hộ dân tộc Khmer còn nhiều hạn chế