1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các căn cứ nhận biết từ hán việt vận dụng tổ chức dạy học luyện từ và câu lớp 5 sử dụng yếu tố hán việt

12 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các căn cứ nhận biết từ Hán Việt vận dụng tổ chức dạy học luyện từ và câu lớp 5 sử dụng yếu tố Hán Việt
Trường học Trường Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông (ví dụ: Trường THCS & THPT Nguyễn Trãi)
Chuyên ngành Luyện từ và câu
Thể loại Giáo án giảng dạy
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 48,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 3 Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu 2 PHẦN II NỘI DUNG 2 I CĂN CỨ NHẬN BIẾT TỪ HÁN VIỆT 2 1 1 Sự khác biệt giữa từ Hán Việt và thuần Việt. MỤC LỤCPHẦN I: MỞ ĐẦU11. Lý do chọn đề tài12. Mục đích nghiên cứu13. Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu2PHẦN II: NỘI DUNG2I. CĂN CỨ NHẬN BIẾT TỪ HÁN VIỆT21.1. Sự khác biệt giữa từ Hán Việt và thuần Việt21.1.1. Cách nhận diện từ Hán Việt21.1.2. Cách phân biệt từ thuần Việt với từ Hán Việt21.2. Cách dạy yếu tố Hán Việt3II. THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU SỬ DỤNG YÊU TỐ HÁN VIỆT42.1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy yếu tố Hán Việt trong môn Luyện từ và câu42.1.1. Thuận lợi42.1.2. Khó khăn52.2. Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt vận dụng làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu:62.2.1. Kể chuyện vui ngôn ngữ62.2.2. Rèn trực tiếp trong những giờ học Luyện từ và câu:72.2.3. Hướng dẫn học sinh lập Sổ tay tiếng Việt92.2.4. Tổ chức các trò chơi học tập9KẾT LUẬN10TÀI LIỆU THAM KHẢO11  PHẦN I: MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiNhư chúng ta đã biết, đất nước Việt Nam đã từng có một thời gian rất dài bị giặc phong kiến phương Bắc đô hộ. Mặc dù như vậy, người dân Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói và nhiều phong tục tập quán riêng của mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hưởng nhất định về văn hoá, thể chế chính trị,... của Trung Quốc đối với người Việt kể cả trong tư tưởng triết học và ngôn ngữ. Theo truyền thuyết cũng như các nguồn sử liệu của cả Trung Quốc và Việt Nam ta thì ngày từ thời Hùng Vương, người Việt cổ đã có chữ viết riêng chữ Khoa Đẩu, nhưng đã bị người Hán huỷ bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn. Do vậy nên trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt ta phải dùng chữ Hán để viết, nhưng lại đọc theo âm Việt và đã ghi được phần lớn và cơ bản các từ Hán Việt, sau người Việt ta lại mượn thứ chữ Hán ấy để sáng tạo thêm ra chữ Nôm để mong muốn có thể ghi hết được các âm thuần Việt mà chữ Hán không có: sông, núi, nước, lửa,... Nhờ vậy mà sau này các nhà truyền đạo phương Tây ngay từ thế kỷ 18 đã dựa vào đó mà ghi lại tiếng nói của dân tộc ta thông qua các âm đọc Hán Nôm của người Việt. Đây là cơ sở cho việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ngày nay mà chúng ta đang dùng. Vì vậy, ngay từ khi nó được sáng tạo ra, chính quyền phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ đã bắt người dân dùng chữ viết này và coi đó như là chữ viết phổ cập. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, vì thấy đây là loại chữ viết dễ dùng nên chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyến khích nhân dân dùng chữ Quốc ngữ để viết. Vậy là từ đó chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và phổ cập như ngày nay. Vì vậy, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Các căn cứ nhận biết từ Hán Việt. Vận dụng tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 5 sử dụng yếu tố Hán Việt ” để có cái nhìn sâu và rộng hơn.2. Mục đích nghiên cứuBài luận được viết với mục đíc đề cập tới thực trạng việc hiểu và giải nghĩa từ Hán Việt của học sinh lớp 5 còn hạn chế. Từ đó, đưa ra một số biện pháp giảng dạy có thể giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt. Giúp giáo viên tìm hiểu thêm Một số biện pháp giảng dạy giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt và giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.3. Ý nghĩa vấn đề nghiên cứuBài luận sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng chí giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 5, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu. Các đồng chí giáo viên lớp 5 sẽ có thêm những biện pháp mới nhằm giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt. Khi áp dụng sáng kiến này, học sinh sẽ được nâng cao kiến thức nhiều hơn trong việc hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt.PHẦN II: NỘI DUNGI. CĂN CỨ NHẬN BIẾT TỪ HÁN VIỆT1.1. Sự khác biệt giữa từ Hán Việt và thuần Việt1.1.1. Cách nhận diện từ Hán ViệtVề cách nhận diện, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 cũng đã đề cập đến một số mặt biểu hiện của từ Hán Việt giúp giáo viên có thể nhận biết đâu là từ Hán Việt trong một dòng ngữ lưu.Cụ thể, về ý nghĩa: Từ Hán Việt là những từ tiếng Việt thường phải được giải nghĩa thì mới hiểu chúng một cách thấu đáo.Về mặt cấu tạo từ, theo đặc điểm cấu tạo danh từ của tiếng Hán thì yếu tố phụ đặt trước yếu tố chính, ngược với trật tự cấu tạo từ tiếng Việt.Về phương diện ngữ cảm: Các từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng, tao nhã. Sách giáo khoa lớp 7 cũng đã nêu lên đặc điểm này, tuy nhiên không phải học sinh lúc nào cũng nhận biết được dễ dàng.Bên cạnh đó, các tiêu chí nêu trên chỉ có thể phát huy hiệu lực khi học sinh đạt đến một trình độ học vấn nhất định. Để làm sáng tỏ điều này, cần cho học sinh phân biệt các khái niệm sau: Cách đọc Hán Việt, tiếng Hán Việt, từ Hán Việt và yếu tố gốc Hán.1.1.2. Cách phân biệt từ thuần Việt với từ Hán ViệtĐể giúp học sinh nhận diện và phân biệt được các tiếng Hán Việt nói chung, từ đơn Hán Việt nói riêng với các tiếng và từ đơn thuần Việt, giáo viên nên hướng dẫn học sinh dựa vào đặc điểm cấu tạo âm thanh.Nếu tiến hành thống kê, chỉ ra được cụ thể từng loại cấu tạo âm, học sinh nhận thức được một cách trực quan bằng thị giác, sẽ phân biệt ngay được tiếng (hoặc từ đơn) Hán Việt với tiếng (hoặc từ đơn) thuần Việt.Bên cạnh đó, một tiếng nếu đứng riêng một mình rất khó xác định là thuần việt hay Hán Việt. Để xác định, thử tìm xem có từ ghép Hán Việt nào trong thành phần có chứa đó hay không. Nếu tìm được thì tiếng được chứa trong từ ghép Hán Việt ấy cũng chính là Hán Việt.Cơ sở để nhận biết một trong từ song tiết từ ghép Hán Việt có thể như sau: Trật tự yếu tố (yếu tố chính đứng sau yếu tố phụ: Hải quân, không phận, chiến thuyền ...); ý nghĩa của từ khái quát, trang trọng (so với từ thuần Việt nếu có).1.2. Cách dạy yếu tố Hán ViệtVới nội dung này, giáo viên thường gặp lúng túng; nội dung bài học khô khan, số lượng các yếu tố đưa dạy quá nhiều, trong khi đó lại không có phương pháp dạy cụ thể để hướng dẫn cho giáo viên.Điều lưu ý đầu tiên là soạn và dạy các yếu tố Hán Việt, giáo viên không nên coi nội dung từng bài học là bất biến mà cứng nhắc tuân theo nguyên xi.Trái lại, cần có sự năng động, sáng tạo, biết cách điều chỉnh, bố trí lại tiết dạy để giờ học từ ngữ Hán Việt sinh động và đa dạng, tránh lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, gây cảm giác nặng nề nhàm chán cho học sinh.Cần bố trí lại nội dung bài dạy các yếu tố Hán Việt được đưa ra trong sách giáo khoa dựa trên cơ sở thực tế là những bài học này đơn thuần chỉ là một sự liệt kê các yếu tố và nghĩa của chúng từ đầu đến cuối danh sách.Do vậy, giáo viên có thể xáo trộn trật tự các yếu tố được sắp xếp trong từng bài rồi cơ cấu lại, xếp lại các yếu tố Hán Việt đó theo những mối quan hệ, hệ thống hay quan hệ liên tưởng khác nhau.Đó là, khi dạy lý thuyết từ ngữ, cần phải chú ý đến tính hệ thống, nếu trình bày kiến thức về từ ngữ để dạy cho học sinh một cách có hệ thống sẽ giúp nội dung học tập được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu và dễ ghi nhớ hơn.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu 2

PHẦN II: NỘI DUNG 2

I CĂN CỨ NHẬN BIẾT TỪ HÁN VIỆT 2

1.1 Sự khác biệt giữa từ Hán Việt và thuần Việt 2

1.1.1 Cách nhận diện từ Hán - Việt 2

1.1.2 Cách phân biệt từ thuần Việt với từ Hán - Việt 2

1.2 Cách dạy yếu tố Hán - Việt 3

II THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU SỬ DỤNG YÊU TỐ HÁN VIỆT 4

2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy yếu tố Hán Việt trong môn Luyện từ và câu 4

2.1.1 Thuận lợi 4

2.1.2 Khó khăn 5

2.2 Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt vận dụng làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu: 6

2.2.1 Kể chuyện vui ngôn ngữ 6

2.2.2 Rèn trực tiếp trong những giờ học Luyện từ và câu: 7

2.2.3 Hướng dẫn học sinh lập Sổ tay tiếng Việt 9

2.2.4 Tổ chức các trò chơi học tập 9

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, đất nước Việt Nam đã từng có một thời gian rất dài bị giặc phong kiến phương Bắc đô hộ Mặc dù như vậy, người dân Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói và nhiều phong tục tập quán riêng của mình Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hưởng nhất định về văn hoá, thể chế chính trị, của Trung Quốc đối với người Việt kể

cả trong tư tưởng triết học và ngôn ngữ Theo truyền thuyết cũng như các nguồn sử liệu của cả Trung Quốc và Việt Nam ta thì ngày từ thời Hùng Vương, người Việt cổ đã

có chữ viết riêng "chữ Khoa Đẩu", nhưng đã bị người Hán huỷ bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn Do vậy nên trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt ta phải dùng chữ Hán

để viết, nhưng lại đọc theo âm Việt và đã ghi được phần lớn và cơ bản các từ Hán -Việt, sau người Việt ta lại mượn thứ chữ Hán ấy để sáng tạo thêm ra chữ Nôm để mong muốn có thể ghi hết được các âm thuần Việt mà chữ Hán không có: sông, núi, nước, lửa, Nhờ vậy mà sau này các nhà truyền đạo phương Tây ngay từ thế kỷ 18 đã dựa vào đó mà ghi lại tiếng nói của dân tộc ta thông qua các âm đọc Hán - Nôm của người Việt Đây là cơ sở cho việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ngày nay mà chúng ta đang dùng Vì vậy, ngay từ khi nó được sáng tạo ra, chính quyền phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ đã bắt người dân dùng chữ viết này và coi đó như là chữ viết phổ cập Khi Cách mạng tháng Tám thành công, vì thấy đây là loại chữ viết dễ dùng nên chủ tịch

Hồ Chí Minh đã khuyến khích nhân dân dùng chữ Quốc ngữ để viết Vậy là từ đó chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và phổ cập như ngày nay Vì vậy, qua quá trình học

tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Các căn cứ nhận biết từ Hán Việt Vận dụng

tổ chức dạy học Luyện từ và câu lớp 5 sử dụng yếu tố Hán Việt ” để có cái nhìn

sâu và rộng hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Bài luận được viết với mục đíc đề cập tới thực trạng việc hiểu và giải nghĩa từ Hán - Việt của học sinh lớp 5 còn hạn chế Từ đó, đưa ra một số biện pháp giảng dạy

có thể giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt Giúp giáo viên tìm hiểu thêm Một số biện pháp giảng dạy giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt

và giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5

Trang 3

3 Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu

Bài luận sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng chí giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 5, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu Các đồng chí giáo viên lớp 5 sẽ có thêm những biện pháp mới nhằm giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt Khi áp dụng sáng kiến này, học sinh sẽ được nâng cao kiến thức nhiều hơn trong việc hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt

PHẦN II: NỘI DUNG

I CĂN CỨ NHẬN BIẾT TỪ HÁN VIỆT 1.1 Sự khác biệt giữa từ Hán Việt và thuần Việt

1.1.1 Cách nhận diện từ Hán - Việt

Về cách nhận diện, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 cũng đã đề cập đến một số mặt biểu hiện của từ Hán - Việt giúp giáo viên có thể nhận biết đâu là từ Hán - Việt trong một dòng ngữ lưu

Cụ thể, về ý nghĩa: Từ Hán - Việt là những từ tiếng Việt thường phải được giải nghĩa thì mới hiểu chúng một cách thấu đáo

Về mặt cấu tạo từ, theo đặc điểm cấu tạo danh từ của tiếng Hán thì yếu tố phụ đặt trước yếu tố chính, ngược với trật tự cấu tạo từ tiếng Việt

Về phương diện ngữ cảm: Các từ Hán - Việt thường có sắc thái trang trọng, tao nhã Sách giáo khoa lớp 7 cũng đã nêu lên đặc điểm này, tuy nhiên không phải học sinh lúc nào cũng nhận biết được dễ dàng

Bên cạnh đó, các tiêu chí nêu trên chỉ có thể phát huy hiệu lực khi học sinh đạt đến một trình độ học vấn nhất định Để làm sáng tỏ điều này, cần cho học sinh phân biệt các khái niệm sau: Cách đọc Hán - Việt, tiếng Hán - Việt, từ Hán - Việt và yếu tố gốc Hán

1.1.2 Cách phân biệt từ thuần Việt với từ Hán - Việt

Để giúp học sinh nhận diện và phân biệt được các tiếng Hán - Việt nói chung,

từ đơn Hán - Việt nói riêng với các tiếng và từ đơn thuần Việt, giáo viên nên hướng dẫn học sinh dựa vào đặc điểm cấu tạo âm thanh

Trang 4

Nếu tiến hành thống kê, chỉ ra được cụ thể từng loại cấu tạo âm, học sinh nhận thức được một cách trực quan bằng thị giác, sẽ phân biệt ngay được tiếng (hoặc từ đơn) Hán - Việt với tiếng (hoặc từ đơn) thuần Việt

Bên cạnh đó, một tiếng nếu đứng riêng một mình rất khó xác định là thuần việt hay Hán - Việt Để xác định, thử tìm xem có từ ghép Hán - Việt nào trong thành phần

có chứa đó hay không Nếu tìm được thì tiếng được chứa trong từ ghép Hán - Việt ấy cũng chính là Hán - Việt

Cơ sở để nhận biết một trong từ song tiết từ ghép Hán Việt có thể như sau: Trật

tự yếu tố (yếu tố chính đứng sau yếu tố phụ: Hải quân, không phận, chiến thuyền ); ý nghĩa của từ khái quát, trang trọng (so với từ thuần Việt nếu có)

1.2 Cách dạy yếu tố Hán - Việt

Với nội dung này, giáo viên thường gặp lúng túng; nội dung bài học khô khan,

số lượng các yếu tố đưa dạy quá nhiều, trong khi đó lại không có phương pháp dạy cụ thể để hướng dẫn cho giáo viên

Điều lưu ý đầu tiên là soạn và dạy các yếu tố Hán - Việt, giáo viên không nên coi nội dung từng bài học là bất biến mà cứng nhắc tuân theo nguyên xi

Trái lại, cần có sự năng động, sáng tạo, biết cách điều chỉnh, bố trí lại tiết dạy

để giờ học từ ngữ Hán - Việt sinh động và đa dạng, tránh lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, gây cảm giác nặng nề nhàm chán cho học sinh

Cần bố trí lại nội dung bài dạy các yếu tố Hán - Việt được đưa ra trong sách giáo khoa dựa trên cơ sở thực tế là những bài học này đơn thuần chỉ là một sự liệt kê các yếu tố và nghĩa của chúng từ đầu đến cuối danh sách

Do vậy, giáo viên có thể xáo trộn trật tự các yếu tố được sắp xếp trong từng bài rồi cơ cấu lại, xếp lại các yếu tố Hán - Việt đó theo những mối quan hệ, hệ thống hay quan hệ liên tưởng khác nhau

Đó là, khi dạy lý thuyết từ ngữ, cần phải chú ý đến tính hệ thống, nếu trình bày kiến thức về từ ngữ để dạy cho học sinh một cách có hệ thống sẽ giúp nội dung học tập được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu và dễ ghi nhớ hơn

Trang 5

Phương pháp dạy các yếu tố Hán - Việt có yếu tố thuần Việt đồng nghĩa được tiến hành như sau: Dùng hai bộ quân bài có màu sắc khác nhau, một ghi yếu tố Hán -Việt, một ghi yếu tố thuần Việt đồng nghĩa tương ứng

Khi dạy, ghép cỗ bài có ghi yếu tố Hán - Việt với bài có ghi yếu tố thuần Việt đồng nghĩa tương ứng

Sau đó, để kiểm tra khả năng hiểu nghĩa của các yếu tố Hán - Việt nào đó, có thể thực hiện thao tác sau:

Đưa bài có ghi yếu tố Hán - Việt và hỏi: Yếu tố này có nghĩa là gì? Để trả lời, giáo viên yêu cầu học sinh chọn cây bài ghi yếu tố thuần Việt đồng nghĩa tương ứng hoặc ngược lại

Đưa từng cây bài có ghi yếu tố thuần Việt và yêu cầu học sinh chọn cây bài có ghi yếu tố Hán - Việt đồng nghĩa tương ứng với nó

Nếu học sinh chọn và khớp đúng hai cây bài phù hợp với nhau, điều này chứng

tỏ các em đã nắm được và hiểu được nghĩa của yếu tố Hán Việt đã học

Ngoài ra, có thể nêu tên người, tên đất trong làng, trong tỉnh ; những sự tích lịch sử; giai thoại về học chữ nho, làm câu đối, như nguồn cứ liệu bổ sung, giúp việc xây dựng những tiết học về yếu tố Hán - Việt sống động, đa dạng và có hiệu quả cao

II THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU SỬ DỤNG YÊU TỐ HÁN VIỆT 2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy yếu tố Hán Việt trong môn Luyện từ và câu

Trong quá trình triển khai và nghiên cứu đề tài này, tác giả cũng gặp không ít khó khăn, tuy nhiên cũng có nhiều thuận lợi

2.1.1 Thuận lợi

Hằng năm, nhà trường đã rất quan tâm đến công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của anh chị em giáo viên Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã chỉ đạo các tổ khuyến khích tổ viên đăng ký thi đua, đăng ký tên SKKN để tìm tỏi, nghiên cứu

Bản thân tác giả là người rất yêu thích học Hán ngữ, luôn luôn muốn tìm tòi, nghiên cứu cách dạy, cách học để giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt

Trang 6

Tác giả đã tự mua cho mình những cuốn từ điển Hán ngữ, từ điển từ Hán -Việt, từ điển tiếng -Việt, sách tham khảo các loại, kết nối mạng internet để tiện tìm tòi, tra cứu, nghiên cứu khi cần thiết

2.1.2 Khó khăn

Những khó khăn mà tác giả gặp phải không phải là những vấn đề: thiếu tài liệu, thiếu thời gian hay thiếu kiến thức, thiếu sự hiểu biết về từ Hán - Việt mà khó khăn ở đây chính là phương pháp dạy học của giáo viên và cách học của học sinh khiến học sinh không hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt khi làm bài tập

Vì vậy, tác giả đã suy nghĩ rất nhiều về phương pháp dạy của bản thân và của đồng nghiệp hiện đang làm là: Làm thế nào để học sinh có thể hiểu và giải nghĩa đúng

từ Hán - Việt? Liệu cứ dạy như mình và các đồng nghiệp hiện nay có được không? Nêu được thì tạo sao học sinh vẫn không hiểu và không giải nghĩa đúng? Hơn nữa các

em lại không nhớ lâu? Phương pháp mà mình và đồng nghiệp đang thực hiện có hiệu quả không?

Tác giả quyết định lập kế hoạch khảo sát thử để thấy khả năng ghi nhớ, nắm kiến thức của các em để từ đó suy nghĩ tìm biện pháp khắc phục Để có được kết quả đánh giá ban đầu của học sinh trong phân môn Luyện từ và câu, qua các khảo sát, tác giả phát hiện các em thường mắc những lỗi sau:

- Xếp từ theo nhóm chưa đúng, một số học sinh còn không biết giải nghĩa từ, một số em khác hiểu nghĩa của từ nhưng diễn đạt cũng không đầy đủ

- Với các thành ngữ, tục ngữ các em còn hiểu rất mơ hồ, một số em không tìm được các thành ngữ, tục ngữ theo chủ đề; đa số các em giải nghĩa về thành ngữ, tục ngữ đều lúng túng, không biết diễn đạt ra sao

Ví dụ: Trong bài tập 2 của bài kiểm tra, đa số các em chỉ tìm được một thành ngữ "gan vàng dạ sắt", thành ngữ còn lại "vào sinh ra tử" rất ít em tìm được Khi giáo viên hỏi về ý nghĩa của các thành ngữ, các em hiểu còn chưa chính xác

- Khi tìm các từ đồng nghĩa, trái nghĩa với những từ đã cho, các em thường tìm những từ thuần Việt vì đó là những từ dễ hiểu ngay, còn những từ Hán - Việt thì chỉ những học sinh khá - giỏi mới tìm ra

Trang 7

Ví dụ: Khi tìm từ cùng nghĩa với từ "dũng cảm", học sinh thường tìm được các

từ thuần Việt: không sợ, dám làm, gan dạ nhưng ít thấy học sinh tìm được các từ Hán - Việt: can đảm, can trường, quả cảm,

- Những đoạn văn mà các em viết theo chủ đề thường không phong phú về nội dung, các em thường không biết dùng các từ đồng nghĩa để thay thế nhằm làm cho đoạn văn sinh động, hay hơn Vậy là đoạn văn của các em thường sơ sài về nội dung, thậm chí có em còn dùng từ chưa chính xác, ngôn ngữ trong đoạn văn "thô", gây cười cho người đọc

- Ngoài những vướng mắc về nội dung kiến thức, tác giả còn nhận thấy vì các

em là những học sinh còn nhỏ tuổi, đôi khi trước những bài tập khó, các em thường nản lòng, bỏ dở, không chịu suy nghĩ Bởi vậy, người giáo viên cần có biện pháp động viên, khích lệ sự tiến bộ của các em kịp thời

Sau khi đã tìm ra những nguyên nhân, những vướng mắc mà các em mắc phải trong từng dạng bài tập cũng như những điểm vướng mắc về tâm lý, tác giả đã lên kế hoạch khắc phục từng điểm khuyết cho các em trong từng giờ dạy, cũng không quên việc chú ý tích hợp mở rộng vốn từ Hán - Việt trong các môn học khác (nếu cần thiết)

2.2 Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt vận dụng làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu:

2.2.1 Kể chuyện vui ngôn ngữ

Giáo viên dành thời gian 5 phút cuối mỗi giờ học để khuyến khích HS sưu tầm, nghe đọc hoặc kể những câu chuyện vui về việc dùng sai chữ nghĩa trong cuộc sống rất gần gũi với các em (nhất là từ Hán - Việt) Việc tận dụng thời gian 5 phút này rất

có ý nghĩa, đó là giúp các em khỏi mệt mỏi, chán nản sau mỗi tiết học để đọc hoặc kể cho các em nghe một câu chuyện ngăn về việc dùng sai chữ nghĩa trong nhân dân

Cần chú ý cân nhắc thật kỹ vì tuỳ tiết học mà vận dụng đọc hay kể câu chuyện

gì hay về chữ gì, tránh ngẫu hứng hay tự do kể chuyện có khi sẽ làm các em quên ngay kiến thức vừa học trong bài trước đó Tốt nhất là khuyến khích các em sưu tầm trong thực tế, qua sách báo, mạng internet, những câu chuyện này để đọc và tham khảo

* Từ thực tế giảng dạy ở đối tượng học sinh lớp 5, tác giả nhận thấy rằng:

Trang 8

Muốn học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt, thầy cô giáo phải là người đồng hành cùng học sinh, cùng sách giáo khoa để giúp học sinh nắm chắc được vốn từ cơ bản Yêu cầu học sinh phải có Sổ tay tiếng Việt để ghi lại những từ Hán -Việt và nghĩa của từ qua từng bài học, ghi lại những câu thành ngữ, tục ngữ khó nhớ

về nghĩa Vận động cha mẹ học sinh mua thêm sách tham khảo cho con em mình (nếu

có điều kiện) Những tài liệu như Từ điển tiếng Việt, Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam rất có ích cho thầy cô giáo và các bậc cha mẹ học sinh trong việc giúp học sinh

và con em mình hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt Đây là điều kiện tiên quyết giúp giáo viên thực hiện thành công đề tài này

Sau mỗi bài tập, giáo viên đều phải rút kinh nghiệm cho từng học sinh, giúp học sinh tự nhận ra lỗi sai và sửa ngay vào vở bài tập

Đối với các em học sinh yếu, nếu có thời gian, giáo viên cần phụ đạo thêm kiến thức cho các em, luôn có mặt để động viên, khen thưởng kịp thời, giúp đỡ các em không có điều kiện mua sách, tài liệu tham khảo bằng cách cho các em mượn sách để học, hoặc khuyến khích các em trong lớp có tài liệu cho mượn,

2.2.2 Rèn trực tiếp trong những giờ học Luyện từ và câu:

Để giúp học sinh làm tốt tất cả các dạng bài tập trong các tiết học "Mở rộng vốn từ", trước hết các em phải hiểu được nghĩa của từ Với những từ thuần Việt, nghĩa rất

rõ ràng nhưng với những từ Hán - Việt thì không phải như vậy, nó chẳng khác gì việc các em phải học thêm một môn ngoại ngữ mới, có điều thứ ngoại ngữ ấy vẫn viết được bằng tiếng Việt mà thôi Thực tế trong nhiều trường hợp đặc biệt, đôi khi giáo viên phải dùng từ Hán - Việt khác để minh hoạ, giải thích

Ví dụ: Khi học sinh hiểu "đại lý" là "cửa hàng to", giáo viên cần tìm vài từ Hán

- Việt khác: "đại diện", "đại từ", "đại biểu", để giải thích, minh hoạ Giáo viên cần chú ý khai thác vốn hiểu biết của các em để đặt những câu hỏi nhằm gợi ý, dẫn đường cho các em hiểu được "đại" nghĩa là "thay", vì thế: "đại diện" nghĩa là "thay mặt", "đại từ" nghĩa là "từ thay thế cho từ khác", "đại biểu" nghĩa là "thay cho người khác", "đại lý" nghĩa là "cửa hàng bán thay", Đồng thời, cũng cần khuyến khích học sinh Tìm thêm các từ ngữ có chứa tiếng "đại" với nghĩa là "thay", và như vậy nếu các em tìm được đúng yêu cầu của câu hỏi, tức các em đã hiểu được nghĩa từ rồi đó

Trang 9

* Với dạng bài tập xếp từ theo nhóm, tác giả yêu cầu học sinh phải nắm vững nghĩa của từ trước khi làm bài tập Với những em có nhận thức chậm, tác giả dành cho các em nhiều thời gian hơn so với các em khác trong tiết học, các em cần được hướng dẫn cụ thể từng bài tập Còn với các học sinh khác, tác giả thường tự tạo cho các em có

cơ hội để phát huy tính tích cực của mình trong giờ học, các em có thể trình bày ý kiến của mình, sau đó tác giả cùng học sinh cả lớp nhận xét, góp ý, chốt câu trả lời đúng Sau đó, tác giả cho học sinh khá-giỏi giải thích vì sao em xếp từ trong nhóm như vậy

* Với những dạng bài tập về giải nghĩa thành ngữ, tục ngữ, tác giả yêu cầu học sinh đọc thật kỹ nội dung câu thành ngữ, tục ngữ đó, thảo luận nhóm để cùng bạn giải nghĩa chính xác nội dung Bài tập này thường có hai dạng bài:

- Dạng bài tập thứ nhất: Chọn câu giải nghĩa thích hợp với những thành ngữ, tục ngữ đã cho

- Dạng bài tập thứ hai: Yêu cầu học sinh giải nghĩa thành ngữ, tục ngữ Đây là dạng bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải có vốn hiểu biết rộng và nắm vững nghĩa của

từ bởi đa phần từ ngữ trong thành ngữ, tục ngữ đều là từ Hán - Việt

* Với dạng bài tập tìm từ đồng âm, trái nghĩa, tác giả khuyến khích các em tìm hết các từ theo đúng yêu cầu bài, cho điểm tối đa đối với những học sinh tìm được nhiều từ chính xác

* Với dạng bài tập viết đoạn văn ngắn, tác giả cũng yêu cầu học sinh đọc kỹ yêu cầu bài, hướng dẫn học sinh viết đúng theo chủ đề, chọn và dùng từ cho chính xác, câu văn cần có sự sáng tạo, gắn với thực tế, cách trình bày bài văn theo đúng cấu trúc

đã được học Với dạng bài tập này, tác giả đặc biệt lưu ý học sinh trong những văn cảnh cụ thể Có những trường hợp các em cần dùng từ Hán - Việt mà không nên dùng

từ thuần Việt để câu văn không những diễn đạt được đầy đủ ý nghĩa mà còn thể hiện được sự trang trọng:

Ví dụ: Hôm này là ngày quốc tế phụ nữ (từ "đàn bà" không thể thay thế cho từ

"phụ nữ".)

Sau khi học sinh viết đoạn văn theo chủ đề, tác giả tiến hành chấm bài và nhận xét ngay trước lớp, chỉ rõ những lỗi sai của học sinh và yêu cầu các em chữa lỗi vào

Trang 10

vở, sau đó đọc lại cho thầy giáo và các bạn cùng nghe, nhận xét, góp ý Cuối giờ, tác giả thường chọn những đoạn văn hay của học sinh khá-giỏi đọc cho các em nghe để học sinh trung bình, yếu có thể học tập

2.2.3 Hướng dẫn học sinh lập Sổ tay tiếng Việt

Muốn học sinh làm tốt các dạng bài tập liên quan đến từ Hán - Việt trong phân môn Luyện từ và câu, học sinh phải hiểu nghĩa của từ Với vốn kiến thức các em đã được học từ lớp 1 đến lớp 4 chưa đủ để các em có thể hiểu và làm được các phần bài tập nêu trên Bởi vậy, từ ngữ được giải thích ở các phần chú thích cuối các bài tập đọc

và các phân môn khác cũng rất quan trọng Đó là những từ ngữ mới mà học sinh cần ghi nhớ để vận dụng làm bài tập các phân môn khác Vì vậy, mỗi học sinh cần có một

sổ tay ghi lại những từ ngữ mới cần lưu ý Cuốn sổ tay này còn được dùng ghi lại những điều học sinh chuẩn bị bài mới ngay ở nhà trước khi đến lớp; bởi với phần "Mở rộng vốn từ" đòi hỏi học sinh phải nắm vững nghĩa của từ Nhiều em hiểu nghĩa của từ còn chưa chính xác, tác giả đều yêu cầu các em đọc trước bài mới ở nhà, tập giải nghĩa

từ, tham khảo sách để nắm được nghĩa của các từ khó Khi các em đã hiểu được nghĩa của từ trong bài học, nắm được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ thì hoạt động lĩnh hội kiến thức mới diễn ra rất thuận lợi

Khuyến khích các em đến thư viện nhà trường mượn sách tham khảo đọc để có thể hiểu và giải nghĩa chính xác các từ Hán - Việt và các thành ngữ, tục ngữ

2.2.4 Tổ chức các trò chơi học tập

Nhằm gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học được diễn ra thường xuyên

và được áp dụng linh hoạt Đôi khi trò chơi chính là nội dung các bài tập, chẳng hạn như thi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, thi xếp từ theo nhóm nhanh và đúng,

Cần chú ý rằng, tuy các em đã học lớp 5, nhưng việc động viên, khích lệ bằng điểm số, lời khen vẫn là rất quan trọng, cho nên thầy cô cần để ý nhiều đến việc động viên, đánh giá, cho điểm, tặng quà (nếu có điều kiện) Tuy đã lớn, là lớp anh chị, nhưng các anh chị này vẫn thích ganh đua, vẫn thích chơi hơn học Vì vậy, dạy học nhằm vào sự ganh đua, vào trò chơi của các em luôn là một việc làm hiệu quả

Ngày đăng: 12/02/2023, 16:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
2. Nguyễn Phương Châm (2001), “Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tr. 54-57 & tr.84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 2001
3. Bửu Kế (2009), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa (tái bản lần thứ nhất) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt từ nguyên
Tác giả: Bửu Kế
Nhà XB: Thuận Hóa
Năm: 2009
5. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1997), Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
4. Ngô Đức Thọ (1997), Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hóa, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w