1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong môn luyện từ và câu lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực

54 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong môn Luyện từ và câu lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực
Tác giả Trần Tố Uyên
Trường học Trường Tiểu học Gia Cẩm
Chuyên ngành Luyện từ và câu lớp 3
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 7,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các kết quả nêu trong khóa luận chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong đề tài đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tác giả Trần Tố Uyên DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTTừ viết tắtNghĩaHSHọc SinhSGKSách Giáo KhoaSGVSách Giáo ViênBGHBan Giám HiệuGVGiáo ViênGVTHGiáo viên Tiểu họcHSTHHọc sinh Tiểu họcLTVCLuyện từ và câu PHẦN I: MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài:Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic thì môn Tiếng Việt cũng chiếm một vai trò không kém phần quan trọng. Việc học tiếng việt sẽ giúp các em hình và phát triển tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, các em sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến việc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cần thiết cho trẻ. Nội dung kỹ năng sống được thể hiên ở tất cả các nội dung của môn học. Những kỹ năng đó chủ yếu là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng suy nghĩ sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm chủ bản thân,..Thông qua các kỹ năng này sẽ giúp trẻ nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống. Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh.Với học sinh lớp 3, do đặc thù tâm sinh lý lứa tuổi, trẻ vẫn còn ham chơi, chưa thực sự chú tâm tiếp thu kiến thức. Vì vậy việc dạy học nhất là phân môn tập đọc đòi hỏi phải khơi gợi được hứng thú tìm tòi, khả năng tiếp nhận của trẻ. Thực tế cho thấy, việc tạo cho học sinh hứng thú nhận thức trong học tập là một trong những yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực, độc lập, sáng tạo. Đối với học sinh tiểu học, do đặc điểm về tâm lý lứa tuổi, các em cần được “Học mọi nơi, mọi lúc, từ mọi người, bằng mọi cách, thông qua mọi nội dung”. Việc khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh luôn là một yêu cầu trong dạy học và đòi hỏi ở giáo viên sự linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp, cách thức tổ chức cho học sinh tiếp cận kiến thức. Hiện nay việc đổi mới phơng pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách đối với mỗi GV. Có nhiều yếu tố góp phần quyết định sự thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học. Trò chơi học tập là một hình thức tích cực hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Ở Tiểu học hoạt động chơi không còn là chủ đạo đối với học sinh. Song cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu và nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa đối với các em. Nếu ta tổ chức cho HS vui chơi một cách hợp lí, khoa học thì mang lại hiệu quả giáo dục cao. Chính vì vậy trò chơi được sử dụng trong các tiết dạy học có tác dụng tích cực nhằm làm thay đổi hình thức học tập. Thông qua trò chơi không khí lớp học trở nên thoải mái dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức của học sinh tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Vận dụng phù hợp trò chơi trong quá trình dạy học sẽ giúp các em hiểu từ, nhớ từ và sử dụng từ chính xác. Xuất phát từ lý do trên, trong quá trình thực tập tại trường Tiểu học Gia Cẩm, em đã lựa chọn và bắt đầu nghiên cứu đề tài: Thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong môn Luyện từ và câu lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực làm đề tài nghiên cứu với mong muốn các giờ luyện tập hấp dẫn và đạt hiệu quả cao hơn. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy. 2.Mục đích nghiên cứuLà một giáo viên tương lai, để thích nghi với chương trình sách giáo khoa mới, tôi không khỏi băn khoăn suy nghĩ về vấn đề này. Làm thế nào để đồng nghiệp và bản thân có được phương pháp dạy Luyện từ và câucho học sinh một cách tối ưu? Làm thế nào để sự tiếp thu kiến thức của các em có hiệu quả? Để học sinh nắm vững kiến thức và vận dụng từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức khoa học?3.Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể: Đề tài này thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:+ Nghiên cứu về các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy Luyện từ và câu môn Tiếng Việt bằng việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập.+ Nội dung và các phương pháp dạy học luyện từ và câu thông qua các trò chơi.+ Phát triển năng lực của học sinh tiểu học thông qua việc dạy học các chuyên đề toán, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của nhà trường.4.Đối tượng và Phạm vi nghiên cứuKhóa luận tập trung nghiên cứu thiết kế, tổ chức một số trò chơi phát huy khả năng học tập của học sinh trong dạy học môn Luyện từ và câu lớp 3. Khóa luận được nghiên cứu tại trường Tiểu học Gia Cẩm Phường Gia Cẩm – Thành phố Việt Trì Tỉnh Phú Thọ.5.Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được các nhiệm vụ trên tôi đã thực hiện Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, các sách giáo khoa, sách bài tập, các tạp chí, sách, báo, tài liệu tham khảo có liên quan tới logic hình thành câu, tư duy sáng tạo, năng lực tư duy sáng tạo, các phương pháp hình thành câu, các phương pháp nhằm phát triển và rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo trong môn luyện từ và câu cho học sinh tiểu học, các bài tập mang tính tư duy sáng tạo.Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:+ Phương pháp quan sát.+ Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm đề tài nghiên cứu nhằm xác định khả thi, tính hiệu quả của các trò chơi học tập ở phần khởi động đã được đề xuất trong đề tài, lấy số liệu rồi phân tích rút ra kết luận được tiến hành tại trường Tiểu học.+ Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Tiếp thu ý kiến của giảng viên trường Đại học Hùng Vương và một số giáo viên ở trường Tiểu học về nội dung nghiên cứu để hoàn thiện đề tài.6.Đóng góp mới của đề tài: Đề tài được thực hiện sẽ đóng góp một phần tích cực và thực tế trong việc dạy học Tiếng Việt bậc tiểu học. Học sinh học tập chủ động, tích cực hơn. Sẽ tạo được hứng thú trong học tập, thực sự học tiếng Việt là: Học vui, học mà chơi chơi mà học. Đem lại hiệu quả cao trong học môn tiếng Việt đặc biệt là phần Luyện từ và câu cho học sinh tiểu học. Tạo nền móng cho sự phát triển của tư duy ngôn ngữ, trí tuệ của học sinh.7.Giới thiệu cấu trúc của đề tài: Đề tài gồm 3 phần:+ Phần I: Mở Đầu: Đề cập đến các vấn đề chung.+ Phần II: Nội Dung Gồm có:CHƯƠNG I: Cơ Sở Khoa Học Về Dạy Học Luyện Từ Và Câu Theo Định Hướng Phát Triển Năng LựcCHƯƠNG II: Phát Triển Năng Lực Học Sinh Bằng Việc Thiết Kế Và Tổ Chức Một Số Trò Chơi Học Tập Trong Môn Luyện Từ Và Câu.CHƯƠNG III: Thực Nghiệm Su Phạm+ Phần III: Kết Luận PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC1.1. Lý luận về năng lực1.1.1. Khái niệm năng lựcHiện nay có rất nhiều quan điểm và cách hiểu về năng lực cả trên thế giới và ở Việt Nam.1.1.1.1.Quan điểm năng lực trên thế giới+ Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) cho rằng năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể.+ Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.+ Denyse Tremblay cho rằng năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.+ Còn theo F.E.Weinert, năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp.Nhìn chung, hầu hết các quan điểm ở trên đều quy năng lực vào phạm trù khả năng hoặc kĩ năng. Khả năng hay kĩ năng trong tiếng Việt có nghĩa tương đương với một số từ trong tiếng Anh như: competence, ability, capability, skill… Tuy nhiên nếu hiểu năng lực như hiểu kỉ năng hay khả năng thì có phần chưa toàn diện.1.1.1.2. Quan điểm năng lực tại Việt NamỞ Việt Nam, với xu hướng giáo dục như đã nói ở trên thì vấn đề năng lực cũng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Chẳng hạn như:+ Trong lĩnh vực tâm lý, người ta cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Và chia năng lực thành năng năng lực chung, năng lực cốt lõi và năng lực chuyên môn.+ Tài liệu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong CT GDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp năng lực vào phạm trù hoạt động và giải thích: năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí... để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.+ Trần Khánh Đức, trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.+ Theo cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn thì cho rằng năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy.+ Trong một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge). Báo cáo này đã tổng hợp các định nghĩa chính về năng lực trong đó nêu rõ năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó.Như vậy, cho dù khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này. Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Bên cạnh đó, tuy có một số quan điểm không cơ bản khác nhau về năng lực nhưng các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đều gặp nhau ở qua điểm cho rằng, năng lực là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Và được bộc lộ thông qua các hoạt động (hành động, công việc...)1.1.1.3.Quan điểm của tác giả về năng lựcDựa vào những quan điểm và cách hiểu về năng lực của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy năng lực là một khái niệm rộng, với nhiều cách hiểu và được nhìn nhận trên nhiều lĩnh vực. Có thể thấy rằng, năng lực dù trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có ba đặc trưng cơ bản, đó là: được bộc lộ ở hoạt động; tính “hiệu quả” của năng lực, nghĩa là “thành công” hoặc “chất lượng cao” của hoạt động; “sự phối hợp (tổng hợp, huy động) nhiều nguồn lực”.Tóm lại, có thể hiểu năng lực là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạt động (công việc) cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, năng lực được hình thành dựa vào tố chất sẵn có của cá nhân. Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành năng lực ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với năng lực mà mình có.1.1.2.Dạy học định hướng phát triển năng lực1.1.2.1.Tổng quan

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các kết quả nêu trong khóa luận chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong đề tài đảm bảo tính chính xác,tin cậy và trung thực

Tác giả

Trần Tố Uyên

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic thì môn Tiếng Việtcũng chiếm một vai trò không kém phần quan trọng Việc học tiếng việt sẽgiúp các em hình và phát triển tư duy ngôn ngữ Thông qua môn Tiếng Việt,các em sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mìnhmột cách chính xác và biểu cảm

Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đếnviệc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cần thiết cho trẻ Nội dung

kỹ năng sống được thể hiên ở tất cả các nội dung của môn học Những kỹnăng đó chủ yếu là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng suy nghĩsáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm chủ bản thân, Thông qua các kỹnăng này sẽ giúp trẻ nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết

tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừngvươn lên trong học tập cũng như cuộc sống Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cáchgiao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộngđồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điềukiện, mọi hoàn cảnh

Với học sinh lớp 3, do đặc thù tâm sinh lý lứa tuổi, trẻ vẫn còn hamchơi, chưa thực sự chú tâm tiếp thu kiến thức Vì vậy việc dạy học nhất làphân môn tập đọc đòi hỏi phải khơi gợi được hứng thú tìm tòi, khả năng tiếpnhận của trẻ Thực tế cho thấy, việc tạo cho học sinh hứng thú nhận thứctrong học tập là một trong những yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực, độc lập,sáng tạo Đối với học sinh tiểu học, do đặc điểm về tâm lý lứa tuổi, các emcần được “Học mọi nơi, mọi lúc, từ mọi người, bằng mọi cách, thông qua mọinội dung” Việc khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh luôn là một yêu cầutrong dạy học và đòi hỏi ở giáo viên sự linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp,cách thức tổ chức cho học sinh tiếp cận kiến thức

Trang 4

Hiện nay việc đổi mới phơng pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách đốivới mỗi GV Có nhiều yếu tố góp phần quyết định sự thành công của việc đổimới phương pháp dạy học Trò chơi học tập là một hình thức tích cực hỗ trợđắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học Ở Tiểu học hoạt động chơikhông còn là chủ đạo đối với học sinh Song cùng với học, chơi là nhu cầukhông thể thiếu và nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa đối với các

em Nếu ta tổ chức cho HS vui chơi một cách hợp lí, khoa học thì mang lạihiệu quả giáo dục cao Chính vì vậy trò chơi được sử dụng trong các tiết dạyhọc có tác dụng tích cực nhằm làm thay đổi hình thức học tập Thông qua tròchơi không khí lớp học trở nên thoải mái dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức củahọc sinh tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn

Vận dụng phù hợp trò chơi trong quá trình dạy học sẽ giúp các emhiểu từ, nhớ từ và sử dụng từ chính xác Xuất phát từ lý do trên, trong quátrình thực tập tại trường Tiểu học Gia Cẩm, em đã lựa chọn và bắt đầu nghiên

cứu đề tài: " Thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong môn Luyện

từ và câu lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực" làm đề tài nghiên cứu

với mong muốn các giờ luyện tập hấp dẫn và đạt hiệu quả cao hơn Từ đó gópphần nâng cao hiệu quả giảng dạy

2 Mục đích nghiên cứu

Là một giáo viên tương lai, để thích nghi với chương trình sách giáo khoamới, tôi không khỏi băn khoăn suy nghĩ về vấn đề này Làm thế nào để đồngnghiệp và bản thân có được phương pháp dạy "Luyện từ và câu"cho học sinhmột cách tối ưu? Làm thế nào để sự tiếp thu kiến thức của các em có hiệuquả? Để học sinh nắm vững kiến thức và vận dụng từ ngữ, ngữ pháp tiếngViệt là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức khoa học?

Trang 5

3 Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

Đề tài này thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

+/ Nghiên cứu về các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy Luyện từ và câumôn Tiếng Việt bằng việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập

+/ Nội dung và các phương pháp dạy học luyện từ và câu thông qua các tròchơi

+/ Phát triển năng lực của học sinh tiểu học thông qua việc dạy học cácchuyên đề toán, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của nhà trường

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu thiết kế, tổ chức một số trò chơi phát huykhả năng học tập của học sinh trong dạy học môn Luyện từ và câu lớp 3.Khóa luận được nghiên cứu tại trường Tiểu học Gia Cẩm - Phường Gia Cẩm– Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện được các nhiệm vụ trên tôi đã thực hiện Phương pháp nghiên

cứu tài liệu: Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu về giáo dục học,

tâm lý học, các sách giáo khoa, sách bài tập, các tạp chí, sách, báo, tài liệutham khảo có liên quan tới logic hình thành câu, tư duy sáng tạo, năng lực tưduy sáng tạo, các phương pháp hình thành câu, các phương pháp nhằm pháttriển và rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo trong môn luyện từ và câu cho họcsinh tiểu học, các bài tập mang tính tư duy sáng tạo

Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:

+/ Phương pháp quan sát

+/ Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm đề tài nghiên cứunhằm xác định khả thi, tính hiệu quả của các trò chơi học tập ở phần khởi

Trang 6

động đã được đề xuất trong đề tài, lấy số liệu rồi phân tích rút ra kết luậnđược tiến hành tại trường Tiểu học.

+/ Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Tiếp thu ý kiến của giảng viêntrường Đại học Hùng Vương và một số giáo viên ở trường Tiểu học về nộidung nghiên cứu để hoàn thiện đề tài

6 Đóng góp mới của đề tài:

Đề tài được thực hiện sẽ đóng góp một phần tích cực và thực tế trong việcdạy học Tiếng Việt bậc tiểu học Học sinh học tập chủ động, tích cực hơn Sẽtạo được hứng thú trong học tập, thực sự học tiếng Việt là: Học vui, học màchơi - chơi mà học Đem lại hiệu quả cao trong học môn tiếng Việt đặc biệt làphần Luyện từ và câu cho học sinh tiểu học Tạo nền móng cho sự phát triểncủa tư duy ngôn ngữ, trí tuệ của học sinh

7 Giới thiệu cấu trúc của đề tài:

CHƯƠNG II: Phát Triển Năng Lực Học Sinh Bằng Việc Thiết Kế Và

Tổ Chức Một Số Trò Chơi Học Tập Trong Môn Luyện Từ Và Câu.

CHƯƠNG III: Thực Nghiệm Su Phạm

+/ Phần III: Kết Luận

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Lý luận về năng lực

1.1.1 Khái niệm năng lực

Hiện nay có rất nhiều quan điểm và cách hiểu về năng lực cả trên thếgiới và ở Việt Nam

1.1.1.1 Quan điểm năng lực trên thế giới

+ Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) cho rằngnăng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợptrong một bối cảnh cụ thể

+ Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004xem năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trênnhiều nguồn lực

+ Denyse Tremblay cho rằng năng lực là khả năng hành động, thànhcông và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp cácnguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống

+ Còn theo F.E.Weinert, năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năngsẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết nhữngvấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để điđến giải pháp

Nhìn chung, hầu hết các quan điểm ở trên đều quy năng lực vào phạmtrù khả năng hoặc kĩ năng Khả năng hay kĩ năng trong tiếng Việt có nghĩatương đương với một số từ trong tiếng Anh như: competence, ability,capability, skill… Tuy nhiên nếu hiểu năng lực như hiểu kỉ năng hay khảnăng thì có phần chưa toàn diện

Trang 8

1.1.1.2 Quan điểm năng lực tại Việt Nam

Ở Việt Nam, với xu hướng giáo dục như đã nói ở trên thì vấn đề nănglực cũng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu Chẳng hạn như:

+ Trong lĩnh vực tâm lý, người ta cho rằng năng lực là tổng hợp cácđặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng củamột hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Và chia năng lực thành năng năng lực chung, năng lực cốt lõi và năng lựcchuyên môn

+ Tài liệu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thểtrong CT GDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp năng lực vào phạm trùhoạt động và giải thích: năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩnăng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để thựchiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định

+ Trần Khánh Đức, trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hìnhđào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là khả năngtiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (trithức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đốiphó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghềnghiệp

+ Theo cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn thì chorằng năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp vớinhững yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việchoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy

+ Trong một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm

và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ mối liên quan giữa các kháiniệm năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge) Báocáo này đã tổng hợp các định nghĩa chính về năng lực trong đó nêu rõ năng

Trang 9

lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoànthành một công việc với mức độ chính xác nào đó.

Như vậy, cho dù khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhấtnhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tựnhau về khái niệm này Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp củacác khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiệnmột nhiệm vụ có hiệu quả Bên cạnh đó, tuy có một số quan điểm không cơbản khác nhau về năng lực nhưng các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở ViệtNam đều gặp nhau ở qua điểm cho rằng, năng lực là sự kết hợp của các khảnăng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện mộtnhiệm vụ có hiệu quả Và được bộc lộ thông qua các hoạt động (hành động,công việc )

1.1.1.3 Quan điểm của tác giả về năng lực

Dựa vào những quan điểm và cách hiểu về năng lực của các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước có thể thấy năng lực là một khái niệm rộng, vớinhiều cách hiểu và được nhìn nhận trên nhiều lĩnh vực Có thể thấy rằng, nănglực dù trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có ba đặc trưng cơ bản, đó là: đượcbộc lộ ở hoạt động; tính “hiệu quả” của năng lực, nghĩa là “thành công” hoặc

“chất lượng cao” của hoạt động; “sự phối hợp (tổng hợp, huy động) nhiềunguồn lực”

Tóm lại, có thể hiểu năng lực là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạtđộng (công việc) cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, năng lực được hình thànhdựa vào tố chất sẵn có của cá nhân Thông qua quá trình rèn luyện, học tập vàthực hành năng lực ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạtđược hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với năng lực mà mìnhcó

Trang 10

1.1.2 Dạy học định hướng phát triển năng lực

1.1.2.1 Tổng quan

Dạy học định hướng năng lực là quan điểm và cách thức dạy học mới ởViệt Nam Điều này có nghĩa là, cách dạy học thông thường lâu nay chỉ chútrọng việc giảng dạy kiến thức và đánh giá nhận thức của người học thôngqua các bài kiểm tra (nói hoặc viết) Thì dạy học định hướng năng lực tậptrung vào việc phát triển các năng lực cần thiết để người học có thể thànhcông trong cuộc sống cũng như công việc

Trong những thập kỉ gần đây với sự phát triển mạnh của khoa học kĩthuật cũng như tri thức, giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức

là không đủ, bởi kiến thức hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thành lạc hậu

Do đó nhiều hệ thống giáo dục đã hướng tới việc giáo dục để người học có đủkhả năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức để giải quyết các vấn đềtrong khoa học cũng như trong thực tế Khi mục tiêu và hình thái giáo dụcchuyển đổi thì phương pháp giảng dạy và đánh giá cũng thay đổi theo Các hệthống giáo dục tiên tiến đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo năng lựcthay vì giảng dạy theo nội dung, kiến thức Giảng dạy theo năng lực là hướngtiếp cận tập trung vào đầu ra của quá trình dạy và học, trong đó nhấn mạnhngười học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc mộtchương trình giáo dục Nói cách khác, chất lượng đầu ra đóng vai trò quantrọng nhất đối với giảng dạy theo năng lực Điều này có nghĩa là để chươngtrình giảng dạy theo năng lực có hiệu quả, cần phải bắt đầu với bức tranh rõràng về năng lực quan trọng mà người học cần phải đạt được, tiếp đến là xâydựng và phát triển chương trình dạy và học, sau đó giảng dạy và xây dựng cácphương pháp đánh giá nhằm đảm bảo rằng mục đích của giáo dục theo nănglực đạt được mục tiêu đề ra Có thể thấy, yếu tố quan trọng của giáo dục nănglực là xây dựng được các tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng thể hiện rõ mục tiêu của

Trang 11

giáo dục, thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học cóthể đạt được các mục tiêu ấy.

1.1.2.2 Đặc điểm

Để việc dạy học định hướng theo năng lực có hiệu quả, người giảngviên cần thực hiện các bước cơ bản sau: bước đầu tiên trong việc thiết kếchương trình giáo dục theo năng lực là xác định các năng lực cơ bản học sinhcần phải đạt được khi kết thúc khóa học Lưu ý là chỉ xác định một số nănglực cơ bản cần thiết nhất, phản ánh được mục tiêu của chương trình giáo dục.Tiếp theo là phát triển các năng lực thành phần của năng lực cơ bản, phù hợpvới mục tiêu của chương trình hoặc bậc học cụ thể Các năng lực thành phầnnày phải được tuyên bố rõ ràng, có thể đo lường được và phải mô tả chính xáchọc sinh có thể làm được gì sau khi kết thúc chương trình hoặc bậc học Một

số đặc tính mà các nhà nghiên cứu lưu ý khi xây dựng chương trình giáo dụctheo năng lực như các phương pháp và phương tiện giảng dạy phải đa dạng;các tài liệu, tư liệu, dụng cụ dạy học phải đầy đủ đáp ứng được yêu cầu củachương trình giảng dạy; học sinh phải được thông báo trước về các năng lựccần đạt được và được phản hồi liên tục về sự tiến bộ trong học tập nhằm cónhững hành động phù hợp để cải tiến hoặc nâng cao chất lượng học tập củahọc sinh

Tóm lại, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục theo năng lực làhình thức chuyển đổi từ việc nhấn mạnh việc giảng viên tin là học sinh cầnphải biết gì sang việc học sinh phải nắm rõ mình cần biết gì và có thể làm gìtrong các tình huống và bối cảnh khác nhau Do đó, giảng dạy theo năng lực

là lấy học sinh làm trung tâm và giảng viên giữ vai trò như người hướng dẫn.Phương pháp này giúp học sinh chủ động hơn trong việc đạt được năng lựccần phải có theo yêu cầu đặt ra phù hợp với từng điểm mạnh, điểm yếu của cánhân Giảng dạy theo năng lực là một hình thái giáo dục có thể áp dụng chonhiều lĩnh vực và bối cảnh Chính vì thế, giáo dục theo năng lực tập trung vào

Trang 12

đầu ra gắn liền với nhu cầu của thị trường lao động và xã hội, hoặc cấp họctrên.

Dạy học định hướng năng lực đang là xu thế và yêu cầu cơ bản củagiáo dục Việt Nam Đây không chỉ là sự thay đổi cách thức và phương phápdạy học mà còn là sự thay đổi hình thái dạy học để theo kịp và đáp ứng đượcđòi hỏi của thời đại, và thực tế xã hội Năng lực là khái niệm rộng và đượccấu thành bởi nhiều kĩ năng khác nhau Trong dạy học năng lực được hiểu làcác tiêu chí được đề ra ngay từ đầu để nhằm phục vụ quá trình giáo dụchướng người học (yêu cầu) đạt được sau khi hoàn thành quá trình giáo dục.Theo cách hiểu đó, tư duy phản biển cũng được xem là một kĩ năng để pháthuy năng lực chủ động, sáng tạo của học sinh Đó cũng là cách thức để ngườigiáo viên tạo ra không khí giao tiếp dân chủ trong quá trình dạy học

Dạy học định hướng theo năng lực là một quá trình, vì vậy để thực hiệnđược cần có sự động bộ, nhất quán trong tất cả các khâu để đạt được mục tiêu

đề ra Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng chuyên môncho giáo viên thì việc hình thành và đưa ra các khung năng lực cụ thể chotừng cấp học cũng là công việc yêu cầu được thực hiện song song

1.1.2.3 Vai trò của môn tiếng Việt trong phát triển các năng lực của học

Trang 13

1.2.2.2 Khái niệm

Trong từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992 đã nêu rõ, chữ “trò” đượchiểu đơn giản là hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người Chữ “chơi” làmột từ mang ý chỉ chung những hoạt động trong khoảng thời gian nhàn rỗi,ngoài giờ làm việc nhằm mục đích hướng tới giải trí là chính Qua đó có thểhiểu “trò chơi” là những hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của conngười, trước hết là vui chơi, giải trí Sau đó là những giá trị như phát triển khảnăng

1.2.2.3 Các thể loại trò chơi

Về cơ bản thì trò chơi gồm 7 loại chính:

+/ Trò chơi điện tử: (tiếng Anh: electronic game) là một trò chơi sửdụng các thiết bị điện tử để tạo ra một hệ thống tương tác mà người chơi cóthể chơi Trò chơi điện tử là hình thức phổ biến nhất hiện nay và vì lý do này,hai thuật ngữ thường được sử dụng nhầm lẫn Các hình thức phổ biến kháccủa trò chơi điện tử bao gồm các sản phẩm như trò chơi điện tử cầm tay, hệthống độc lập (ví dụ: pinball, slot machine hoặc các máy trò chơi arcade cơđiện) và các sản phẩm không trực quan độc quyền (ví dụ: trò chơi âm thanh)

+/ Trò chơi may rủi hay là Trò chơi hên-xui là trò chơi chỉ dựa vào maymắn và ngẫu nhiên mà thắng cuộc Ví dụ: Bài lá, chơi bài, trò chơi đánh bạc,trò chơi với xúc xắc

+/ Trò chơi một người chơi bao gồm: Trò chơi điện tử một người chơi,lập phương Rubik…

+/ Trò chơi nhiều người chơi là trò chơi có ít nhất hai người tham giachơi (cùng một lúc) Người chơi có thể là đồng đội, hoặc là đối thủ của nhau

+/ Trò chơi thi đua là chò chơi thường dựa trên sự vượt trội về khảnăng để dành chiến thắng Ví dụ:Cờ vua, môn thể thao thể chất, shogi, giảiđấu thể thao trí tuệ…

Trang 14

+/ Trò chơi trí tuệ là một bài toán hay một điều bí ẩn mang lại giá trịgiải trí.

+/ Trò chơi trẻ em là những trò chơi được ưa chuộng bởi độ tuổi họcsinh, mầm non

1.2.3 Trò chơi học tập

1.2.3.1 Khái niệm

TCHT được các nhà lí luận dạy học nghiên cứu và cho rằng: tất cảnhững trò chơi gắn với việc dạy học (phương pháp, hình thức tổ chức vàluyện tập không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi) đều được gọi làTCHT

TCHT thực chất là một trò chơi có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ củatrẻ Tuy nhiên, vẫn có nhiều quan niệm khác nhau, như: E.I Chikhieva quanniệm: “Trò chơi được gọi là TCHT hay trò chơi dạy học là vì trò chơi đógắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi cần phải có tài liệudạy học phù hợp kèm theo”

Theo P.G Xamarucova cho rằng, loại trò chơi được xem là TCHT “lànhững trò chơi có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻem”

Theo Đinh Văn Vang, TCHT “là loại trò chơi có luật thường do ngườilớn nghĩ ra cho trẻ chơi Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quátrình hoạt động trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập được đặt ra như nhiệm

vụ chơi, qua đó mà trí tuệ trẻ phát triển” (dẫn theo Trần Thị Chinh, 2018, tr15); hay “TCHT là trò chơi có luật và nội dung cho trước, hướng đến sự mởrộng, chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có, nhằm phát triển cácnăng lực trí tuệ cho trẻ, trong đó có nội dung học tập được kết hợp với hìnhthức chơi”

Trang 15

1.2.3.2 Vận dụng trò chơi trong học tập

Mỗi trò chơi đều có những nét đặc sắc riêng và có tác dụng nhất địnhđối với sự hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách, trí tuệ của người học vàmỗi trò chơi lại có những lợi thế riêng trong việc giáo dục HS Tuy có nhiềuloại hình trò chơi, nhưng các trò chơi đều có cấu trúc chung đó là: mục đíchchơi, hành động chơi, luật chơi, đối tượng chơi, các quá trình, tình huống vàquan hệ Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các mối quan hệ trong TCHTđược tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ cho phép của các nhiệm vụdạy học và được định hướng trước ở mục tiêu, nội dung học tập khi triển khaithực hiện TCHT được các GV và người lớn sáng tạo ra, sử dụng dựa trênnhững yêu cầu của lí luận dạy học, đặc biệt là của lí luận dạy học các mônhọc cụ thể; chúng là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bàibản cứng nhắc mà được tổ chức linh hoạt, phù hợp với nội dung bài dạy vàgóp phần làm cho tiết học thêm sinh động, thu hút HS chú tâm vào bài học

1.2.3.3 Lựa chọn trò chơi học tập

Xét theo bản chất tâm - sinh lí, trò chơi học tập có những loại hình cơbản như: chơi đơn độc, chơi song song, chơi hội, chơi hợp tác, chơi chứcnăng, chơi kiến tạo, chơi tự do, chơi có nghi thức, chơi sao chép lại mẫu, chơi

có liên hệ, chơi sáng tạo… chứng tỏ loại hình trò chơi rất đa dạng Trong dạyhọc, để định hướng mục tiêu giáo dục, rèn luyện cho HS, việc phân loạiTCHT chủ yếu dựa vào chức năng của trò chơi và thường được chia thành 3nhóm:

- Nhóm trò chơi phát triển nhận thức: là những trò chơi đòi hỏi người thamgia phải sử dụng các chức năng nhận thức, nỗ lực nhận thức, thực hiện cáchành vi và hành động nhận thức để thực hiện và hoàn thành việc chơi; qua đó,cải thiện và phát triển trí tuệ và khả năng tư duy của mình Nhóm trò chơiphát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ:

Trang 16

+ Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: các trò chơi xếp hình, tròchơi nhận dạng các đồ vật, con vật, trò chơi nghe và nhận dạng âm thanh ; + Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: trò chơi kể và tiếp nốicác từ ngữ, đồ vật, con vật… trò chơi nhắc lại âm, nhận lại các hình, nhớ lạidãy số, số lượng ;

+ Các trò chơi phát triển trí tưởng tượng, tư duy: chơi cờ, các trò chơixây dựng, lắp ghép mô hình, trò chơi đóng vai, đóng kịch, trò chơi thi giải đố,tính toán, trò chơi khoa học vui

- Nhóm trò chơi phát triển các giá trị: là những trò chơi phát triển các giá trịvăn hoá, xã hội, chính trị, pháp luật hoặc các giá trị về đạo đức, thẩm mĩ kích thích thái độ, tình cảm tích cực, khuyến khích sự phát triển các phẩmchất cá nhân của HS, như: trò chơi thi nấu cơm, thi kéo co, thi hát đối đáp…

- Nhóm trò chơi phát triển vận động: là trò chơi có nội dung chủ yếu là vậnđộng, đòi hỏi người chơi phải vận động tuân thủ theo luật hay quy tắc nhấtđịnh, nhằm phát triển khả năng vận động, sự nhanh nhẹ, khéo léo của HS

Loại trò chơi này đối với mỗi lứa tuổi, mỗi cấp học có khác nhau đểphù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS

1.2.3.4 Điểm tối ưu của trò học tập

Trò chơi học tập thường được tổ chức tại các môi trường giáo dục nhưsân trường hay trong lớp học, cũng có thể là khuôn viên trong các buổi ngoạikhoá Được tổ chức bởi giáo viên bộ môn hoặc các chuyên viên giáo dục chocác nhóm đối tượng thường là cùng độ tuổi với nhau( Học sinh, sinh viên…).Luật chơi và mục đích giáo dục của trò chơi thường được công bố rõ ràngtrước khi trò chơi bắt đầu Để thực hiện trò chơi học tập, người tổ chức phải

có có chương trình rõ ràng, được chuẩn bị cẩn thận và bài bản Tùy vào mỗimôn học và khối lớp sẽ có nội dung và nhiệm vụ chơi cụ thể Do đó, trò chơi

Trang 17

học tập đem lại niềm vui và sự hứng thú cho các em học sinh, từ đó nâng caochất lượng học tập.

1.3 Lý luận về Thiết kế và Tổ chức

1.3.2 Lý luận về thiết kế

Thiết kế là việc tạo ra một bản vẽ hoặc quy ước nhằm tạo dựng một đốitượng, một hệ thống hoặc một tương tác giữa người với người có thể đo lườngđược (như ở các bản vẽ chi tiết kiến trúc, bản vẽ kỹ thuật, quy trình kinhdoanh, sơ đồ mạch điện, ni mẫu cắt may ) Ở các lĩnh vực khác nhau, việcthiết kế được gán những ý nghĩa khác nhau (xem Các ngành thiết kế bêndưới) Trong một số trường hợp, việc xây dựng, tạo hình trực tiếp một đốitượng (như với nghề gốm, công việc kỹ thuật, quản lý, lập trình, và thiết kế đồhọa ) cũng được coi là vận dụng tư duy thiết kế

Việc thiết kế thường đòi hỏi những cân nhắc về các khía cạnh mangtính thẩm mỹ, công năng, kinh tế và chính trị-xã hội của cả đối tượng đượcthiết kế lẫn quá trình thiết kế Nó có thể bao gồm trong đó nghiên cứu, ýtưởng, mô hình, tạo mẫu, điều chỉnh có tính tương tác, và tái-thiết kế Trongkhi đó, rất nhiều những thứ khác nhau có thể trở thành đối tượng của thiết kế,

ví dụ quần áo, giao diện đồ họa người dùng, các tòa nhà chọc trời, hệ thốngnhận dạng thương hiệu, các quy trình kinh doanh, và thậm chí cả các phươngpháp hoặc quá trình thiết kế

Theo đó, "thiết kế" có thể là danh từ chỉ một sự xác định trừu tượng về(những) thứ được tạo ra, hoặc là động từ chỉ quá trình tạo ra và sẽ được làm

rõ trong ngữ cảnh nhất định Về cơ bản, thiết kế bao hàm sự vật, hiện tượng,hành động có liên quan đến sáng tạo

Trang 18

1.3.3 Lý luận về tổ chức

Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giaoquyền hạn và phân phối các nguồn lực của sao cho chúng đóng góp một cáchtích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của doanh nghiệp

- Đảm bảo tính hấp dẫn đối với học sinh thu hút đợc nhiều học sinhtham gia chơi, tạo được không khí thi đua, sôi nổi hào hứng trong lớp học

- Trò chơi phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của lớp học,trường học (về quỹ thời gian, về không gian, về các phương tiện cần thiết chotrò chơi)

- Đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho học sinh

1.4 Lý luận về Luyện từ và câu

1.4.1 Luyện từ và câu là gì

Luyện từ và câu là phân môn có vị trí quan trọng trong việc hoàn thiện

kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh Tiểu học, hướng tới phát triển ngôn

Trang 19

ngữ văn hóa và trí tuệ Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Luyện từ và câu là làmgiàu vốn từ và phát triển năng lực dùng từ đặt câu cho học sinh

Về kiến thức, phân môn Luyện từ và câu cũng cấp cho học sinh cáckiến thức sơ giản về từ và câu, bao gồm:

- Mở rộng vốn từ cho học sinh theo các chủ điểm

- Ngữ âm - chính tả: cấu tạo tiếng; cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam;cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài; cách viết tên các cơ quan, tổ chức,giải thưởng, danh hiệu, huân chương

- Cấu tạo từ, từ phân loại theo cấu tạo (từ đơn, từ phức)

- Kiến thức về nghĩa của từ và các thao tác, phương pháp giải nghĩa từ cơ bản

- Các lớp từ vựng tiếng Việt: từ toàn dân - từ địa phương, từ đồng nghĩa, từđồng âm, từ trái nghĩa

- Từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ

- Các kiểu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? (được xem là các kiểu câuđơn trần thuật cơ bản); các loại câu xét theo mục đích phát ngôn (câu kể, câuhỏi, câu cảm, câu khiến), theo cấu tạo (câu đơn, câu ghép); các quy tắc dùng

từ đặt câu và tạo văn bản (viết đoạn văn); thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ,trạng ngữ); liên kết câu…

- Dấu câu: dấu phẩy, dấu chấm, dấu chấm than, dấu chấm hỏi, dấu hai chấm,dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang

- Các biện pháp tu từ: so ánh, nhân hóa

1.4.2 Mục đích dạy luyện từ và câu

1.4.2.1 Hình thành và phát triển kĩ năng tiếng Việt:

Thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sửdụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi

Trang 20

trường hoạt động của lứa tuổi Sách giáo khoa tiếng Việt 3 tiếp tục lấy nguyêntắc giao tiếp làm định hướng cơ bản Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếngViệt thông qua tất cả các phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ

và câu Phân môn luyện từ và câu được học từ lớp 2, song đến lớp 3 mới cónhững tiết học dành riêng để trang bị kiến thức cho học sinh Các em được

mở rộng, hệ thống hoá vốn từ, được trang bị kiến thức sơ giản về từ, câu, kĩnăng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu Giai đoạn này, trẻ em có sự thay đổiđáng kể Các em thích diễn đạt, thích vận dụng từ ngữ hay để nói, viết Thếnhưng tư duy các em phát triển chưa hoàn thiện, các em chưa hiểu nghĩa từ,chưa nắm chắc kiến thức ngữ pháp tiếng Việt Vì vậy, việc giúp các em hìnhthành và phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt là rất quan trọng Các em nắmchắc kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt để học tốt các phân môn tiếngViệt và các môn học khác, là cơ sở nền tảng cho việc học tập các bậc họctrên

1.4.2.2 Sử dụng từ, câu tiếng việt giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, năng lực tư duy

-Thông qua các bài Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu họcsinh được rèn luyện và phát triển trí tưởng tượng ngay từ các bài thơ, bàivăn Các em hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu để nói,viết đúng, viết hay, vận dụng một số biện pháp tu từ Từ đó, các em có thểtrau dồi kĩ năng vận dụng từ ngữ đưa vào ngữ cảnh phù hợp, sinh động, cóthói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt vănhoá trong giao tiếp và thích học tiếng Việt

1.4.2.3 Giúp học sinh ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt, văn hóa trong giao tiếp để trẻ tích luỹ những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt

Quá trình học "Luyện từ và câu" giúp các em biết sử dụng từ ngữ phùhợp trong giao tiếp hàng ngày với bạn bè, bố mẹ và mọi người xung quanh.Bồi dưỡng cho các em biết thưởng thức cái đẹp, biết thể hiện những buồn,

Trang 21

vui, yêu, ghét của con người Từ đó, học sinh biết phân biệt đẹp, xấu, thiện, ác

để hoàn thiện nhân cách cho bản thân Hình thành và bồi dưỡng kĩ năng sửdụng tiếng Việt chính là tạo điều kiện cho các em trở thành những nhà ngônngữ học trong tương lai

1.4.3 Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 3

- Chủ điểm Măng nonLuyện từ và câu: Ôn về từ chỉ sự vật So sánhLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ thiếu nhi

- Chủ điểm Mái ấmLuyện từ và câu: So sánh Dấu hai chấmLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Gia đình

- Chủ điểm Tới trườngLuyện từ và câu: So sánhLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Trường học

Dấu phẩy

- Chủ điểm Cộng đồngLuyện từ và câu: Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái

So sánhLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Cộng đồng

Ôn tập câu Ai làm gì?

- Chủ điểm Quê hươngLuyện từ và câu: So sánh Dấu chấmLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Quê hương

Trang 22

Ôn tập câu Ai làm gì?

- Chủ điểm Bắc Trung NamLuyện từ và câu: Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái

So sánhLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Từ địa phương

Dấu chấm hỏi, chấm than

- Chủ điểm Anh em một nhàLuyện từ và câu: Ôn tập về từ chỉ đặc điểm

Ôn tập câu Ai thế nào?

Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Các dân tộcLuyện đặt câu có hình ảnh so sánh

- Chủ điểm Thành thị và nông thônLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Thành thị - Nông thôn

Dấu phẩyLuyện từ và câu: Ôn tập về từ chỉ đặc điểm

Ôn tập câu Ai thế nào? Dấu phẩy

- Chủ điểm: Bảo vệ tổ quốcLuyện từ và câu: Nhân hóa Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Khi nào?

Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Tổ quốc Dấu phẩy

- Chủ điểm: Sáng tạoLuyện từ và câu: Nhân hóa Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Ở đâu?Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Sáng tạo Dấu phẩy, dấu chấm, chấm hỏi

Trang 23

- Chủ điểm: Nghệ thuậtLuyện từ và câu: Nhân hóa Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Như thế nào?

Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Nghệ thuật Dấu phẩy

- Chủ điểm: Lễ hộiLuyện từ và câu: Nhân hóa Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Vì sao?

Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Lễ hội Dấu phẩy

- Chủ điểm: Thể thaoLuyện từ và câu: Nhân hóa Ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì?

Dấu chấm, chấm hỏi, chấm thanLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Thể thao Dấu phẩy

- Chủ điểm: Ngôi nhà chungLuyện từ và câu: Đặt và trả lời câu hỏi Bằng gì?

Dấu hai chấmLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Các nước Dấu phẩy

- Chủ điểm: Bầu trời và mặt đấtLuyện từ và câu: Nhân hóaLuyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên

Dấu chấm, dấu phẩy

1.5 Thực tiễn tại trường tiểu học Gia Cẩm

1.5.1 Giới thiệu về trường Tiểu học Gia Cẩm

1.5.1.1 Giới thiệu chung

TRƯỜNG TIỂU HỌC GIA CẨM PHƯỜNG GIA CẨM – THÀNH PHỐ

-VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

Trang 24

ĐT: 0210.3848136

Địa chỉ: Khu 11 - Phường Gia Cẩm

– Thành phố Việt Trì

Email: thgiacam@pgdviettri.edu.vn

Logo trường Tiểu học Gia Cẩm

Trường được thành lập năm 1989 theo quyết định của UBND Thànhphố Việt Trì chia tách từ trường phổ thông cơ sở Gia Cẩm Sau 20 năm nămthành lập và phát triển đến nay trường Tiểu học Gia Cẩm đã trở thành trường

có quy mô lớn nhất tỉnh Phú Thọ ở bậc Tiểu học Gồm 32 lớp 1123 học sinh.Với 55 cán bộ giáo viên có trình độ chuẩn trở lên Trong đó trên chuẩn là91,2%

Có 5 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp quốc gia Trường tổ chức100% học sinh được học 10 buổi/Tuần 100% học sinh được học môn ngoạingữ Tiếng Anh

Là một trong những trường Tiểu học đầu tiên của Tỉnh Phú Thọ đượccông nhận là trường chuẩn quốc gia giai đoạn 1996 – 2000

1.5.1.2 Thành tích

Năm 2003 trường được chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng ba

Năm 2005 được nhận cờ thi đua của chính phủ, 4 lần nhận danh hiệu lá

cờ đầu được UBND Tỉnh Phú Thọ tặng cờ thi đua

Đặc biệt năm học 2008 – 2009 toàn trường có 972 học sinh trong đó có

292 học sinh giỏi cấp thành phố, 25 học sinh giỏi cấp Tỉnh, 12 học sinh giỏicấp Quốc Gia

Trang 25

Đặc biệt tại kỳ thi Olympic bộ môn Tiếng anh cấp Quốc Gia do BộGiáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội, đội tuyển của tỉnh có 12 thí sinhtham dự Toàn quốc có 5 thí sinh đoạt huy chương vàng thì tỉnh phú thọ có 1huy chương vàng thuộc về thí sinh Phạm Hoàng Dương của trường Tiểu họcGia Cẩm Kỳ thi học sinh giỏi giải toán qua mạng Internet cấp Quốc Gia có 6

em đạt giải huy chương vàng, 2 em đạt huy chương bạc Kỳ thi giao lưu Toántuổi thơ cấp Quốc Gia tại Thành Phố Huế có 2/10 em đạt giải huy chươngvàng cả nước, 1 em đạt huy chương bạc chi 2000 ếm tỷ lệ cao nhất các trườngtrong thành phố, Tỉnh và nhất so với các trường Tiểu học trong cả nước Rấtvinh dự cho trường tiểu học Gia Cẩm năm học 2008 – 2009 được UBND Tỉnhtặng cờ đơn vị xuất sắc dẫn đầu phong trào thi đua bậc Tiểu học Trường THGia Cẩm luôn xứng đáng là địa chỉ tin cậy của các bậc cha mẹ học sinh trongtoàn Thành phố

1.5.2 Vấn đề dạy và học các trò chơi trong trường Tiểu học Gia Cẩm

1.5.2.1 Đối với giáo viên

Những năm gần đây, do ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng củaphương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Phong trào đổimới phương pháp dạy học đã được phát động rộng rãi trong các trường Tiểuhọc Gia Cẩm Vận dụng phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động củangười học đã đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Tuynhiên, việc dạy phân môn luyện từ và câu không ít giáo viên vẫn chưa thoátkhỏi quỹ đạo của phương pháp dạy học truyền thống Một số giáo viên vẫncoi học sinh tiểu học là đối tượng nói theo, làm theo khuôn mẫu Sách giáokhoa Tiếng Việt 3 cũ tách từ ngữ, ngữ pháp thành hai phân môn riêng biệt.Sách giáo khoa Tiếng Việt mới tích hợp từ ngữ, ngữ pháp thành phân mônluyện từ và câu Do đó việc tiếp cận phương pháp dạy học phù hợp với sáchgiáo khoa mới phần nào còn khó khăn

Trang 26

Chính vì vậy cần cải tiến phương pháp dạy học "Luyện từ và câu" theohướng tích cực hoá hoạt động của người học để giờ học sinh động, hấp dẫn,hiệu quả Là một sinh viên thực tập, khi nghiên cứu về phương pháp dạy họcphân môn "Luyện từ và câu" Tôi đã thấy với vai trò là người lái đò, các giáoviên cần phải tạo được sự hứng thú nhất định cho các em học sinh vì vớilượng kiến thức rộng lớn mà các em tiếp thu mỗi ngày mỗi tiết học không thú

vị sẽ làm giảm đi phần nào hứng thú học tập của các “mầm non đất nước”

Với đặc thù của phân môn luyện từ và câu là trang bị những kiến thức

cơ bản về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt để các em học tốt các môn học khác.Trong thời gian qua, ban giám hiệu cùng các giáo viên chuyên môn tiếng việttại trường Tiểu học Gia Cẩm đã và đang đẩy mạnh việc vận dụng nhữngchuyên đề, bài thực hành và trò chơi học tập học tập nhằm kích thích khảnăng tư duy ngôn ngữ, biến những tiết học nặng nề thành những giờ học đángđược mong đợi

1.5.2.2 Đối với học sinh

Việc nắm kiến thức từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt của học sinh lớp 3 mà

em được trực tiếp giảng dạy đầu năm học còn chưa tốt Các em chưa hiểunghĩa của từ, cấu tạo từ, vốn từ của các em còn nghèo, không diễn đạt mộtcách trôi chảy những cảm nhận của mình Nên các em dùng từ còn sai, khinói, viết còn đặt câu khó hiểu Câu văn các em đặt chưa đạt yêu cầu Songmột điều kiện thuận lợi là các em được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, đồdùng học tập, cùng với sự tận tình của giáo viên nên các em được thỏa thíchtìm hiểu, khám phá kiến thức mới về tiếng mẹ đẻ Cùng với việc BGH nhàtrường luôn ủng hộ việc sáng tạo đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạynên các em càng có hứng thú trong việc học tập

1.5.2.3 Thực trạng đánh giá

Qua kinh nghiệm thực tập tại trường tiểu học Gia Cẩm cùng với việctrao đổi với giáo viên và học sinh em nhận thấy:

Trang 27

Do số tiết học trên lớp còn ít, khối lượng tri thức cần truyền đạt nhiềuđồng thời phải đúng lịch theo phân phối chương trình nên việc mở rộng, khaithác ứng dụng sáng tạo các kiến thức đã học chưa được triệt để sâu sắc Trongchương trình sách giáo khoa cho cấp tiểu học, số lượng các trò chơi học tậptrong phần Luyện từ và câu trong bộ môn Tiếng Việt còn hạn chế Hệ thốngbài tập trong sách tham khảo khá đa dạng và phong phú nhưng còn rời rạc vàthiếu sự liên kết Đây là một nội dung khó đòi hỏi tổng hợp nhiều kiến thứcmuốn học tốt thì học sinh phải bỏ nhiều thời gian và công sức Khi làm bàitập nhiều học sinh thường bị động, áp dụng làm bài một cách máy móc khiếncho việc hình thành kỹ năng giao tiếp không được mềm mại uyển chuyển

Từ những kinh nghiệm và đóng góp ý kiến của nhiều giáo viên và họcsinh cho thấy:

Trong nhiều năm qua, mặc dù đã đổi mới phương pháp dạy học TiếngViệt nhưng một số giáo viên vẫn còn nặng tâm lý đây là môn học chính nêntrong quá trình giảng dạy họ rất chú trọng việc truyền thụ kiến thức với mụcđích giúp học sinh học tốt môn này Việc sử dụng trò chơi học tập đối với một

số giáo viên còn là hình thức hoặc có sử dụng trò chơi thì cũng ở mức gượng

ép, miễn cưỡng Mặt khác, còn một số giáo viên khi sử dụng các trò chơi họctập thì chưa chọn lọc kỹ, không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu củabài học nên việc tổ chức trò chơi chưa đạt hiệu quả Thực tế cho thấy, vẫn cònmột số đối tượng học sinh thụ động, tự ti, chưa mạnh dạn tham gia vào cáchoạt động học tập

Trước thực trạng đó, em thiết nghĩ, mình cần phải thay đổi một cách thứcdạy học mới sao cho học sinh hứng thú, say mê và tích cực chủ động hơn khihọc Tiếng Việt Qua đó, những kĩ năng giao tiếp ở các em sẽ ngày càng hoànthiện và phát triển Và việc vận dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt làhết sức cần thiết Sau một thời gian nghiên cứu và ứng dụng TCHT vào trong

Ngày đăng: 12/02/2023, 16:02

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w