DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTSTTVIẾT TẮTÝ NGHĨA1KTKNKiến thức kinh nghiệm2GVGiáo viên3HSHọc sinh MỤC LỤCDANH MỤC TỪ VIẾT TẮT1PHẦN I: MỞ ĐẦU51.Lý do chọn đề tài52.Lịch sử nghiên cứu đề tài73.Mục đích nghiên cứu đề tài84.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu85.Giả thuyết khoa học86.Nhiệm vụ nghiên cứu87.Phương pháp nghiên cứ98. Cấu trúc bài tập lớn9PHẦN II: NỘI DUNG10CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC101.1. Trò chơi học tập101.1.1. Nguồn gốc của trò chơi.101.1.2. Trò chơi học tập111.1.3. Vận dụng trò chơi trong học tập111.1.4. Lựa chọn trò chơi học tập121.2. Chương trình tự nhiên và xã hội lớp 2131.2.1. Khái niệm131.2.2. Yêu cầu của môn học151.3. Vị trí tác dụng của trò chơi học tập151.4. Quy trình lựa chọn và thực hiện trò chơi171.4.1. Các bước thực hiện171.4.2. Nguyên tắc tổ chức trò chơi181.5. Ưu điểm, hạn chế của trò chơi học tập201.5.1. Ưu điểm201.5.2. Hạn chế211.6. Thực trạng và những lưu ý khi sử dụng231.6.1. Thực trạng231.6.2. Lưu ý24CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2252.1. Các yêu cầu cơ bản khi sử dụng trò chơi học tập trong giảng dạy môn tự nhiên xã hội lớp 2252.1.1. Các yêu cầu cơ bản khi sử dụng trò chơi học tập trong giảng dạy môn tự nhiên xã hội lớp 2252.1.2. Các bước tiến hành tổ chức trò chơi học tập272.2. Các hình thức và biện pháp tiến hành282.2.1. Sử dụng phương pháp trò chơi học tập để khởi động tạo hứng thú bài học282.2.2. Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức mới302.2.3. Sử dụng trò chơi học tập để củng cố bài học352.2.4. Sử dụng trò chơi học tập để mở rộng kiến thức39PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ431.Kết luận432. Kiến nghị43TÀI LIỆU THAM KHẢO45 PHẦN I: MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiĐất nước ta đang thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để thực hiện sự nghiệp này đất nước cần những con người năng động, tích cực, sáng tạo, có thể thích ứng với sự thay đổi và phát triển của xã hội hiện đại. Xuất phát từ yêu cầu đào tạo con người mới của xã hội, ngành Giáo dục và Đào tạo đã từng bước thực hiện việc đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông. Sự thay đổi nổi bật có thể kể đến là chương trình được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt gần đây nhất vào năm 2001, được triển khai đại trà từ năm học 20022003. Trọng tâm của việc đổi mới chương trình tiểu học chính là đổi mới về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, vì vậy việc đầu tư vào chất xám là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự phát triển và phồn thịnh của các quốc gia. Nhu cầu học tập của người dân ngày càng được nâng cao. Giáo dục ngày càng có vị trí đặc biệt trong xã hội hiện đại. Sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở ra nhưng khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học. Định hướng đổi mới các phương pháp dạy học không chỉ là vấn đề đặt ra trong nội bộ ngành giáo dục đào tạo mà đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục và được cụ thể hóa trong Chỉ thị 15 của Bộ giáo dục và Đào tạo 22, tr.21. Điều 28, Khoản 2 của Luật Giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Trong số các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hiệu quả phải kể đến trò chơi học tập. Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh. Đây là cách tổ chức hoạt động học tập mà trong đó các em lĩnh hội được các kiến thức cần thiết nhờ tham gia tích cực vào các hoạt động của trò chơi. Dạy học qua trò chơi học tập là đưa học sinh đến với các hoạt động vui chơi giải trí nhưng có nội dung gắn liền với bài học. Trò chơi trong học tập có tác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, chống mệt mỏi, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học, phát huy hứng thú, tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh. Việc áp dụng trò chơi học tập vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội chính là việc giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mê học tập tạo không khí sôi nổi cho một giờ học. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ yêu cầu bài dạy cần đạt. Trên cơ sở đó xác định cần đưa trò chơi vào lúc nào? Nếu giáo viên không tổ chức tốt thì trò chơi không những không gặt hái được kết quả như mong muốn mà còn bị phản tác dụng gây sự hỗn độn không cần thiết. Đối với học sinh lớp 2, ở lứa tuổi này các em còn mang đậm bản sắc hồn nhiên, sự chú ý chưa cao. Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè vẫn tồn tại, cần được thoả mãn. Nếu người giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thoả mãn nhu cầu chơi, của các em theo hướng học mà chơi, chơi mà học thì chúng sẽ hăng hái say mê học tập và tất yếu kết quả của việc dạy học cũng được nâng cao. Thực tiễn dạy học ở các trường tiểu học cho thấy, phần lớn giáo viên tiểu học đã sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng. Tuy nhiên vì những lí do khác nhau mà nội dung dạy học đó vẫn dạy theo phương pháp truyền thống và việc khai thác nội dung đó dưới hình thức trò chơi cũng chưa thực sự có hiệu quả. Một trong những lí do khách quan đó là lượng kiến thức trong môn Tự nhiên và Xã hội tương đối nhiều, giáo viên không đủ thời gian giảng dạy nên các trò chơi bị bỏ qua, tiết học 3 không gây hứng thú cho học sinh. Một lí do nữa là nhiều giáo viên tiểu học còn chưa nắm vững nguyên tắc và cách tổ chức trò chơi. Trong khi đó những nghiên cứu về các nguyên tắc và cách thức tiến hành trò chơi cũng như việc giới thiệu những trò chơi trong học tập môn Tự nhiên và Xã hội còn ít.Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở Tiểu học, tôi chọn đề tài “ Sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội cho học sinh lớp 2”2.Lịch sử nghiên cứu đề tàiViệc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt ra. Ngay từ đầu thế kỉ XX nhà tâm lý học Thụy Sĩ J.Piaget đã rất quan tâm tới phương pháp này“Thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành học tập”. Năm 1974 trên tạp trí văn học trường học Matxcova, số 2 (trang 53) B.C.Grrenhikaia đã cho rằng: “Chúng ta không những phải tạo cho trẻ có thì 3 giờ để chơi mà còn phải làm toàn bộ cuộc sống của trẻ được nuôi dưỡng bằng trò chơi”. Ở Việt Nam ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất lý luận về phương pháp trò chơi học tập nói chung, nhiều tác giả đã quan tâm đến việc sử dụng phương pháp này trong từng môn học cụ thể. Đặc biệt là tác giả Nguyễn Thị Hòa giáo viên sinh học trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc đã đề cập đến một cách khá chi tiết từ nguồn gốc sưu tầm, sự phân loại, hướng dẫn sử dụng câu đố như là một phương tiện đặc biệt để tổ chức trò chơi học tập cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học, tạo bài giảng có tính hấp dẫn, lôi cuốn, làm học sinh say mê, phấn khởi học tập qua bài viết “Sử dụng câu đố trong giảng dạy môn Tự nhiên và xã hội” Hay nhóm tác giả Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Phạm Thanh Tâm đã đề cập đến các loại trò chơi theo từng nội dung bài học trong chương trình Toán 1 qua cuốn sách 100 trò chơi Toán lớp 1 Tác giả Ngô Thúc Lanh đã cho xuất bản cuốn Giúp em vui học toán 1. Cuốn sách đã đưa ra những câu đố và rất nhiều trò chơi toán giúp các em củng cố nội dung bài học, rèn trí thông minh và khả năng sáng tạo mà vẫn đảm bảo vui mà học, học mà vui. Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Tiểu học nhưng thực trạng sử dụng phương pháp này trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội thì vẫn còn ít được quan tâm.3.Mục đích nghiên cứu đề tàiTrong quá trình giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2, tôi nhận thấy vận dụng các trò chơi vào dạy học nhằm khơi dậy niềm hứng thú, niềm say mê học tập cho học sinh. Kích thích tính độc lập chủ động sáng tạo trong việc lĩnh hội tri thức, tạo không khí sôi nổi trong tiết Tự nhiên và Xã hội.4.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 2. Các trò chơi vận dụng trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội.5.Giả thuyết khoa họcViệc sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 2 tại một số trường Tiểu học khu vực thành phố Thanh Hóa còn nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng là do điều kiện không gian và cơ sở vật chất của nhà trường chưa đầy đủ. 6.Nhiệm vụ nghiên cứuĐể đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là hết sức quan trọng. Thông qua các nhiệm vụ chúng tôi sẽ tiến hành từng bước như thế nào để hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu. Các nhiệm vụ đó là: Đầu tiên chúng tôi nghiên cứu cơ sở lý luận nắm bắt những nền tảng cơ sở ban đầu của vấn đề. Lí thuyết là một vấn đề và thực tiễn là vấn đề khác chúng tôi đi vào nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học các bài thuộc chủ đề: Tự nhiên lớp 2. Nhiệm vụ cuối cùng là xây dựng một số trò chơi mới kết hợp các sưu tầm được tạo nên tính hệ thống phục vụ các bài ở các chủ đề Tự nhiên.7.Phương pháp nghiên cứĐể thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp: + Phương pháp luận.Đọc các tài liệu: Thế giới trong ta. Tập san Giáo dục và Thời đại. Trò chơi trong Tự nhiên và Xã hội lớp 2 Tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học. Sách giáo viên và sách Tự nhiên và Xã hội lớp 2.+ Phương pháp điều tra thực nghiệm.+ Phương pháp đối chiếu so sánh.+ Phương pháp rút kinh nghiệm.
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
PHẦN I: MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 8
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứ 9
8 Cấu trúc bài tập lớn 9
PHẦN II: NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 10
1.1 Trò chơi học tập 10
1.1.1 Nguồn gốc của trò chơi 10
1.1.2 Trò chơi học tập 11
1.1.3 Vận dụng trò chơi trong học tập 11
1.1.4 Lựa chọn trò chơi học tập 12
1.2 Chương trình tự nhiên và xã hội lớp 2 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Yêu cầu của môn học 15
1.3 Vị trí tác dụng của trò chơi học tập 15
Trang 31.4 Quy trình lựa chọn và thực hiện trò chơi 17
1.4.1 Các bước thực hiện 17
1.4.2 Nguyên tắc tổ chức trò chơi 18
1.5 Ưu điểm, hạn chế của trò chơi học tập 20
1.5.1 Ưu điểm 20
1.5.2 Hạn chế 21
1.6 Thực trạng và những lưu ý khi sử dụng 23
1.6.1 Thực trạng 23
1.6.2 Lưu ý 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 25
2.1 Các yêu cầu cơ bản khi sử dụng trò chơi học tập trong giảng dạy môn tự nhiên xã hội lớp 2 25
2.1.1 Các yêu cầu cơ bản khi sử dụng trò chơi học tập trong giảng dạy môn tự nhiên xã hội lớp 2 25
2.1.2 Các bước tiến hành tổ chức trò chơi học tập 27
2.2 Các hình thức và biện pháp tiến hành 28
2.2.1 Sử dụng phương pháp trò chơi học tập để khởi động tạo hứng thú bài học 28
2.2.2 Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức mới 30
2.2.3 Sử dụng trò chơi học tập để củng cố bài học 35
2.2.4 Sử dụng trò chơi học tập để mở rộng kiến thức 39
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
1 Kết luận 43
Trang 42 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đểthực hiện sự nghiệp này đất nước cần những con người năng động, tích cực,sáng tạo, có thể thích ứng với sự thay đổi và phát triển của xã hội hiện đại.Xuất phát từ yêu cầu đào tạo con người mới của xã hội, ngành Giáo dục vàĐào tạo đã từng bước thực hiện việc đổi mới mục tiêu, nội dung và chươngtrình giáo dục trong nhà trường phổ thông Sự thay đổi nổi bật có thể kể đến
là chương trình được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt gần đâynhất vào năm 2001, được triển khai đại trà từ năm học 2002-2003 Trọng tâmcủa việc đổi mới chương trình tiểu học chính là đổi mới về phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học
Thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, vì vậy việc đầu tư vào chấtxám là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự phát triển và phồn thịnh của các quốcgia Nhu cầu học tập của người dân ngày càng được nâng cao Giáo dục ngàycàng có vị trí đặc biệt trong xã hội hiện đại
Sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở ra nhưng khả năng và điềukiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạyhọc
Định hướng đổi mới các phương pháp dạy học không chỉ là vấn đề đặt ratrong nội bộ ngành giáo dục đào tạo mà đã được xác định trong Nghị quyếtTrung ương 4 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), được thể chếhóa trong Luật Giáo dục và được cụ thể hóa trong Chỉ thị 15 của Bộ giáo dục
và Đào tạo [22, tr.21]
Điều 28, Khoản 2 của Luật Giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ: “Phương phápgiáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
Trang 6của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡngphương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứngthú học tập cho học sinh”
Trong số các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hiệu quả phải kể đếntrò chơi học tập
Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của họcsinh Đây là cách tổ chức hoạt động học tập mà trong đó các em lĩnh hội đượccác kiến thức cần thiết nhờ tham gia tích cực vào các hoạt động của trò chơi Dạy học qua trò chơi học tập là đưa học sinh đến với các hoạt động vuichơi giải trí nhưng có nội dung gắn liền với bài học Trò chơi trong học tập cótác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, chống mệt mỏi, tăng cường khảnăng thực hành kiến thức của bài học, phát huy hứng thú, tạo thói quen độclập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh
Việc áp dụng trò chơi học tập vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội chính
là việc giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mê học tập tạo không khí sôinổi cho một giờ học Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ yêu cầu bàidạy cần đạt Trên cơ sở đó xác định cần đưa trò chơi vào lúc nào? Nếu giáoviên không tổ chức tốt thì trò chơi không những không gặt hái được kết quảnhư mong muốn mà còn bị phản tác dụng gây sự hỗn độn không cần thiết Đối với học sinh lớp 2, ở lứa tuổi này các em còn mang đậm bản sắc hồnnhiên, sự chú ý chưa cao Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầuchơi, giao tiếp với bạn bè vẫn tồn tại, cần được thoả mãn Nếu người giáoviên biết phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thoảmãn nhu cầu chơi, của các em theo hướng "học mà chơi, chơi mà học" thìchúng sẽ hăng hái say mê học tập và tất yếu kết quả của việc dạy học cũng
Trang 7Thực tiễn dạy học ở các trường tiểu học cho thấy, phần lớn giáo viên tiểuhọc đã sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và dạy học môn Tựnhiên và Xã hội nói riêng Tuy nhiên vì những lí do khác nhau mà nội dungdạy học đó vẫn dạy theo phương pháp truyền thống và việc khai thác nội dung
đó dưới hình thức trò chơi cũng chưa thực sự có hiệu quả Một trong những lí
do khách quan đó là lượng kiến thức trong môn Tự nhiên và Xã hội tương đốinhiều, giáo viên không đủ thời gian giảng dạy nên các trò chơi bị bỏ qua, tiếthọc 3 không gây hứng thú cho học sinh Một lí do nữa là nhiều giáo viên tiểuhọc còn chưa nắm vững nguyên tắc và cách tổ chức trò chơi Trong khi đónhững nghiên cứu về các nguyên tắc và cách thức tiến hành trò chơi cũng nhưviệc giới thiệu những trò chơi trong học tập môn Tự nhiên và Xã hội còn ít
Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước và xuấtphát từ nhu cầu thực tiễn trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở Tiểu học,
tôi chọn đề tài “ Sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học môn
Tự nhiên - Xã hội cho học sinh lớp 2”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt ra Ngay từ đầu thế kỉ XX nhà tâm lý học Thụy Sĩ J.Piaget đã rất quan tâm tới phương pháp này“Thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành học tập” Năm
1974 trên tạp trí văn học trường học Matxcova, số 2 (trang 53)
B.C.Grrenhikaia đã cho rằng: “Chúng ta không những phải tạo cho trẻ có thì
3 giờ để chơi mà còn phải làm toàn bộ cuộc sống của trẻ được nuôi dưỡng bằng trò chơi” Ở Việt Nam ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất lý luận về phương pháp trò chơi học tập nói chung, nhiều tác giả đã quan tâm đến việc sử dụng phương pháp này trong từng môn học cụ thể
Đặc biệt là tác giả Nguyễn Thị Hòa giáo viên sinh học trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc đã đề cập đến một cách khá chi tiết từ nguồn gốc sưu tầm, sự phân loại, hướng dẫn sử dụng câu đố như là một phương tiện đặc biệt để tổ chức trò chơi học tập cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học, tạo bài giảng có tính hấp
Trang 8dẫn, lôi cuốn, làm học sinh say mê, phấn khởi học tập qua bài viết “Sử dụng câu đố trong giảng dạy môn Tự nhiên và xã hội”
Hay nhóm tác giả Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Phạm Thanh Tâm đã đề cập đến các loại trò chơi theo từng nội dung bài học trong chương trình Toán 1 qua cuốn sách 100 trò chơi Toán lớp 1 Tác giả Ngô Thúc Lanh đã cho xuất bản cuốn Giúp em vui học toán 1 Cuốn sách đã đưa ra những câu đố và rất nhiều trò chơi toán giúp các em củng cố nội dung bài học, rèn trí thông minh và khả năng sáng tạo
mà vẫn đảm bảo vui mà học, học mà vui
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học Tiểu học nhưng thực trạng sử dụng phương pháp này trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội thì vẫn còn ít được quan tâm.
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trong quá trình giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2, tôi nhận thấy vận dụng các trò chơi vào dạy - học nhằm khơi dậy niềm hứng thú, niềm say mê học tập cho học sinh Kích thích tính độc lập chủ động sáng tạo trong việc lĩnh hội tri thức, tạo không khí sôi nổi trong tiết Tự nhiên và Xã hội.
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
- Các trò chơi vận dụng trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội.
5 Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và
xã hội lớp 2 tại một số trường Tiểu học khu vực thành phố Thanh Hóa còn nhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng là do điều kiện không gian và cơ sở vật chất của nhà trường chưa đầy đủ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là hết sức quan trọng Thông qua các nhiệm vụ chúng tôi sẽ tiến hành từng bước như thế nào để hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu Các nhiệm vụ đó là: Đầu tiên chúng tôi nghiên
Trang 9một vấn đề và thực tiễn là vấn đề khác chúng tôi đi vào nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học các bài thuộc chủ đề: Tự nhiên lớp 2 Nhiệm
vụ cuối cùng là xây dựng một số trò chơi mới kết hợp các sưu tầm được tạo nên tính
hệ thống phục vụ các bài ở các chủ đề Tự nhiên.
7 Phương pháp nghiên cứ
Để thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp luận.
Đọc các tài liệu: - Thế giới trong ta.
- Tập san Giáo dục và Thời đại.
- Trò chơi trong Tự nhiên và Xã hội lớp 2
- Tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học.
- Sách giáo viên và sách Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
+ Phương pháp điều tra thực nghiệm.
+ Phương pháp đối chiếu so sánh.
+ Phương pháp rút kinh nghiệm.
8 Cấu trúc bài tập lớn
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Trò chơi học tập
1.1.1 Nguồn gốc của trò chơi
Từ thời kỳ nguyên thủy, con người đã có nhu cầu về chơi Sau những ngày làm việc mệt nhọc như săn bắt, hái lượm người ta tụ tập nhau lại để bày tỏ sự vui mừng của mình và họ nhảy múa, hò reo suốt đêm
Trong những cuộc vui như vậy thì những người lập được chiến công thường
kể lại, diễn lại những thao tác quyết định như ném đá, phóng lao, đuổi bắt… nhờ những hành động đó mà họ bắt được nhiều thú rừng Cứ như vậy sự bắt chước đã biến thành trò chơi và dần dần trò chơi ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, trò chơi là một món ăn tinh thần tiếp thêm sức mạnh cho người lao động Đây là nguồn gốc, là sự ra đời sơ khai nhất của trò chơi Lúc đầu sự bắt chước mang tính chân thực và đơn điệu, nhưng rồi trong quá trình chơi mỗi người thêm bớt một chút sẽ làm cho trò chơi mang tính khái quát và trừu tượng từ đó tư duy và ngôn ngữ của con người cũng phát triển
Cũng nhờ khả năng tư duy, ngôn ngữ phát triển mà con người bắt đầu biết tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống Nhờ vậy mà chúng ta dần dần thấy được tầm quan trọng của sự chuẩn bị trước các công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện những thao tác cơ bản nhờ đó mà hiệu quả lao động đạt được cao hơn Lúc đầu sự chuẩn bị các thao tác này mang tính chất tự nhiên dưới hình thức vui chơi mà tập luyện, tập luyện mà vui chơi, sau đó người ta dùng trò chơi để dạy cho con cháu, dạy cho lớp trẻ, chuẩn bị cho họ tiếp bước cha anh tham gia tích cực có hiệu quả vào cuộc sống lao động, đấu tranh sinh tồn và phát triển của mình Như vậy sau khi
ra đời trò chơi đã mang ý nghĩa giáo dục rất cao và có một vai trò quan trọng trong
xã hội loài người Cuộc sống xã hội ngày càng phát triển, trường học được hình thành và ngày càng mở rộng và là nơi thu hút những mầm non của xã hội Ở đây
Trang 11trẻ trong đó có trò chơi Ngày nay cũng vậy trò chơi trở thành một trong những phương pháp giáo dục hiệu quả, đặc biệt đối với trẻ bậc tiểu học
1.1.2 Trò chơi học tập
Trò chơi là một loại hình hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người Ở nhiều góc độ khác nhau trò chơi được định nghĩa riêng, có thể trò chơi là một hoạt động tự nhiên cần thiết thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người hay là một phương pháp thực hành hiệu nghiệm đối với việc hình thành nhân cách và trí lực của trẻ em Theo một số quan điểm trò chơi học tập được hiểu một cách đơn giản là các trò chơi có nội dung gắn với các hoạt động học tập của học sinh nhằm giúp học sinh học tập trên lớp được hứng thú, vui vẻ hơn Nội dung của trò chơi này là sự thi đấu
về một hoạt động trí tuệ nào đó như sự chú ý, sự nhanh trí, sức tưởng tượng, sáng tạo Ví dụ như các câu đố, triển lãm, đố bạn con gì?
Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh Phương pháp trò chơi học tập là phương pháp tổ chức hoạt động học tập của
HS mà trong đó HS lĩnh hội được các kiến thức cần thiết nhờ tham gia tích cực và các hoạt động của trò chơi.
1.1.3 Vận dụng trò chơi trong học tập
Mỗi trò chơi đều có những nét đặc sắc riêng và có tác dụng nhất địnhđối với sự hình thành, phát triển tâm lí, nhân cách, trí tuệ của người học vàmỗi trò chơi lại có những lợi thế riêng trong việc giáo dục HS Tuy có nhiềuloại hình trò chơi, nhưng các trò chơi đều có cấu trúc chung đó là: mục đíchchơi, hành động chơi, luật chơi, đối tượng chơi, các quá trình, tình huống vàquan hệ Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các mối quan hệ trong TCHTđược tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ cho phép của các nhiệm vụdạy học và được định hướng trước ở mục tiêu, nội dung học tập khi triển khaithực hiện TCHT được các GV và người lớn sáng tạo ra, sử dụng dựa trênnhững yêu cầu của lí luận dạy học, đặc biệt là của lí luận dạy học các mônhọc cụ thể; chúng là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bàibản cứng nhắc mà được tổ chức linh hoạt, phù hợp với nội dung bài dạy vàgóp phần làm cho tiết học thêm sinh động, thu hút HS chú tâm vào bài học
Trang 121.1.4 Lựa chọn trò chơi học tập
Xét theo bản chất tâm - sinh lí, trò chơi học tập có những loại hình cơbản như: chơi đơn độc, chơi song song, chơi hội, chơi hợp tác, chơi chứcnăng, chơi kiến tạo, chơi tự do, chơi có nghi thức, chơi sao chép lại mẫu, chơi
có liên hệ, chơi sáng tạo… chứng tỏ loại hình trò chơi rất đa dạng Trong dạyhọc, để định hướng mục tiêu giáo dục, rèn luyện cho HS, việc phân loạiTCHT chủ yếu dựa vào chức năng của trò chơi và thường được chia thành 3nhóm:
- Nhóm trò chơi phát triển nhận thức: là những trò chơi đòi hỏi người thamgia phải sử dụng các chức năng nhận thức, nỗ lực nhận thức, thực hiện cáchành vi và hành động nhận thức để thực hiện và hoàn thành việc chơi; qua đó,cải thiện và phát triển trí tuệ và khả năng tư duy của mình Nhóm trò chơiphát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ:
+ Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: các trò chơi xếp hình, tròchơi nhận dạng các đồ vật, con vật, trò chơi nghe và nhận dạng âm thanh ; + Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: trò chơi kể và tiếp nốicác từ ngữ, đồ vật, con vật… trò chơi nhắc lại âm, nhận lại các hình, nhớ lạidãy số, số lượng ;
+ Các trò chơi phát triển trí tưởng tượng, tư duy: chơi cờ, các trò chơixây dựng, lắp ghép mô hình, trò chơi đóng vai, đóng kịch, trò chơi thi giải đố,tính toán, trò chơi khoa học vui
- Nhóm trò chơi phát triển các giá trị: là những trò chơi phát triển các giá trịvăn hoá, xã hội, chính trị, pháp luật hoặc các giá trị về đạo đức, thẩm mĩ kích thích thái độ, tình cảm tích cực, khuyến khích sự phát triển các phẩmchất cá nhân của HS, như: trò chơi thi nấu cơm, thi kéo co, thi hát đối đáp…
Trang 13- Nhóm trò chơi phát triển vận động: là trò chơi có nội dung chủ yếu là vậnđộng, đòi hỏi người chơi phải vận động tuân thủ theo luật hay quy tắc nhấtđịnh, nhằm phát triển khả năng vận động, sự nhanh nhẹ, khéo léo của HS.
Loại trò chơi này đối với mỗi lứa tuổi, mỗi cấp học có khác nhau đểphù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS
1.2 Chương trình tự nhiên và xã hội lớp 2
1.2.1 Khái niệm
j tj tj Môn tj Tự tj nhiên tj và tj Xã tj hội tj là tj môn tj học tj chứa tj đựng tj những tj kiến tj thức tj gắn tj với tj đời tjsống tj con tj người, tj các tj sự tj vật tj hiện tj tượng tj trong tj thực tj tế tj cuộc tj sống tj rất tj gần tj gũi tj với tjhọc tj sinh tj Tiểu tj học. tj Môn tj Tự tj nhiên tj và tj Xã tj hội tj là tj môn tj học tj tích tj hợp tj kiến tj thức tj của tjkhoa tj học tj tự tj nhiên tj và tj khoa tj học tj xã tj hội tj trong tj đó tj tỉ tj trọng tj kiến tj thức tj khoa tj học tj tự tjnhiên tj nhiều tj hơn tj so tj với tj kiến tj thức tj khoa tj học tj xã tj hội.tj Môn tj Tự tj nhiên tj và tj Xã tj hội tj lớp
tj 2 tj được tj xây tj dựng tj theo tj quan tj điểm tj tích tj hợp tj xem tj xét tj tự tj nhiên tj con tj người tj và tj xã tjhội tj trong tj một tj thể tj thống tj nhất tj có tj quan tj hệ tj qua tj lại, tj tác tj động tj lẫn tj nhau, tj các tj kiến tjthức tj trong tj chương tj trình tj là tj kết tj quả tj tích tj hợp tj kiến tj thức tj của tj nhiều tj ngành tj khoa tjhọc tj sinh tj học, tj vật tj lí, tj địa tj lí, tj lịch tj sử, tj môi tj trường. tj Nội tj dung tj chương tj trình tj có tj cấu tjtrúc tj đồng tj tâm, tj hợp tj lí tj ”.Chương tj trình tj môn tj Tự tj nhiên tj và tj Xã tj hội tj lớp tj 2 tj sẽ tj tiếp tj tục tjphát tj triển, tj mở tj rộng tj các tj kiến tj thức tj các tj em tj đã tj học tj ở tj lớp tj 1 tj theo tj 3 tj chủ tj đề: tj Con tjngười tj – tj sức tj khỏe, tj Xã tj hội, tj Tự tj nhiên. tj Sau tj khi tj học tj xong tj chủ tj đề tj Tự tj nhiên tj học tj sinh tjcần tj đạt tj được tj mục tj tiêu tj đề tj ra: tj Biết tj sơ tj lược tj về tj hoạt tj động tj của tj cơ tj quan tj vận tj động tj và tj
cơ tj quan tj tiêu tj hóa tj ở tj cơ tj thể tj người; tj phòng tj chống tj cong tj vẹo tj cột tj sống; tj giữ tj vệ tj sinh tj
ăn tj uống, tj phòng tj nhiễm tj giun. tj Biết tj về tj công tj việc tj của tj các tj thành tj viên tj trong tj gia tjđình, tj nhà tj trường tj và tj một tj số tj nghề tj nghiệp tj trong tj xã tj hội, tj ở tj địa tj phương; tj giữ tj sạch tjnhà tj ở, tj trường tj học, tj giữ tj an tj toàn tj khi tj ở tj nhà, tj ở tj trường tj và tj khi tj đi tj đường. tj Biết tj cây tj cối
tj và tj các tj con tj vật tj có tj thể tj sống tj được tj ở tj khắp tj nơi: tj trên tj cạn, tj dưới tj nước, tj trên tj không; tj biết tjquan tj sát tj bầu tj trời tj ban tj ngày, tj ban tj đêm; tj có tj hiểu tj biết tj sơ tj lược tj về tj hình tj dạng tj và tj đặc tjđiểm tj của tj Mặt tj trời, tj Mặt tj trăng tj và tj các tj vì tj sao. tj Bước tj đầu tj hình tj thành tj và tj phát tj triển tjnhững tj kĩ tj năng: tj Tự tj chăm tj sóc tj sức tj khỏe tj cho tj bản tj thân, tj ứng tj xử tj hợp tj lí tj trong tj đời tj
Trang 14sống tj để tj phòng tj chống tj một tj số tj bệnh tj tật tj và tj tai tj nạn. tj Quan tj sát, tj nhận tj xét, tj nêu tj thắc tjmắc, tj đặt tj câu tj hỏi, tj biết tj cách tj diễn tj đạt tj những tj hiểu tj biết tj của tj mình tj về tj các tj sự tj vật, tjhiện tj tượng tj đơn tj giản tj trong tj tự tj nhiên tj và tj xã tj hội. tj Hình tj thành tj và tj phát tj triển tj những tjthái tj độ tj và tj hành tj vi: tj Có tj ý tj thức tj thực tj hiện tj các tj quy tj tắc tj giữ tj vệ tj sinh, tj an tj toàn tj cho tj bản
tj thân, tj gia tj đình tj và tj cộng tj đồng. tj Yêu tj thiên tj nhiên, tj gia tj đình, tj trường tj học, tj quê tjhương. tj Môn tj học tj Tự tj nhiên tj và tj Xã tj hội tj là tj môn tj học tj về tj môi tj trường tj tự tj nhiên tj và tj xã tjhội tj gẫn tj gũi, tj bao tj quanh tj học tj sinh, tj vì tj vậy tj có tj rất tj nhiều tj nguồn tj cung tj cấp tj kiến tj thức tjcho tj các tj em. tj Do tj đó, tj không tj chỉ tj có tj giáo tj viên tj cung tj cấp tj trí tj thức tj cho tj các tj em tj lĩnh tjvực tj này, tj các tj em tj có tj thể tj thu tj nhận tj kiến tj thức tj từ tj nhiều tj nguồn tj khác. tj Với tj chủ tj đề tj Tự tjnhiên tj học tj sinh tj sẽ tj được tj học tj về tj thực tj vật tj và tj động tj vật: tj một tj số tj cây tj cối tj và tj một tj số tj con tjvật tj sống tj trên tj mặt tj đất, tj dưới tj nước, tj trên tj không. tj Về tj bầu tj trời tj ban tj ngày tj và tj ban tj đêm tj các
tj em tj sẽ tj được tj học tj về tj mặt tj trời tj cách tj tìm tj phương tj hướng tj bằng tj mặt tj trời, tj mặt tj trăng tj và tjcác tj vì tj sao, tj qua tj 10 tj bài tj học tj cụ tj thể.”
tj tj tj tj tj tj Ở tj trường tj Tiểu tj học tj hiện tj nay, tj môn tj Tự tj nhiên tj và tj Xã tj hội tj là tj một tj trong tj những tj môn tjhọc tj chiếm tj vị tj trí tj quan tj trọng tj cùng tj với tj các tj môn tj học tj khác tj có tj vai tj trò tj tích tj cực tj trong tjviệc tj phát tj triển tj toàn tj diện tj cho tj học tj sinh. tj Việc tj coi tj trọng tj thực tj hành tj và tj vận tj dụng tjkiến tj thức, tj quan tj tâm tj đến tj năng tj lực tj tự tj học, tj tự tj khám tj phá tj kiến tj thức tj của tj học tj sinh tjrất tj được tj quan tj tâm
tj tj tj tj tj tj tj Việc tj tự tj khám tj phá tj để tj hiểu tj biết tj và tj tiếp tj thu tj kiến tj thức tj mới tj hay tj củng tj cố tj kiến tjthức tj đã tj học tj rất tj hữu tj ích tj so tj với tj sự tj rập tj khuôn, tj bắt tj trước. tj Thế tj giới tj tự tj nhiên tj xung tjquanh tj các tj em tj rất tj phong tj phú, tj đa tj dạng. tj Trò tj chơi tj sẽ tj minh tj hoạ tj một tj cách tj sinh tjđộng tj nội tj dung tj bài tj học tj các tj bài tj trong tj chủ tj đề tj Tự tj nhiên. tj Sau tj khi tj chơi, tj các tj em tj biết
tj được tj rõ tj hơn tj về tj các tj cách tj làm tj thiết tj thực tj hay tj cách tj nhìn tj đẹp, tj hiểu tj được tj và tj nhận tjxét tj về tj thế tj giới tj thực tj động tj vật, tj làm tj không tj khí tj giờ tj học tj thoải tj mái, tj hào tj hứng tj dễ tjchịu tj hơn, tj giảm tj sự tj căng tj thẳng, tj phát tj triển tj sự tj nhanh tj trí, tj gây tj hứng tj thú tj học tj tập tj cho
tj các tj em. tj Trò tj chơi tj làm tj cho tj quá tj trình tj học tj tập tj trở tj thành tj một tj hình tj thức tj vui tj chơi tj hấp tjdẫn, tj học tj sinh tj học tj mà tj chơi, tj chơi tj mà tj học tj nâng tj cao tj hiệu tj quả tj tiết tj học tj
Trang 151.2.2 Yêu cầu của môn học
- tk Đảm tk bảo tk mọi tk học tk sinh tk đều tk đạt tk chuẩn tk kiến tk thức tk và tk kĩ tk năng tk môn tk học
- tk Có tk thể tk thay tk đổi tk trật tk tự tk một tk số tk bài tk học tk cho tk phù tk hợp tk với tk điều tk kiện tk ở tk địa tkphương
- tk Lựa tk chọn tk phương tk pháp tk và tk phương tk tiện tk dạy tk học tk một tk cách tk linh tk hoạt, tk sáng tktạo, tk phù tk hợp tk với tk điều tk kiện tk của tk địa tk phương, tk nhà tk trường tk và tk trình tk độ tk học tk sinh
- tk Tạo tk điều tk kiện tk cho tk học tk sinh tk được tk học tk ngoài tk thiên tk nhiên tk và tk trong tk thực tk tế tk của tkđịa tk phương
- tk Khuyến tk khích tk học tk sinh tk liên tk hệ, tk vận tk dụng tk những tk kiến tk thức, tk kĩ tk năng tk đã tk học tkvào tk đời tk sống tk hằng tk ngày
1.3 Vị trí tác dụng của trò chơi học tập
Vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển nhân cách con người
ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh mẫu giáo và tiểu học Đối với học sinhmẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, bước sang lứa tuổi Tiểu học hoạtđộng học là chính Khoảng cách giữa hai lứa tuổi này là không lớn nhưnghoạt động chủ đạo có sự thay đổi lớn Vì vậy, giáo viên phải tạo cho các emsân chơi học tập: chơi mà học, học mà chơi
Học sinh Tiểu học là lứa tuổi ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt
và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chú ý có chủ định của trẻ cònyếu khả năng ghi nhớ chưa cao Đối tượng cảm xúc của các em là những sựvật hiện tượng cụ thể, sinh động mà theo quan điểm dạy học, quá trình dạyhọc là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tưduy trừu tượng đến thực tế cuộc sống Học sinh tiểu học tư duy cụ thể cònchiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống theo hướng một chiều: giáo
Trang 16viên truyền thụ học sinh tiếp nhận làm cho học sinh dễ mệt mỏi chán nảntrong giờ học, khó tiếp thu bài học Giờ học diễn ra nặng nề, không duy trìđược khả năng chú ý của học sinh Học là một hoạt động trong đó học sinh làchủ thể, tổ chức dạy học sao cho học sinh phải luôn được vận động vừa sức,tiếp thu những kiến thức cần đạt Trò chơi là nhu cầu không thể thiếu đối vớitrẻ và là một trong những hình thức đáp ứng yêu cầu đó.
Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, đa dạng hình thứcdạy học thay đổi không khí lớp học, giáo viên vẫn cho học sinh nắm bắt mọinội dung bài học trong tâm thế thoải mái, tự giác cao Trò chơi góp phần đổimới phương pháp dạy học Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, làgiải pháp, là cơ hội thuận lợi nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạođiều kiện để trẻ phát triển tâm lực, thể lực, trí lực một cách tổng hợp Trò chơigiúp cho học sinh phát triển thêm những điều mới mà các em đã tiếp cậntrong sách giáo khoa, luyện tập những kĩ năng thao tác mà các em được họctập Qua vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tình huống khác nhau buộcmình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện được những điểm mạnh,điểm yếu, những khả năng hứng thú cũng như nhược điểm của bản thân Tổchức trò chơi khoa học hợp lí giúp học sinh phát triển về mặt thể chất mộtcách tự nhiên rèn tính nhanh nhẹn, hoạt bát tự tin hơn trước đám đông Đặcbiệt sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thao tác vận động và sự phát triển tưduy khả năng điều khiển của thần kinh trung ương sẽ càng phát triển chuẩnxác Ngoài ra, sân chơi trò chơi rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống cầnthiết: kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra đánh giá Việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học đem lại lợi ích thiết thực gópphần tạo không khí hào hứng thoả tâm sinh lí trẻ, thúc đẩy tính tích cực hoạtđộng sáng tạo, giờ học diễn ra nhẹ nhàng
Trang 171.4 Quy trình lựa chọn và thực hiện trò chơi
1.4.1 Các bước thực hiện
Bước 1: Chuẩn bị trò chơi
-Nghiên cứu tài liệu: Chương trình, sách giáo khoa, chuẩn KTKN (tài liệu
HD học tập)… Hệ thống sách tham khảo: sách báo, tạp chí giáo dục…
– Nghiên cứu thực tế lớp học: xem có học sinh khuyết tật không, nhu cầu, sởthích, hoàn cảnh …Tìm hiểu xem học sinh lớp yếu ở mạch kiến thức nào, đểlựa chọn trò chơi cho phù hợp, giúp các em củng cố kiến thức để hiểu bài mộtcách chắc chắn
Bước 2 : Lựa chọn trò chơi:
Việc lựa chọn các trò chơi học tập phải đáp ứng những yêu cầu của mục đíchdạy học.Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ học tập tương ứngvới nội dung dạy học Mỗi trò chơi cần có một vị trí đóng góp cụ thể trongtiến trình thực hiện mục đích dạy học Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy học bộmôn hệ thống các trò chơi phải được lựa chọn sao cho đa dạng về chủ đề,phong phú về cách chơi Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của tròchơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt (thay số bằng chữ, câu cá-mèo bắt chuột, tìm hoa hái quả- cánh hoa tìm nhụy, …) từ sự thay thế linhhoạt tạo cho giáo viên có cơ hội tổ chức trò chơi phù hợp với đối tượng họcsinh của mình Để từ đó các em cảm thấy : “Học mà vui, vui mà học” Lựachọn trò chơi phải đảm bảo các yếu tố: lứa tuổi, vừa sức; áp dụng vào khi nàotrong tiến trình bài dạy và trong chương trình học
+ Có thể trò chơi trước khi kết thúc tiết học Cách này có ưu điểm là kíchthích được sự hứng thú học tập của học sinh, giờ học tránh được không khísuy nghĩ căng thẳng trở thành “ Vui mà học, học mà chơi” hết sức sinh động.+ Có thể trò chơi sau khi hoàn thành một chương Với cách này sẽ giúp chohọc sinh hệ thống lại kiến thức một cách sinh động và hiệu quả
Trang 18Bước 3: Xây dựng và thiết kế trò chơi
-Thiết kế trò chơi học tập thường qua các bước như sau:
+ Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức,
kỹ năng nào?
+ Đồ dùng phục vụ trò chơi
+ Nêu luật chơi
+ Số người tham gia
+ Nêu cách chơi, cách tính điểm
+ Thời gian chơi
Bước 4 : Cách tiến hành trò chơi
– Giới thiệu trò chơi, hướng dẫn cách chơi, phổ biến luật chơi
– Chơi thử (nếu cần)
– Chơi thật
– Nhận xét, rút kinh nghiệm và tổng kết trò chơi
Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi củatừng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm
– Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởngcho đội thắng (nếu có)
– Một HS hoặc GV nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thểhiện
1.4.2 Nguyên tắc tổ chức trò chơi
* Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo cho học sinh hiểu rõ những yêu cầu,nội dung và cách tổ chức trò chơi
Trang 19Trò chơi phải có tác dụng định hướng đối với toàn bộ quá trình dạy học
và trò chơi phải nhằm đáp ứng những yêu cầu, mục đích của bài học Vì vậy,trước khi chơi, giáo viên cần giải thích rõ ràng và đầy đủ những yêu cầu cầnđạt được, nội dung và cách thức thực hiện trò chơi Nếu không các em sẽ chơimột cách tự phát, tùy tiện và người giáo viên sẽ không thu được kết quả dạyhọc như mong muốn
* Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo phát huy được tính tích cực, độc lập,sáng tạo của học sinh trong quá trình tổ chức trò chơi
Học sinh không những là đối tượng của hoạt động dạy cũng như hoạtđộng giáo dục mà điều quan trọng hơn là các em chính là chủ thể nhận thức,chủ thể giáo dục Vì vậy, trong quá trình tổ chức trò chơi giáo viên cần lựachọn cách tổ chức với mức độ tham gia của học sinh từ thấp đến cao như sau:
Giáo viên chọn, hướng dẫn và tổ chức trò chơi
Giáo viên chọn và hướng dẫn trò chơi, còn học sinh tự tổ chức trò chơi.Đối với nhà sư phạm, cách tốt nhất là vận dụng linh hoạt các hình thứcnói trên, tuyệt đối không nên cường điệu hóa một mức độ cụ thể nào Vì sựcường điệu hóa này tất yếu sẽ dẫn đến những hiệu quả không tốt Nếu cườngđiệu hóa mức độ đầu tiên thì giáo viên sẽ đẩy học sinh vào thế bị động Nếucường điệu hóa mức độ cuối cùng thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng bị quá sức
và trò chơi sẽ không mang lại hiệu quả
* Nguyên tắc thứ ba: Đảm bảo tổ chức trò chơi một cách tự nhiênkhông gò ép
Khi tổ chức trò chơi, đặc biệt là trò chơi sắm vai, cần hướng dẫn để các
em tham gia một cách tự nhiên không gò bó, gương gạo, như vậy các em sẽnhập vai thành công Khi đó các em sẽ vui chơi một cách thoải mái, thực hiệnđược các mục tiêu đặt ra Ngược lại, nếu sự nhập vai này không thành côngthì sự tham gia trên chỉ mang tính chất hình thức, bị gò ép và khó có thể thựchiện được mục tiêu đặt ra
* Nguyên tắc thứ tư: Đảm bảo luân phiên các trò chơi
Trang 20Ở học sinh Tiểu học, hứng thú và khả năng chú ý có chủ định chưa bềnvững Do đó, không nên tổ chức một trò chơi quá dài hay quá lâu Nhà sưphạm cần căn cứ vào yêu cầu dạy học của từng thời điểm và đặc điểm tâm lýcủa học sinh mà lựa chọn một số trò chơi thích hợp để có thể luân phiên nhaugiúp cho học sinh chuyển hướng chú ý và hứng thú một cách hợp lí nhằmphục vụ cho những yêu cầu, mục tiêu dạy học đã đặt ra
* Nguyên tắc thứ năm: Đảm bảo tổ chức trò chơi với tinh thần “thiđua” đồng đội
Trong khi tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi có tính đồng độ, giáoviên cần quan tâm đến yếu tố “thi đua” cần có chuẩn và thang đánh giá thànhtích của cá nhân cùng thành tích chung của đồng đội
Trên đây là những nguyên tắc lựa chọn và tổ chức trò chơi cho học sinhTiểu học Những nguyên tắc này có liên quan mật thiết với nhau, có tác dụngchỉ đạo việc lựa chọn và thực hiện những trò chơi trong tiết học theo một quytrình nhất định
1.5 Ưu điểm, hạn chế của trò chơi học tập
1.5.1 Ưu điểm
Tổ chức dạy học theo nhóm là một hình thức dạy học mới Đó là mộttrong những hình thức thực hiện tốt việc dạy học phát huy tính tích cực vàtương tác của học sinh với hình thức này học sinh được hấp dẫn, lôi cuốn vàocác hoạt động học, thu lượm kiến thức bằng chính khả năng của mình với sựgiúp đỡ hướng dẫn sư phạm của giáo viên
+ Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức kỹ năng màcác em được lĩnh hội và rèn luyện
+ Học sinh thấy vui, nhanh nhẹn, cởi mở
+ Học sinh tiếp thu tự giác
Trang 21+ Học sinh được củng cố và hệ thống hóa kiến thức Tăng cường khảnăng giao tiếp.
Trò chơi sẽ làm thay đổi không khí học tập của lớp, làm cho không khí trởnên dễ chịu, thoải mái hơn Học sinh sẽ thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái vàkhoẻ hơn sau một quá trình tập trung cao vào việc tiếp nhận kiến thức
Bên cạnh đó trò chơi học tập còn tạo cho các em khả năng quan sát tốt, tinhthần đoàn kết, giao lưu trong tổ, lớp tạo tính chủ động, tự tin, mạnh dạn, sángtạo cho các em
Mặt khác trò chơi học tập là con đường thuận lợi để học sinh khắc sâu kiếnthức khi học
– Giúp các em nhút nhát, khả năng diễn đặt kém có điều kiện rèn luyện
– Khi tổ chức trò chơi học tập giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm
và sự sự sáng tạo của học sinh trong học tập
-Cần đủ không gian làm việc cho trò chơi
-Bàn nghế phải tiện cho việc bố trí các trò chơi học tập
-Các phương tiện hiện đại như máy tính, máy chiếu, màn hình ti vi, bănghình,…
Trang 22-Giáo viên cần có sự chuẩn bị bài dạy kĩ càng, dự kiến trước các tình huống sẽxẩy ra, chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học và các vật liệu hỗ trợ hoạt động học tậpcủa học sinh như phiếu học tập, bút lông, bảng cài, bông hoa,…
- Một số giáo viên chưa có điều kiện trang bị cho mình một chiếc máy tínhxách tay, có một số giáo viên gần về hưu thì hầu như không thành thạo vớiphần mềm Powerpoint
- Nếu giáo viên không kiểm soát và quản lí chặt chẽ thì trong lúc chơi,mức độ ồn của lớp sẽ lớn hơn mức độ cho phép Điều này sẽ ảnh hưởng lớnđến lớp học bên cạnh Để thực hiện tốt phong trào “Trường học thân thiện -Học sinh tích cực” trong lúc này giáo viên cần hạn chế quát mắng học sinh
mà phải lập ra kế hoạch chống ồn bằng cách thưởng – phạt hợp lí, ghi tên vàkiểm điểm những thành viên vi phạm, tổ trưởng theo dõi, quản lí tổ mình;khuyên bảo và nhắc nhở bạn mình giữ trật tự thật nghiêm túc
- Trong lúc chơi trò chơi, việc chia nhóm có thể mất nhiều thời gian,nên giáo viên cần tìm hiểu năng lực của học sinh, quy định về cách tạo nhóm
2, 4, 6 , giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong tổ, nhóm Có thể lúcđầu cần sự hướng dẫn của giáo viên, sau sẽ dần đi vào nề nếp và công việc sẽdiễn ra nhanh chóng khẩn trương
- Soạn bài có áp dụng trò chơi học tập sẽ tốn nhiều công sức và thờigian, nhưng để chuẩn bị những vật dụng cần thiết cho trò chơi trên lớp lạicàng khó khăn hơn Giáo viên nên giao cho mỗi giáo viên, học sinh trongkhối ( khi cần thiết) chuẩn bị và đảm nhận một vài đồ dùng thì số lượng đồdùng dạy học có thể dùng chung cho cả khối
Trang 231.6 Thực trạng và những lưu ý khi sử dụng
1.6.1 Thực trạng
Hiện nay, thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhiều giáoviên, đặc biệt là các giáo viên trẻ đã không ngừng tìm tòi, tích lũy kinhnghiệm, sáng tạo ra những ý tưởng hay, để có thể tạo ra một giờ giảng sinhđộng, ấn tượng và đạt được mục tiêu của bài học cần chuyển tải đến ngườihọc Trước yêu cầu ngày càng nâng cao hơn nữa chất lượng bài giảng vớiphương châm rút ngắn khoảng cách giữa người dạy và người học bằng nhữnghoạt động, sản phẩm cụ thể trong dạy học Bằng cách này hay cách khác,phương pháp truyền thống hay hiện đại, đôi khi chúng ta vẫn loay hoay để cómột giờ giảng tốt nhất, thân thiện và hiệu quả nhất Theo điều tra thì 95% họcsinh lớp 2 thích học những giờ học có tổ chức trò chơi học tập và các em cảmthấy rất vui Chất lượng dạy học được nâng cao khi có sự hổ trợ của côngnghệ thông tin Vì thế, sử dụng phương pháp “trò chơi học tập” có thể đượchiểu đó là một phương thức, cách thức truyền tải một thông điệp, một nộidung cụ thể nào đó đến người nghe thông qua hình thức trò chơi “Học màchơi - Chơi mà học” là nội dung bài học được truyền tải đến người học mộtcách nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc và dễ hiểu Tổ chức trò chơi học tập, mộttrong những hoạt động thu hút và khá hấp dẫn đối với học sinh Một số giáoviên trẻ tiếp thu khá nhanh và biết tổ chức bài dạy tốt
Tuy nhiên thực trạng cho thấy giáo viên còn chưa quan tâm nhiều đếnviệc đưa trò chơi học Tự nhiên và Xã hội vào giảng dạy hoặc có đưa trò chơihọc học Tự nhiên và Xã hội vào giờ học cũng chỉ trong những giờ thao giảng
Sở dĩ có tình trạng trên là do tác động của điều kiện thời gian, cơ sở vật chất,đặc điểm học sinh cho nên việc áp dụng phương pháp trò chơi trong học tậpchưa phổ biến và áp dụng chưa có hiệu quả Tài liệu tham khảo về trò chơihọc tập rất nhiều nhưng phần lớn các trò chơi có sự lặp lại, chưa có tính hệthống cụ thể Sách giáo viên hướng dẫn soạn bài giảng đưa ra rất ít, đơn điệu,