ĐỀ BÀI Câu 1 Phân tích quan điểm của C Mác về lượng giá trị một đơn vị hàng hóa? Theo quan điểm của C Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đởi hàng hóa thì lượng giá trị một đơn vị hàng hó.BÀI LÀM Câu 1: Phân tích quan điểm của C.Mác về lượng giá trị một đơn vị hàng hóa? Theo quan điểm của C.Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa thì lượng giá trị một đơn vị hàng hóa sẽ biến đổi theo chiều hướng nào? Giải thích? Quan điểm trên có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất? Giá trị của hàng hóa được xét về cả hai mặt là chất và lượng. Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định. Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định. Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào hai nhân tố là Năng xuất lao động và Mức độ phức tạp của lao động. Thứ nhất : Năng xuất lao động là năng lực sản xuất cảu lao động , được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. có hai loại năng xuất lao động là năng xuất lao động cá biệt và năng xuất lao động xã hội. Mỗi chủ thể kinh doanh có một lượng hao khí lao động thực tế nhất định trong quá trình sản xuất hàng hóa của họ , đó chính là thời gian lao động cá biệt. Thời gian lao động cá biệt xác định giá trị cá biệt của hàng hóa . Nhưng trên thị trường , không thể dựa vào giá trị cá biệt của hàng hóa để tiến hành trao đổi , mà phải dựa vào giá trị xã hội cảu hàng hóa . Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hóa . Vì vậy, năng xuất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội cảu hàng hóa chính là năng xuất lao động xã hội . Năng suất lao động xã hội càng tăng , thời gian lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hóa càng giảm , lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít . Ngược lại năng xuất lao động của xã hội càng giảm thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng háo càng tăng và lượng giá trị của một dơn vị sản phẩm càng nhiều . Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỉ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỉ lệ nghịch với năng xuất lao động xã hội . Muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa xuống , thì ta phải tăng năng xuất lao động xã hội. Năng suất lao động lại tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: trinhg dộ của người lao động , sự phát triển của khoa học kĩ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên. Thứ hai: mức dộ phức tạp của lao động. Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hửng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa. Có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp . Lao động giản đơn là lao động mà bất kì một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể làm được. Lao động phức tạp là lao dộng đòi hỏi phải được đòa tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể thực hiện được. C.Mác đã chỉ rõ: Trong một giờ lao động, người thợ sửa chữa đồng hồ tạo ra nhiều giá trị hơn người rửa bát. Bởi vì, lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có nghĩa là bất kì một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần có sự phát triển đặc biệt cũng có thể làm được. Còn lao động của người thợ sửa chữa đồng hồ là lao động phức tạp đòi hỏi phải có sự đào tạo, phải có thời gian huấn luyện tay nghề . Vì vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. C.Mác viết: “Lao động phức tạp… chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân lên…”. Như vậy, để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể bình đẳng với các hàng hóa do lao động phúc tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình. Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình. + Theo quan điểm của C.Mác cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi của hàng hóa thì lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm đi. Vì: Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ của người lao động, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, và trình độ ứng dụng tiến bộ kĩ thuật ngày càng cao và hiện đại, những công việc nặng nhọc được làm trực tiếp bởi người lao động giờ đã được thay thế bằng máy móc hiện đại, làm cho năng suất lao động xã hội ngày càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. + Ý nghĩa của quan điểm của C.Mác đồi với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất. -Phân tích nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam hiện nay. Nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam hiện nay có nhiều ưu điểm để nâng cao giá trị của hàng hóa. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều những hạn chế làm cho hàng hóa của VN có giá trị thấp và giá trị không cao. Lợi thế của nền sản xuất của VN là nguồn lao động rất nhiều, giá lại rẻ nên thu hút các nhà đầu tu nước ngoài đầu tư vốn và đặt các nhà máy sản xuất tại VN, làm cho giá thành của sản phẩm rẻ đi nên có tính cạnh tranh cao
Trang 1ĐỀ BÀI:
Câu 1: Phân tích quan điểm của C.Mác về lượng giá trị một đơn vị hàng hóa? Theo quan điểm của C.Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đởi hàng hóa thì lượng giá trị một đơn vị hàng hóa sẽ biến đổi theo chiều hướng nào? Giải thích? Quan điểm trên có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất?
Câu 2: Làm rõ mối quan hệ giữa tuần hoàn và chu chuyển của tư bản Phân tích ý nghĩa của việc nghiên cứu chu chuyển tư bản
Trang 2BÀI LÀM Câu 1: Phân tích quan điểm của C.Mác về lượng giá trị một đơn vị
hàng hóa?
Theo quan điểm của C.Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa thì lượng giá trị một đơn vị hàng hóa sẽ biến đổi theo chiều hướng nào? Giải thích? Quan điểm trên có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất?
Giá trị của hàng hóa được xét về cả hai mặt là chất và lượng
Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào hai nhân tố là Năng xuất lao động và Mức độ phức tạp của lao động
Thứ nhất : Năng xuất lao động là năng lực sản xuất cảu lao động ,
được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc
số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm có hai loại năng xuất lao động là năng xuất lao động cá biệt và năng xuất lao động xã hội
Mỗi chủ thể kinh doanh có một lượng hao khí lao động thực tế nhất định trong quá trình sản xuất hàng hóa của họ , đó chính là thời gian lao động cá biệt Thời gian lao động cá biệt xác định giá trị cá biệt của hàng hóa Nhưng trên thị trường , không thể dựa vào giá trị cá biệt của hàng hóa để tiến hành trao đổi , mà phải dựa vào giá trị xã hội cảu hàng hóa Giá trị xã hội của hàng
Trang 3hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hóa Vì vậy, năng xuất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội cảu hàng hóa chính là năng xuất lao động xã hội Năng suất lao động xã hội càng tăng , thời gian lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hóa càng giảm , lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lại năng xuất lao động của xã hội càng giảm thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng háo càng tăng và lượng giá trị của một dơn vị sản phẩm càng nhiều Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỉ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỉ lệ nghịch với năng xuất lao động xã hội Muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa xuống , thì ta phải tăng năng xuất lao động xã hội
Năng suất lao động lại tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: trinhg dộ của người lao động , sự phát triển của khoa học kĩ thuật và trình độ ứng dụng tiến
bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên
Thứ hai: mức dộ phức tạp của lao động.
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hửng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa Có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động mà bất kì một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể làm được Lao động phức tạp là lao dộng đòi hỏi phải được đòa tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể thực hiện được
C.Mác đã chỉ rõ: Trong một giờ lao động, người thợ sửa chữa đồng hồ tạo
ra nhiều giá trị hơn người rửa bát Bởi vì, lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có nghĩa là bất kì một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần có sự phát triển đặc biệt cũng có thể làm được Còn lao động của người thợ sửa chữa đồng hồ là lao động phức tạp đòi hỏi phải có
Trang 4sự đào tạo, phải có thời gian huấn luyện tay nghề Vì vậy, trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn
C.Mác viết: “Lao động phức tạp… chỉ là lao động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân lên…”
Như vậy, để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể bình đẳng với các hàng hóa do lao động phúc tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình
+ Theo quan điểm của C.Mác cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi của hàng hóa thì lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm đi Vì:
Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ của người lao động, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, và trình độ ứng dụng tiến bộ kĩ thuật ngày càng cao và hiện đại, những công việc nặng nhọc được làm trực tiếp bởi người lao động giờ đã được thay thế bằng máy móc hiện đại, làm cho năng suất lao động xã hội ngày càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít
+ Ý nghĩa của quan điểm của C.Mác đồi với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất
-Phân tích nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam hiện nay
Nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam hiện nay có nhiều ưu điểm để nâng cao giá trị của hàng hóa Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều những hạn chế làm cho hàng hóa của VN có giá trị thấp và giá trị không cao
Trang 5Lợi thế của nền sản xuất của VN là nguồn lao động rất nhiều, giá lại
rẻ nên thu hút các nhà đầu tu nước ngoài đầu tư vốn và đặt các nhà máy sản xuất tại VN, làm cho giá thành của sản phẩm rẻ đi nên có tính cạnh tranh cao hơn về giá so với sản phẩm nước khác có nguồn lao động giá cao Và đặc biệt, người lao động nước ta chăm chỉ, cần cù, sáng tạo Giá nguyên vật liệu ở nước ta lại rẻ và dồi dào( nhất là sản xuất lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng…), làm giảm chi phí sản xuất nên giá cả của hàng hóa giảm đi, tăng sức cạnh tranh về giá của hàng hóa
Bên cạnh những lợi thế của nền sản xuất nước ta thì còn rất nhiều những hạn chế làm cho nền sản xuất của VN phát triển chậm, chất lượng hàng hóa không cao, làm giảm sức cạnh tranh với hàng hóa của các nước khác Một số những hạn chế đó là: Nguồn lao động lớn, dồi dào nhưng trình độ thấp, hầu hết có trình độ phổ thông và thiếu chuyên gia, Tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta còn rất chậm, hầu hết là lao động thủ công, máy móc sản xuất của nước ta là lạc hậu so với nước ngoài nên chất lượng hàng hóa không cao, không cạnh tranh được so với hàng hóa của nước ngoài
Với nền sản xuất của VN hiện nay, để có thể phát triển và đứng vững trên thị trường đầy khó khăn và thách thức , các doanh nghiệp phải có những thay đổi cụ thể nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hoàng hóa
Từ phân tích về nền sản xuất của VN ở trên cho thấy, việc áp dụng học thuyết về lượng giá trị của C.Mác với các doanh nghiệp là rất cần thiết, lấy đó làm cơ sở để doanh nghiệp tìm ra hướng đi cho riêng mình, để biến thách thức thành cơ hội để có thể đứng vững và phát triển trên thị trường
Trang 6Câu 2: Làm rõ mối quan hệ giữa tuần hoàn và chu chuyển của tư bản Phân
tích ý nghĩa của việc nghiên cứu chu chuyển tư bản?
Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản, người ta chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động
Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, v.v về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó
bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất Có hai lại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị Hao mòn vô hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương nhưng công suất cao hơn Để tránh hao mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc, v.v nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng
để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên, tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra Nhờ đó mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh
Trang 7- Tư bản lưui động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động, V.V., giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Việc tăng tốc
độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hàng năm tăng lên
Căn cứ để phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động là phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất
Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu
Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho nền kinh tế nước ta, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trước năm
1986 quan hệ ngoại giao của nước ta với các nước trên thế giới rất mờ nhạt, chủ yếu quan hệ với một số nước anh em như: Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Bungari với mục đích tiếp tục nhận viện trợ Nền kinh tế trong nước còn đang yếu, các doanh nghiệp sản xuất theo lệnh từ cấp trên đưa xuống và cũng chính Nhà nước tìm cách tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp bên cạnh đó lạm phát luôn là mức phi mã Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các doanh nghiệp có trách nhiệm duy trì, bảo tồn và phát triền nguồn vốn hiện có nghĩa là doanh nghiệp tự mình sản xuất kinh doanh tìm "đầu vào" và "đầu ra" cho doanh nghiệp Về phía Nhà nước lúc này chỉ quản lý các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô Do đó nghiên cứu lý thuyết tuần
Trang 8hoàn tư bản rất có ý nghĩa đối với nước ta trong nền kinh tế thị trường, nhất là đối với
Thứ nhất: Xác định đường lối sản xuất kinh doanh các thành phần kinh
tế
Hiện nay nước ta đang tồn tại song song 5 phần kinh tế Cùng với sự xuất hiện của những doanh nghiệp mới thành lập đã có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả dẫn đến phá sản Ngay từ khi có quyết định
bỏ vốn thành lập doanh nghiệp nhà quản trị phải trả lời được 3 câu hỏi: doanh nghiệp sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? chỉ khi trả lời
ba câu hỏi này một cách đầy đủ và chính xác nhất thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới được tiến hành bình thường và liên tục hay nói cách khác doanh nghiệp góp phần thực hiện quá trình tuần hoàn tư bản
Để trả lời được câu hỏi doanh nghiệp sản xuất cái gì? doanh nghiệp cần phân tích nhu cầu của thị trường xem thị trường đang thiếu cái gì mà nhu cầu
về mặt hàng ngày đang tăng và nó sẽ mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp trong khả năng vốn hiện có Sau đó nhà quản trị sẽ bỏ vốn để mua tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, thiết bị sản xuất, nhiên liệu, nhà xưởng, kho tàng và mua sức lao động (trả lương cho công nhân) Đây là giai đoạn vốn của doanh nghiệp từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hiện vật ở giai đoạn này nhà quản trị phải cân đối vốn để mua tư liệu sản xuất và trả lương cho công nhân theo tỉ lệ thích hợp Nếu thiếu một trong hai nhân tố đó thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn làm ảnh hưởng tới
sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản Dựa vào phân tích tốc độ chu chuyển của vốn các doanh nghiệp không chỉ lên kế hoạch sản xuất kinh doanh mà còn phải xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn bằng cách hình thành các quĩ như quĩ đầu tư, phát triển, quĩ khấu hao, quĩ phúc lợi Sau một thời gian sản xuất những quĩ này được đưa ra sử dụng mở rộng sản xuất (theo chiều rộng)
Trang 9hoặc cải tiến máy móc, nhập thêm dây chuyền hiện đại để tăng năng suất lao động (mở rộng theo chiều sâu)
Thứ hai: Tiết kiệm được tư bản ứng trước.
Sau một thời gian dài hoạt động máy móc sẽ bị hao mòn dần do chuyển một phần giá trị vào sản phẩm Ngoài việc cải tiến máy móc, nhập thêm những dây chuyền sản xuất tiên tiến, hiện đại các doanh nghiệp phải dựa vào kinh nghiệm sản xuất kinh doanh mà dự tính trước những công việc bảo dưỡng, tiểu tu, trung tu, đại tu tài sản cố định sau những khoảng thời gian hoạt động nhất định, cũng như việc sửa chữa hư hỏng thông thường và bất thường có thể xảy ra
Ngoài ra, để tránh hao mòn vô ích, nhất là hao mòn vô hình doanh nghiệp phải ra sức tiết kiệm các chi phí bảo quản và sửa chữa bằng cách nâng cao ý thức người lao động đối với việc sử dụng máy móc, tăng cường sử dụng hết công suất máy thiết kế để thu hồi vốn nhanh và thu nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn nhất
Thứ ba: Đưa ra các giải pháp để tăng tốc độ chu chuyển vốn.
Muốn quay vòng vốn nhanh để tiếp tục một chu kỳ sản xuất mới các doanh nghiệp phải ra sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lưu thông vì
nó là thành phần tạo nên thời gian chu chuyển của vốn Các doanh nghiệp ở nước ta trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thường đưa ra những giải pháp sau đây để rút ngắn thời gian sản xuất
+ Áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động Bên cạnh việc nhập khẩu một số dây chuyền nước ngoài có công nghệ tiên tiến các doanh nghiệp không nên bỏ qua những dây chuyền sản xuất có khả năng sử dụng bằng cách bán lại cho những doanh nghiệp cần nó
Trang 10+ Mở rộng quan hệ để liên doanh, liên kết Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới do đó liên doanh liên kết là con đường ngắn nhất để bắt kịp với sự tiến bộ của xã hội
+ Cải tiến bộ máy tổ chức và quản lý lao động Hiện nay một số doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu tổ chức quản lý cồng kềnh dẫn đến giải quyết công việc bị chồng chéo lên nhau,vi phạm quyền hạn và trách nhiệm của người này với người khác Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải giảm lực lượng lao động gián tiếp không có năng lực để bộ máy được gọn nhẹ linh hoạt, tuân thủ chế
độ một thủ trưởng Mặt khác lực lượng lao động trực tiếp là người sản xuất ra sản phẩm nên phải bố trí ca kíp làm việc hợp lý cho mọi người để có thời gian nghỉ ngơi Thực hiện chế độ làm việc 40 giờ một tuần đồng thời trả lương xứng đáng cho người lao động đã bỏ sức ra, khuyến khích người lao động làm việc có năng suất, hiệu quả bằng những phần thưởng vật chất và tinh thần