1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu 1: Làm rõ những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế những khuyết tật đó cần phải giải quyết các vấn đề gì? Vì sao

11 12 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Làm rõ những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế những khuyết tật đó cần phải giải quyết các vấn đề gì? Vì sao
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 38,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ BÀI Câu 1 Làm rõ những khuyết tật của kinh tế thị trường Để hạn chế những khuyết tật đó cần phải giải quyết các vấn đề gì? Vì sao Câu 2 Trình bày tóm tắt các hình thức biểu hiện của giá trị thặng d. ĐỀ BÀI:Câu 1: Làm rõ những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế những khuyết tật đó cần phải giải quyết các vấn đề gì? Vì saoCâu 2: Trình bày tóm tắt các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường BÀI LÀMCâu 1:Trong nền kinh tế hàng hoá nước ta, ta cũng thấy rõ những khuyết tật rất cơ bản và tất yếu xảy ra trong lòng vận động của nền kinh tế. Khuyết tật thứ nhất : Là mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn hoá với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nho ûnhưng đặ biệt và đa dạng. Đó là việc mỗi nhà sản xuất chuyên moan hoá sản xuất và bán ra thị trường với một số lượng một hoặc một số hàng hoá và dịch vụ nhưng mỗi người tiêu dùng chỉ mua số lượng nhỏ trong số hàng hoá này Sở dĩ có mâu thuẫn này là do thị trường là mộttập hợp gồm vô số người tiêu dùng với những nhu cầu và mong muốn khác nhau. Xã hội càng phát triển, thu nhập của dân chúng càng tăng, nhu cầu tiêu dùng càng đa dạng, phong phú trong khi đó doanh nghiệp sản xuất lại phải sản xuất ra một khối lượng lớn hàng hoá để đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, giảm chi phí sả xuất . Sả xuất lớn hiệu quả cao không thể giải quyết vấn đề thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Hệ thống phân phối hàng hoágiúp giải quyết mâu thuẫn này thông qua việc thiết lập mạng lưới bán buôn, bán lẻ để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Khuyết tật thứ hai: là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Thông thường việc sản xuất thường tập trung tại một địa điểm nhất định còn tiêu dùng lại phân bố rộng khắp . Tạo sự ăn khớp về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng đòi hỏi phải tối thiểu hoátổng số các trao đổi , sự xuất hiện cấu trúc hệ thống phân phối hàng hoá nhiều cấp độ với các trung gian thương mại chính là để giảm tổng số các trao đổi và tạo điều kiện vân chuyển khối lượng lớn ở cự ly dài nhờ đó giảm chi phí vận chuyển .Khuyết tật thứ ba: Là sự khác biệt về thời gian . Do thời gian sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp . vì sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian vơùi nhu cầu tiêu dùng nên dã nảy sinh nhu cầu dụ trữ hàng hoá . Sự ăn khớp về thời gian sản suất và tuêu dùng được giải quyết thông qua dòng chảy sản phẩm của các kênh lưu thông và dự trữ hàng hoá trong hệ thống phân phối hành hoá dảm bảo đúng thời gian mong muốn của khách hàng . Ngoài ba vấn đề trên , tronh nền kinh tế còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn khác như sự khác biệt về thông tin và giá trị hàng hoá, sự khác biệt về quyền sở hữu …” Khuyết tật thứ tư: “sự phát triển của thị trường trong nước còn mang nặng tính tự phát, thiếu tính bền vững. Các mô hình tổ chức thị trường thích hợp chậm được xác lập và triển khai thực hiện. Nhìn chung thị trường trong nước chưa xác lập được các mô hình tổ chức hoạt động thương mại có tính hệ thống, tính liên kết cao và ổn dịnh, gắn bó với sản xuất, bám sát vơùi tiêu dùng, phù hợp với dung lượng thị trường của từng địa bàn cụ thể, đảm bảo lưu thông tông suốt và ngày càng mở rộng, đảm bảo mua bán thuận lợi và ngay càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại. Nhiều hàng hoá chưa định hình được kênh lưu thông . Các hình thức tổ chức kinh doanh thương mại như chợ, trunh tâm thương mại, trung tâm bán buôn và bán lẻ, siêu thị…chậm được quy hoạch và triển khai. Khuyết tậ thứ năm: Khả năng cạnh tranh của hàng hoá nói chung còn yếu. Nhiều mặt hàng công nghiệp còn đơn điệu, cũ kĩ về mẫu mã và quy cách, chất lượng thấp mà giá thành cao; Phần lớn mặt hàng nông sản cũng trong tình trạng tương tự, lại ít hoặc chưa qua chế biến; Do đó vị thế của hàng hoá là khó cạnh tranh với hàng nước ngoài, trên thị trường nước ngoaøi và khó tiêu thụ ngay cả ở thị trường trong nước. Vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá thường xuyên là vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nền kinh tế. Tỷ giá cánh kéo giữa hàng nông sản với hàng công nghiệp và dịch vụ trong nhiều năm qua vẫn doãn rộng theo hướng bất lợi cho hàng nông sản, kìm hãm thu nhập và sức mua của cư dân nông thôn. Khuyết tậ thứ sáu: Thương nhân tuy đông nhưng chưa mạnh,năng lực và vị thế của đa số các loại hình doanh nghiệp thươngmại còn yếu: Đa số doanh nghiệp thương mại thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, mạng lưới cơ sở vật chất kĩ thuật nhỏ bé và nghèo nàn , công nghệ quản lý kinh doanh lạc hậu và thiếu các chiến lược phát triển kinh doanh.Thương nghiệp quốc doanh chưa làm tốt chức năng điều hoà cung cầu và điều tiết giá cả các mặt hàng trọng yếu. Điểm yếu cuaû thương nghiệp quốc doanh làhiệu quả hoạt động nhìn chung còn thấp, chưa tương xứng với quy mô vốn và lao động, cũng như yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Sau khi có luật hợp tác xã name 1996 nhiều hợp tác xã thương mại vẫn lung túng về phương thức và nội dung hoạt động, vai trò còn mờ nhạt . Doanh nghiệp thương mại tư nhân tuy đông nhưng đa số là quy mô nhỏ, nguồn lực yếu khả năng cạnh tranh kém, khó có thể đầu tư hoạc liên doanh, liên ketá để triển khai các phương án kinh doanh lớn hoặc ïmơ’ rộng mạng lưới kinh doanh. Nhiều người có vốn lớn nhưng chưa mạnh dạn đầ tư vì chưa thực sự tin vào sự ổn định của chính sách. Trong khi nhiều doanh nghiệp tư nhân có đóng góp tích cực và làm giàu chính đáng, vẫn còn một bộ phận hoạt động phi pháp, lừa đảo, trốn thuế…Khuyết tật thứ bảy: Thể chế quản lý về lưu thông hàng hoá và thị trường trong nước chưa hoàn chỉnh: + Công tác dự báo cung cầu về giá cả chưa đáp ứng tốt yêu cấu chỉ đạo điều hành, điều tiết về lưu thông hàng hoá ở thị trường trong nước cũng

Trang 1

ĐỀ BÀI:

Câu 1: Làm rõ những khuyết tật của kinh tế thị trường Để hạn chế những khuyết tật đó cần phải giải quyết các vấn đề gì? Vì sao

Câu 2: Trình bày tóm tắt các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường

Trang 2

BÀI LÀM Câu 1:

Trong nền kinh tế hàng hoá nước ta, ta cũng thấy rõ những khuyết tật rất cơ bản và tất yếu xảy ra trong lòng vận động của nền kinh tế.

Khuyết tật thứ nhất : Là mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn,

chuyên môn hoá với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nho ûnhưng đặ biệt

và đa dạng Đó là việc mỗi nhà sản xuất chuyên moan hoá sản xuất và bán

ra thị trường với một số lượng một hoặc một số hàng hoá và dịch vụ nhưng mỗi người tiêu dùng chỉ mua số lượng nhỏ trong số hàng hoá này

Sở dĩ có mâu thuẫn này là do thị trường là mộttập hợp gồm vô số người tiêu dùng với những nhu cầu và mong muốn khác nhau Xã hội càng phát triển, thu nhập của dân chúng càng tăng, nhu cầu tiêu dùng càng đa dạng, phong phú trong khi đó doanh nghiệp sản xuất lại phải sản xuất ra một khối lượng lớn hàng hoá để đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, giảm chi phí sả xuất Sả xuất lớn hiệu quả cao không thể giải quyết vấn đề thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng Hệ thống phân phối hàng hoágiúp giải quyết mâu thuẫn này thông qua việc thiết lập mạng lưới bán buôn, bán lẻ để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng

Khuyết tật thứ hai: là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và

tiêu dùng Thông thường việc sản xuất thường tập trung tại một địa điểm nhất định còn tiêu dùng lại phân bố rộng khắp

Tạo sự ăn khớp về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng đòi hỏi phải tối thiểu hoátổng số các trao đổi , sự xuất hiện cấu trúc hệ thống phân phối hàng hoá nhiều cấp độ với các trung gian thương mại chính là để giảm tổng

Trang 3

số các trao đổi và tạo điều kiện vân chuyển khối lượng lớn ở cự ly dài nhờ

đó giảm chi phí vận chuyển

Khuyết tật thứ ba: Là sự khác biệt về thời gian Do thời gian sản

xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp vì sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian vơùi nhu cầu tiêu dùng nên dã nảy sinh nhu cầu dụ trữ hàng hoá Sự ăn khớp về thời gian sản suất và tuêu dùng được giải quyết thông qua dòng chảy sản phẩm của các kênh lưu thông và dự trữ hàng hoá trong hệ thống phân phối hành hoá dảm bảo đúng thời gian mong muốn của khách hàng

Ngoài ba vấn đề trên , tronh nền kinh tế còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn khác như sự khác biệt về thông tin và giá trị hàng hoá, sự khác biệt về quyền sở hữu …”

Khuyết tật thứ tư: “sự phát triển của thị trường trong nước còn mang

nặng tính tự phát, thiếu tính bền vững Các mô hình tổ chức thị trường thích hợp chậm được xác lập và triển khai thực hiện Nhìn chung thị trường trong nước chưa xác lập được các mô hình tổ chức hoạt động thương mại

có tính hệ thống, tính liên kết cao và ổn dịnh, gắn bó với sản xuất, bám sát vơùi tiêu dùng, phù hợp với dung lượng thị trường của từng địa bàn cụ thể, đảm bảo lưu thông tông suốt và ngày càng mở rộng, đảm bảo mua bán thuận lợi và ngay càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại Nhiều hàng hoá chưa định hình được kênh lưu thông Các hình thức tổ chức kinh doanh thương mại như chợ, trunh tâm thương mại, trung tâm bán buôn và bán lẻ, siêu thị…chậm được quy hoạch và triển khai

Khuyết tậ thứ năm: Khả năng cạnh tranh của hàng hoá nói chung

còn yếu Nhiều mặt hàng công nghiệp còn đơn điệu, cũ kĩ về mẫu mã và quy cách, chất lượng thấp mà giá thành cao; Phần lớn mặt hàng nông sản

Trang 4

cũng trong tình trạng tương tự, lại ít hoặc chưa qua chế biến; Do đĩ vị thế của hàng hố là khĩ cạnh tranh với hàng nước ngồi, trên thị trường nước ngoài và khĩ tiêu thụ ngay cả ở thị trường trong nước Vấn đề tiêu thụ nơng sản hàng hố thường xuyên là vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nền kinh tế Tỷ giá cánh kéo giữa hàng nơng sản với hàng cơng nghiệp và dịch

vụ trong nhiều năm qua vẫn dỗn rộng theo hướng bất lợi cho hàng nơng sản, kìm hãm thu nhập và sức mua của cư dân nơng thơn

Khuyết tậ thứ sáu: Thương nhân tuy đơng nhưng chưa mạnh,năng

lực và vị thế của đa số các loại hình doanh nghiệp thươngmại cịn yếu: Đa

số doanh nghiệp thương mại thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, mạng lưới cơ sở vật chất kĩ thuật nhỏ bé và nghèo nàn , cơng nghệ quản lý kinh doanh lạc hậu và thiếu các chiến lược phát triển kinh doanh

Thương nghiệp quốc doanh chưa làm tốt chức năng điều hồ cung cầu và điều tiết giá cả các mặt hàng trọng yếu Điểm yếu cuả thương nghiệp quốc doanh làhiệu quả hoạt động nhìn chung cịn thấp, chưa tương xứng với quy mơ vốn và lao động, cũng như yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước Sau khi cĩ luật hợp tác xã name 1996 nhiều hợp tác xã thương mại vẫn lung túng về phương thức và nội dung hoạt động, vai trị cịn mờ nhạt Doanh nghiệp thương mại tư nhân tuy đơng nhưng đa số là quy mơ nhỏ, nguồn lực yếu khả năng cạnh tranh kém, khĩ cĩ thể đầu tư hoạc liên doanh, liên ketá để triển khai các phương án kinh doanh lớn hoặc ïmơ’ rộng mạng lưới kinh doanh Nhiều người cĩ vốn lớn nhưng chưa mạnh dạn

đầ tư vì chưa thực sự tin vào sự ổn định của chính sách Trong khi nhiều doanh nghiệp tư nhân cĩ đĩng gĩp tích cực và làm giàu chính đáng, vẫn cịn một bộ phận hoạt động phi pháp, lừa đảo, trốn thuế…

Khuyết tật thứ bảy: Thể chế quản lý về lưu thơng hàng hố và thị

trường trong nước chưa hồn chỉnh:

Trang 5

+ Công tác dự báo cung cầu về giá cả chưa đáp ứng tốt yêu cấu chỉ đạo điều hành, điều tiết về lưu thông hàng hoá ở thị trường trong nước cũng như nhu cầu của doanh nghiệp và người sản xuất , nhất là nông dân trong việc định hướng sản xuất kinh doanh , chậm triển khai và thiếu kiên quyết trong việc thực hiện một số giải pháp ổn định thị trường, giá cả ở tầm

vĩ mô

+ Thiếu những quy định cụ thể về cơ chế, chính sách phát triển các

mô hình tổ chức thị trường và các kênh lưu thông Cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kết cấu hạ tầng thương mại chưa đủ tầm, vì vậy việc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp gặp khó khăn Chính sách hiện hành chưa giúp nhiều cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh của thương nhân , chính sách hỗ trợ thương nhân hoạt động ở địa bàn miền núi hiệu quả chưa cao, chưa phù hợp với điều kiện mới Một số chính sách về tài chính tín dụng, đát đai chưa thực sự công bẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Chính sách và cơ chế quản lý thương mại dịch vụ, chính sách thị trường còn nhiều thiếu sót

và không đồng bộ đã kìm hãm sự phát triển của thị trường

+ Trật tự thị trường và văn minh thương mại vẫn còn nhiều tồn tại và bức xúc , kỉ cương pháp luật trong kinh doanh còn bị vi phạm,tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo vệ sinh, an toàn cho con người và môi trường sống còn khá phổ biến gay thiệc hại cho Nhà nước, cho người sản xuất và ngươi tiêu dùng Công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chế độ + Chính sách

và pháp luật trong kinh doanh nghành thương mại với các nghànhøù hữu quan trong nhiều trường hợp còn chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ và thống nhất.”

Trang 6

Một số vấn đề cần giải quyết để xử lý những khuyết tật và lý do:

1 / Xây dựng và phát triển các mô hình tổ chức thị trường trong nước phù hợp với từng điạ bàn và từng mặt hàng

Xây dựng mô hình các tổ chức lưu thông liên kết dọc theo nghành, nham hoặc mặt hàng với nhiều loại hình thương nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia, nòng coat là các doanh nghiệp lớn có khả năng tích tụ và tập trung vốn , có hệ thống tổ chức kinh doanh, có mạng lưới buôn bán gắn với sản xuất và tiêu dùng, có mối liên kết ổn định và lâu dài với sản xuất

Phát triển rộng mạng lưới kinh doanh, trong đó đặc biệt quan trọng

là mạng lưới các đơn vị cơ sở của doanh nghiệp ơû điạ bàn nông thôn ’

2 / Hình thành và phát triển các hệ thống phân phối hàng hóa

Trước hết là những mặt hàng thiết yếu như thép, phân bón, thuốc chữ bệnh…với sự tham gia đông đảo cuả đội ngũ thương nhân thuộc các thành phần kinh tế Lựa chọn và chỉ đạo tập trung đối với một số doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng nói trên để từng bước hình thành những doanh nghiệp nòng coat trong lĩnh vực tiêu thụ nông sản và phân phối vật tư, hàng côngnghiệp tiêu dùng với mạng lưới chân rết vươn đến các xã phường và trung tâm đặt tại các thị xã, thành phố

3 / Hình thành các tập đoàn, các tổng công ty kinh doanh thương mại lớn, phát triển theo hướng văn minh và hiện đại về mạng lưới kinh doanh ,

cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động và công nghệ quản lý

Các doanh nghiệp được tổ chức theo hệ thống kinh doanh đa nghành hoạc chuyên nghành, vừa mua bán hàng hoá ở thị trường trong nước vừa xuất nhập khẩu Phương thức hoạt động chủ yếu là thực hiện các mối liên kết nội bộ cuả hệ thống và giữa hệ thống với sản xuất Đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò tổ chức thị trương cuả chủ sở hữu nhà nước để lựa

Trang 7

chọn và tập trung chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước đi đầu thực hiện quá trình này

4 / Đổi mới tổ chức và hoạt động cuả các hợp tác xã thương mại-dịch vụ

Khuyến khích phát triển các hợp tác xã thương mại với sự đa dạng

về mô hình tổ chức và nội dung hoạt động như mô hình hợp tác xã đa chức năng kinh doanh tổng hợp, hợp tác xã dịch vụ, hợp tác xã kinh doanh và quản lý chơï, hợp tác xã gồm cả thể nhân lẫn pháp nhân …Đối với địa bàn nông thôn, hợp tác xã chủ yếu hoạt động dịch vụ hai đầu phục vụ kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, tập trung vào những dịch vụ hợp tác xã làm có hiệ quả hơn so với cá nhân và hộ gia đình Có thể phát triển liên hiệp các hợp tác xã tại các điạ bàn đang có nhu cầu, có kinh tế hàng hoá phát triển, trước hết là các thành phố lớn

5 / Khuyến khích tạo điều kiện phát triển ổn định,lâu dài, bền vững có hiệu quả các loại hình thương mại tư nhân theo luật doanh nghiệp

Chú trọng các doanh nghiệp vưà và nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể trên thị trường nông thôn(huyện, xã), có chính sách liên kết, hợp tác và từng bước biến lực lượng này thành các đơn vị vệ tinh cho thương mại nhà nước, thương mại hợp tác xã Tập trung vào các khâu thu mua và bán lẻ Thực hiện chính sách khuyến khích độ ngũ này cùng với các hợp tác xãlàm bạn hành lâu dài và trở thành mạng lưới ổn định cuả doanh nghiệp trong việc tiê thụ nông sả, cung ứng vật tư và hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân

6 / Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động cuả hệ thống kết cấu

hạ tầng phục vụ thương mại trên các điạ bàn

Trang 8

Trước mắt khẩn trương quy hoạch, phát triển mạng lưới các loại hình và cấp độ chợ, siêu thị, trung tâm thương mại…

Đối với điạ bàn nông thôn : từng bước phát triển để hoàn thiện mạng lưới các loại hình và cấp độ chợ theo quy hoạch

7 / Từng bước xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động cuả hệ thống thông tin thị trườngvà xúc tiến thương mại nội điạ

Thiết lập và kết nối các kênh thông tinvề thị trường quốc tế và thị trường trong nước cuả các cơ quan quản lý nhà nước , các hiệp hội, các tổng công ty, công ty lớn, taọ lập mạng thông tin rộng nhưng có sự tậ trung

đụ mạnh, hình thành nên trung tâm có khả năng phân tích, xử lý và cung cấp thông tin thị trường đến các doanh nghiệp và người sản xuất, kinh doanh một cách nhanh chóng, hiệu quả; tăng cường đầu tư , trang bị cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin điện tử Xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin hai chiều , tronh đó chú trọng đến thông tin phản ánh diễn biến thị trường- giá cả từ các điạ phương, các hiệp hội doanh nghiệp và các bộ nghành về trung tâm phục vụ công tác điều hành vĩ mô thị trường trong nước Kết hợp giáo dục, hướng dẫn tiê dùng, kích thích gia tăng nhu cầu mua sắm với bảo vệ quyền lợi cuả người tiêu dùng

8 / Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về thương mại

Tiếp tục sửa đổi, bổ xung, hoàn thiện và đồng bộ hoá hệ thống pháp luật và chính sách về thương mại Duy trì và nâng cao chất lượng, hiệu quả cuả công tác điều tiết, điều hành vĩ mô đối với thị trường trong nước, nhất

là thị trướng và giá cả các mặt hàng thiết yếu Dự báo chính xác và kịp thời,đề xuất giải pháp hợp lý, có tính khả thi kết hợp với sử dụng các công

cụ kinh tế vĩ mô để xử lý các biến động cuả thị trường khi vần thiết

Trang 9

Đổi mới hoạt động cuả cơ quan quản lý nhà nước về thương mại đặc biệt là cấp tỉnh và thành phố.tập trung vào công tác nghiên cứu quy hoạch phát triển, xử lý và cung cấp thông tin, triển khai các hoạt động xúc tiế thương mại Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt là kiểm tra, kiể soát tình hình thực hiện các cơ chế, chính sách và pháp luật trong hoạt động thương mại

Câu 2:

Tóm tắt các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường:

Lợi nhuận

Để sản xuất hàng hóa phải có chi phí lao động quá khứ và lao động sống, khi đó giá trị hàng hóa được tạo ra là W = c + v + m

Nhà tư bản phải mua tư liệu sản xuất (c) và thuê lao động (v), như vậy, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là k = c + v Khi đó, giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện ra dưới hình thái khác là W = k + m

Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất cùng với việc giá cả sức lao động biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là tiền công, là nguyên nhân làm cho giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là lợi nhuận (p) Khi xuất hiện phạm trù lợi nhuận thì giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện thành

W = k + p

C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”

Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp

Trang 10

Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp do chênh lệch giữa giá bán với giá mua hàng hoá của tư bản thương nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp

là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất do nhà tư bản công nghiệp “nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp

Lợi tức của tư bản cho vay và lợi nhuận ngân hàng

Tư bản cho vay (TBCV) là một bộ phận của tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong quá trình tuần hoàn của TBCN được tách ra và vận động độc lập với TBCN TBCV là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho một người khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó

Số lời đó gọi là lợi tức (Z) Hình thức vận động của TBCV T – T’ Lợi nhuận ngân hàng = (Z cho vay + thu khác) – (Z đi vay + chi phí nghiệp vụ)

Địa tô

Định nghĩa: Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch

do lao động của công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp tạo ra sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp buộc phải nộp cho nhà địa chủ (R)

Hình thức:

Địa tô chênh lệch là số dư ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên những ruộng đất tốt và trung bình so với ruộng đất kém nhất, là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông phẩm được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình Địa tô chênh lệch I thu được trên cơ sở đất đai có điều kiện tự

Trang 11

nhiên thuận lợi (gắn với điều kiện tự nhiên thuận lợi bị độc chiếm Do vậy,

nó thuộc về chủ ruộng đất) Địa tô chênh lệch II do thâm canh mà có

Địa tô tuyệt đối là địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất tốt hay xấu Đây là loại tô thu trên tất cả mọi thứ ruộng đất Địa tô tuyệt đối cũng là một loại lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, mà bất cứ nhà tư bản thuê loại ruộng đất nào đều phải nộp cho địa chủ Tính chất lịch sử của địa tô tuyệt đối gắn liền với quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, với tính chất lạc hậu tương đối của sản xuất nông nghiệp so với sản xuất công nghiệp

Ngày đăng: 12/02/2023, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w