1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của triết học mác lênin về cặp phạm trù cái riêng cái chung và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào hoạt động thực tiễn của bản thân

17 64 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của triết học mác lênin về cặp phạm trù cái riêng cái chung và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào hoạt động thực tiễn của bản thân
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Hà Nội
Chuyên ngành Triết học và phếp luật
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 36,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1 PHẦN 2 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG 2 2 1 Khái niệm cái riêng và cái chung 2 2 1 1 Các quan điểm phi Mác xít 2 2 1 2 Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin 3. MỤC LỤCPHẦN 1: MỞ ĐẦU1PHẦN 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG22.1. Khái niệm cái riêng và cái chung22.1.1. Các quan điểm phi Mácxít22.1.2. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin32.2. Mối quan hệ và sự tồn tại giữa cái chung và cái riêng42.2.1. Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng42.2.2. Sự tồn tại của Cái chung và cái riêng52.3. Ý nghĩa phương pháp luận6PHẦN 3: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀO HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN73.1. Mối quan hệ giữa bản thân và gia đình, nhà trường và xã hội73.1.1. Quan hệ giữa bản thân và gia đình.73.1.2 Quan hệ giữa bản thân với nhà trường.93.1.3. Mối quan hệ giữa bản thân với xã hội.103.2. Giải pháp nâng cao vai trò của sinh viên trong gia đình, nhà trường và xã hội113.2.1. Đối với sinh viên113.2.2. Đối với giảng viên123.2.3. Đối với nhà trường13PHẦN 4: KẾT LUẬN15TÀI LIỆU THAM KHẢO16  PHẦN 1: MỞ ĐẦUXu hướng xã hội đề cao lý tưởng sống cho “cái chung” hay “cái riêng” đều có lý do nào đó. Xã hội phương Tây dường như khuyến khích tự do cá nhân, tôn trọng ước muốn của cá nhân mỗi người, cổ vũ cho các cá nhân được dịp bày tỏ chính kiến của riêng mình, được pháp luật của quốc gia tôn trọng, bảo vệ quyền tự do cá nhân, quyền được thể hiện quan điểm dù rằng quan điểm này có là thiểu số và trái ngược hoàn toàn với phần còn lại của tập thể cộng đồng.Xã hội phương Đông với các triết lý sống kêu gọi con người phải biết kiềm chế bản thân, phải biết hy sinh vì tập thể, hy sinh quyền lợi cá nhân cho cộng đồng, cho đất nước. Một ví dụ về cái chung và cái riêng là: Nghĩa vụ quân sự là bắt buộc hay tự nguyện vẫn luôn là vấn đề tranh cãi. Cường quốc số 1 thế giới như Mỹ vẫn đang duy trì chế độ nhập ngũ vào quân đội trên tinh thần tự nguyện. Thanh niên vào quân ngũ được trả lương, học nghề, đóng bảo hiểm rủi ro, được hưởng nhiều chế độ phép ưu đãi để đi du lịch vòng quanh thế giới, tạo việc làm sau khi xuất ngũ, bù đắp cho các thiệt thòi khi phải hy sinh, cống hiến tự do cá nhân, tính mạng cho quê hương, đất nước. Cái riêng luôn được đề cao và tôn trọng dù rằng đang phục vụ cho cái chung.Một số quốc gia có nguồn nhân lực ít như Singapore, Israel, ..v.v.. lại duy trì chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc thường xuyên vì không có đủ nhân lực tham gia quân đội. Cái riêng phục vụ cái chung được xem là nghĩa vụ bắt buộc, không thể trốn tránh … Để làm rõ điều đó, tác giả đã chọn đề tài “ Quan điểm của triết học Mác Lênin về cặp phạm trù cái riêng cái chung và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào hoạt động thực tiễn của bản thân” để có cái nhìn sâu và rộng hơn về đề tài. PHẦN 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG2.1. Khái niệm cái riêng và cái chung2.1.1. Các quan điểm phi MácxítNhững nhà nghiên cứu triết học MácLenin đề cập đến có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, đó là phái duy thực và phái duy danh. Triết học MácLenin cho rằng, cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại. Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.Phái duy thựcPhái duy thực là trường phái triết học có ý kiến về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, theo phái này thì cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người. Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng. Cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời, cái riêng do cái chung sinh ra.Ví dụ: Con người là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm con người mới tồn tại mãi mãi, còn những con người cụ thể là khái niệm tạm thời vì những con người cụ thể (cá nhân) này có thể mất đi (chết đi)Phái duy danhPhái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do con người đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực. Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm. Những khái niệm cụ thể đôi khi không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu. Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa.Ví dụ: Không thể nhận thấy, nắm bắt một con người chung chung mà con người chỉ có thể được nhận thấy, nắm bắt qua những con người thực thể cụ thể, thông qua các cá nhân cụ thể.2.1.2. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác LêninCái riêng chỉ một sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ của hiện thực khách quan. ví dụ: như một nguyên tố, một thái dương hệ, một con người, một chế độ xã hội, một quá trình vận động, phát triển kinh tế hay tư tưởng của một xã hội nhất định, v.v…Cái riêng còn được hiểu là cái đơn nhất, đó là chỉ những mặt, những thuộc tính…chỉ riêng có ở trong một sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ…và không được lặp lại ở bất cứ một sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ nào khác. Ví dụ: Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, một mặt có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, nhưng mặt khác giai cấp công nhân Việt Nam lại ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam, v.v…Cái đơn nhất không chỉ là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các cái riêng, mà còn là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái chung, cái phổ biến. Ví dụ: Cái đơn nhất được thể hiện trong sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam còn là một giai cấp cụ thể và nó khác với phạm trù giai cấp và giai cấp công nhân thế giới với tính cách là cái chung, cái phổ biến.Cái chung chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau được lặp lại ở trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ. Ví dụ: Bất cứ một dạng vật chất cụ thể nào cũng có những thuộc tính chung như – tính khách quan, vận động, không gian, thời gian, phản ánh, v.v…

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

PHẦN 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG 2

2.1 Khái niệm cái riêng và cái chung 2

2.1.1 Các quan điểm phi Mác-xít 2

2.1.2 Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin 3

2.2 Mối quan hệ và sự tồn tại giữa cái chung và cái riêng 4

2.2.1 Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng 4

2.2.2 Sự tồn tại của Cái chung và cái riêng 5

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 6

PHẦN 3: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀO HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA BẢN THÂN 7

3.1 Mối quan hệ giữa bản thân và gia đình, nhà trường và xã hội 7

3.1.1 Quan hệ giữa bản thân và gia đình 7

3.1.2 Quan hệ giữa bản thân với nhà trường 9

3.1.3 Mối quan hệ giữa bản thân với xã hội 10

3.2 Giải pháp nâng cao vai trò của sinh viên trong gia đình, nhà trường và xã hội 11

3.2.1 Đối với sinh viên 11

3.2.2 Đối với giảng viên 12

3.2.3 Đối với nhà trường 13

PHẦN 4: KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Xu hướng xã hội đề cao lý tưởng sống cho “cái chung” hay “cái riêng” đều có lý do nào đó Xã hội phương Tây dường như khuyến khích tự do cá nhân, tôn trọng ước muốn của cá nhân mỗi người, cổ vũ cho các cá nhân được dịp bày tỏ chính kiến của riêng mình, được pháp luật của quốc gia tôn trọng, bảo vệ quyền tự do cá nhân, quyền được thể hiện quan điểm dù rằng quan điểm này có là thiểu số và trái ngược hoàn toàn với phần còn lại của tập thể cộng đồng

Xã hội phương Đông với các triết lý sống kêu gọi con người phải biết kiềm chế bản thân, phải biết hy sinh vì tập thể, hy sinh quyền lợi cá nhân cho cộng đồng, cho đất nước Một ví dụ về cái chung và cái riêng là: Nghĩa vụ quân sự là bắt buộc hay tự nguyện vẫn luôn là vấn đề tranh cãi Cường quốc

số 1 thế giới như Mỹ vẫn đang duy trì chế độ nhập ngũ vào quân đội trên tinh thần tự nguyện Thanh niên vào quân ngũ được trả lương, học nghề, đóng bảo hiểm rủi ro, được hưởng nhiều chế độ phép ưu đãi để đi du lịch vòng quanh thế giới, tạo việc làm sau khi xuất ngũ, bù đắp cho các thiệt thòi khi phải hy sinh, cống hiến tự do cá nhân, tính mạng cho quê hương, đất nước Cái riêng luôn được đề cao và tôn trọng dù rằng đang phục vụ cho cái chung

Một số quốc gia có nguồn nhân lực ít như Singapore, Israel, v.v lại duy trì chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc thường xuyên vì không có đủ nhân lực tham gia quân đội Cái riêng phục vụ cái chung được xem là nghĩa vụ bắt buộc, không thể trốn tránh … Để làm rõ điều đó, tác giả đã chọn đề tài “

Quan điểm của triết học Mác- Lênin về cặp phạm trù cái riêng - cái chung và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào hoạt động thực tiễn của bản thân” để có cái nhìn sâu và rộng hơn về đề

tài

Trang 3

PHẦN 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI

RIÊNG 2.1 Khái niệm cái riêng và cái chung

2.1.1 Các quan điểm phi Mác-xít

Những nhà nghiên cứu triết học Mác-Lenin đề cập đến có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa "cái riêng" và "cái chung", đó là phái duy thực và phái duy danh Triết học Mác-Lenin cho rằng, cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại

Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng

Phái duy thực

Phái duy thực là trường phái triết học có ý kiến về mối quan hệ giữa

"cái chung" và "cái riêng", theo phái này thì "cái riêng" chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có "cái chung" mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người "Cái chung" không phụ thuộc vào "cái riêng", mà còn sinh ra "cái riêng" Cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời, cái riêng

do cái chung sinh ra

Ví dụ: Con người là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm con người mới tồn tại mãi mãi, còn những con người cụ thể là khái niệm tạm thời

vì những con người cụ thể (cá nhân) này có thể mất đi (chết đi)

Phái duy danh

Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung

là những tên gọi trống rỗng, do con người đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm Những khái niệm cụ thể đôi khi không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm

Trang 4

hiểu Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa

Ví dụ: Không thể nhận thấy, nắm bắt một "con người" chung chung mà

"con người" chỉ có thể được nhận thấy, nắm bắt qua những con người thực thể cụ thể, thông qua các cá nhân cụ thể

2.1.2 Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

Cái riêng chỉ một sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ của hiện thực khách quan ví dụ: như một nguyên tố, một thái dương hệ, một con người, một chế độ xã hội, một quá trình vận động, phát triển kinh tế hay tư tưởng của một xã hội nhất định, v.v…

Cái riêng còn được hiểu là cái đơn nhất, đó là chỉ những mặt, những thuộc tính…chỉ riêng có ở trong một sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ…và không được lặp lại ở bất cứ một sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ nào khác Ví dụ: Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, một mặt

có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, nhưng mặt khác giai cấp công nhân Việt Nam lại ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam, v.v…

Cái đơn nhất không chỉ là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các cái riêng, mà còn là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái chung, cái phổ biến Ví dụ: Cái đơn nhất được thể hiện trong sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam còn là một giai cấp cụ thể và nó khác với phạm trù giai cấp và giai cấp công nhân thế giới với tính cách là cái chung, cái phổ biến

Cái chung chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau được lặp lại ở trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ Ví dụ: Bất cứ một dạng vật chất cụ thể nào cũng có những thuộc tính chung như – tính khách quan, vận động, không gian, thời gian, phản ánh, v.v…

Trang 5

2.2 Mối quan hệ và sự tồn tại giữa cái chung và cái riêng

2.2.1 Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng

Phép biện chứng duy vật của Triết học Marx-Lenin cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau; phạm trù cái riêng được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định, còn phạm trù cái chung được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

Trong tác phẩm Bút ký Triết học, Lenin đã viết rằng:

Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung Bất cứ cái riêng [nào cũng] là cái chung Bất cứ cái chung nào cũng là [một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất] của cái riêng Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung

Cụ thể là:

Cái chung chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua cái riêng Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng, cái chung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng

Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung, sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung

Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc

Trang 6

hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng

Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại

ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất

Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến Ngược lại cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định

Nói chung việc giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng không hề đơn giản, Lenin đã cho rằng:

“Con người bị rối lên chính là ở trong phép biện chứng của cái riêng và cái chung.”— Lenin

2.2.2 Sự tồn tại của Cái chung và cái riêng

Ăngghen người đã phát biểu quan điểm về sự tồn tại của cái chung và cái riêng

Triết học Mác-Lenin đặt ra và giải quyết câu hỏi: Cái riêng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian có hạn, vậy thì cái chung có tồn tại vĩnh viễn, vô hạn trong thời gian không?

Trang 7

Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại

Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học Mác-Lenin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan

hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:

Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình

Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng

Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định

"cái đơn nhất" có thể biến thành "cái chung" và ngược lại "cái chung" có thể biến thành "cái đơn nhất", nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung" và "cái chung" bất lợi trở thành "cái đơn nhất"

Trong Bút ký Triết học, Lenin viết:

"Chúng ta cũng tin chắc rằng, qua tất cả mọi sự chuyển hóa của nó, vật chất vẫn cứ vĩnh viễn như thế, rằng không bao giờ một thuộc tính của nó lại

Trang 8

có thể mất đi, và vì thế, nếu như một ngày kia nó phải hủy diệt mất đóa hoa rực rỡ nhất của nó trên trái đất, tức là cái tinh thần đang tư duy thì nhất định

nó lại phải tái sinh ra cái tinh thần ấy ở một nơi nào khác và trong một thời gian khác.”

Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự giác Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và mất đi hẳn tính nguyên tắc

PHẦN 3: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀO HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA

BẢN THÂN 3.1 Mối quan hệ giữa bản thân và gia đình, nhà trường và xã hội

3.1.1 Quan hệ giữa bản thân và gia đình.

Trong bất kỳ một mối quan hệ nào cũng đều chứa đựng những nét chung và nét riêng biệt vậy nên trước tiên xét về mối quan hệ giữa bản thân

và gia đình:

Gia đình là tổ ấm là nơi chở che là bến bờ vững chắc cho mỗi cá nhân, mỗi con người Ngoài ra, nơi đây còn là một tổ hợp của các chỉnh thể có các mối liên hệ với nhau như vợchồng, cha mẹcon, cháu –ông,bà họ sống hạnh phúc, đầm ấm và chan hòa Ở đó tình thương được tồn tại, được vun đắp và gieo trồng trong mỗi con người

Còn bản thân là một cái riêng mang những đặc tính riêng biệt về tính cách, học vấn, nhận thức, cách giao tiếp, trong gia đình Cái riêng này tạo nên sự khác biệt cho mỗi thành viên Cụ thể hóa một chút ta thấy mỗi con

Trang 9

người sinh ra đểu có họ tên, ngày tháng năm sinh, có các đặc điểm nhận dạng dấu vân tay,vân tai đặc điểm di truyền như ADN, tính cách: nhu mì, hiền lành tất cả những đăc điểm đó tạo nên sự khác biệt giữa các thành viên với nhau cũng như giữa những con ngưới với con người trong một xã hội Còn đối với gia đình, khi ta nhắc đến 2 từ đó thôi thì ta cũng có thể hình dung ra được những đặc điểm chung nhất để tạo nên một gia đình đó là mỗi thành viên trong gia đình đó có mối liên hệ với nhau về mặt huyết thống hay có mối liên hệ vể mặt luật pháp: ông, bà, cha,me, con ,anh chị em Tất cả họ cùng sống trong một mái nhà cùng lao động, cùng sinh hoạt, cùng xây đắp nên một gia đình hoàn chỉnh hơn Và gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội

Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá nhân được những người thầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng như cách ứng xử giữa các thành viên gia đình (cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý, vừa nghiêm khắc và bao dung với con cháu), giữa gia đình với

họ hàng, với láng giềng, với cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối), qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Trong gia đình, người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau…Ở đó, mỗi người cảm nhận được sự gần gũi, thân thương: từ khoảng sân, mái nhà, chiếc giường, … đến những quan hệ họ hàng thân thiết

Từ đó khi đi phân tích mối quan hệ giữa bản thân với gia đình ta nên nghĩ ngay đến sự tác động qua lại giữa chúng Bản thân là một cái riêng, chứa những cái riêng góp phần vào cái chung “gia đình” để tạo nên cái riêng

Trang 10

biệt cho cái chung đó Và cũng từ những cái chung căn bản đó chúng ta gần gũi, gắn kết, có tinh thần trách nhiệm hơn đối với gia đình tuy nhiên không hề đánh mất đi cái riêng, sở trường của bản thân bởi chính mái ấm đó đã tạo điều kiện cho cái riêng phát triển mạnh mẽ hơn, do được đáp ứng chăm sóc đầy

đủ các nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần

3.1.2 Quan hệ giữa bản thân với nhà trường.

Đối với triết học Mác –Lênin, mối quan hệ giữa mối chúng ta sinh viên với nhà trường là một mối quan hệ gắn bó mật thiết, liên hệ với nhau Xét trong nền gíao dục nước nhà, nhà trường là một cái riêng Mỗi nhà trường đều

có chung những đặc điểm như đều có tên trường, có đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên, có thiết bị dụng cụ phục vụ học tập, có nội quy, quy định của nhà trường… đó chính là cái chung mà mỗi nhà trường đều có Tên cụ thể mỗi trường, mỗi sinh viên, học sinh hay mỗi phương pháp dạy học riêng của trường… là các cái đơn nhất, là đặc trưng của một trường mà không trường nào có cả Cái đơn nhất của mỗi trường tạo nên cái riêng biệt, đặ trưng của trưng của trường đó, đặc điểm để phân biệt giữa các trường với nhau

Nhà trường và mỗi bản thân chúng ta đều tồn tại một cách khách quan, trong đó sinh viên tồn tại trong nhà trường, thể hiện năng lực nhận thức của bản thân qua các phương pháp học tập khác nhau Ta có thể thấy được nhà trường là cái toàn bộ, còn giáo viên, sinh viên, là một bộ phận khẳng định và thể hiện nhà trường, nó sâu sắc bản chất hơn nhà trường Trong nhà trường mỗi sinh viên là một cái riêng, mỗi sinh viên lại có một phương pháp học tập khác nhau tạo nên cái đơn nhất cho nhà trường nhưng khi phương pháp học tập đó có hiệu quả cao và được chia sẻ rộng rãi cho nhiều người, điều đó sẽ tạo nên cái chung giữa các sinh viên Từ đó ta thấy được cái đơn nhất đã chuyển hóa thành cái chung trong điều kiện nhất định

Ngày đăng: 12/02/2023, 13:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Triết học Mác - Lê nin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lê nin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2006
2. Giáo trình Triết học Mác – Lê nin, Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lê nin
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2004
3. Nhập môn Marx, Rius (Eduardo del Rio), người dịch: Nguyễn Hà, hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Marx
Tác giả: Rius (Eduardo del Rio)
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2006
4. Một số vấn đề Triết học Mác – Lenin: Lý luận và thực tiễn (tái bản có bổ sung), Lê Doãn Tá, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Triết học Mác – Lenin: Lý luận và thực tiễn (tái bản có bổ sung)
Tác giả: Lê Doãn Tá
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2003
5. Triết học Mác – Lenin (tập II), Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1994 (xuất bản lần thứ ba) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác – Lenin (tập II)
Nhà XB: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 1994
6. Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị-hành chính: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014, trang 15-16, trang 18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị-hành chính: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w