NGÂN HÀNG CÂU HỎI THI MÔN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN SỰ NGÂN HÀNG CÂU HỎI THI MÔN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN SỰ CÂU 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ Quản trị nhân sự giữ một vai trò đặc biệt quan trọng và ngày.
Trang 1NGÂN HÀNG CÂU HỎI THI MÔN QUẢN TRỊ
NGUỒN NHÂN SỰ
CÂU 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ
Quản trị nhân sự giữ một vai trò đặc biệt quan trọng
và ngày càng được các nhà quản trị quan tâm nghiên cứu và phân tích, xem đây là một chức năng cốt lõi (Essential management function), và quan trọng nhất của tiến trình quản trị
- Việc nghiên cứu quản trị nhân sự là hết sức cần thiết nó được thể hiện ở các điểm sau:
- Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nưóc do đó đặc trưng nổi bật là tính cạnh tranh Các tổ chức quản trị nói chung và kinh doanh nói riêng buộc phải cải thiện tổ chức, trong đó yếu tố con người là quyết định Việc tìm đúng người để giao đúng việc hay đúng cương vị đang là vấn đề quan tâm đối với mọi tổ chức hiện nay
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại cùng với
sự phát triển của nền kinh tế "mở" buộc các nhà quản trị phải biết thích ứng, do đó việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo điều động nhân sự trong bộ máy tổ chức như thế nào nhằm đạt hiệu quả cao đang được mọi giới quan tâm
Trang 2- Nghiên cứu quản trị nhân sự giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, biết đặt câu hỏi, biết cách lắng nghe, biết tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, biết cách nhạy cảm với nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên một cách tốt nhất, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc và tránh được các sai lầm trong việc tuyển chọn, sử dụng lao động, nâng cao chất lượng công việc, nâng cao hiệu quả tổ chức
Giáo sư tiến sĩ Letter C Thurow, nhà kinh tế và là nhà quản trị học thuộc viện công nghệ kỹ thuật Matsachuset cho rằng:" Điều quyết định cho sự tồn tại và phát triển của công ty là những con người mà công ty đó có Đó phải là những người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việc có hiệu qủa"
CÂU 2: TẠI SAO NÓI QTNS VUA LÀ KHOA HỌC VỪA LÀ NGHỆ THUẬT
Để trở thành một khoa học thì bất cứ lĩnh vực nào cũng phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:
- Phải trải qua quá trình tìm hiểu, nhận biết tức là qua quá trình tích lũy kiến thức
- Những hiểu biết (kiến thức) phải có tính hệ thống tính quy luật, phản ánh thực tế, được thực tế kiểm nghiệm và chấp nhận
Trang 3Như vậy, ta thấy tuy rằng khoa học quản trị nhân sự
ra đời muộn hơn một số khoa học khác, nhưng những năm gần đây khoa học này phát triển một cách nhanh chóng, được nhiều nhà quản lý khoa học nghiên cứu, tìm hiểu và đúc kết thành nhiều trường phái được thực tiễn chấp nhận và áp dụng Ngày nay, người ta
đã viết thành sách giáo khoa để giảng dạy, hoặc chuyên đề đăng trên báo, chủ đề tuyên truyền phổ biến và được áp dụng trong thực tế sản xuất, cũng như nhiều lĩnh vực khác Vì vậy, quản trị nhân sự đã thực sự trở thành một khoa học
Những biểu hiện tính nghệ thuật của quản trị nhân sự
Quản trị nhân sự liên quan đến con người, vì con người là đối tượng của quản lý, mà trong quá khứ hiện tại cũng như tương lai con người luôn luôn thay đổi và phát triển, con người có được kiến thức từ giáo dục, có kinh nghiệm từ thực tế, hoặc từ quan sát thực
tế
Con người có văn hóa, có kiến thức, có kinh nghiệm thực tế đó không chịu đứng im để nhìn điều kiện hoạt động, kết quả hoạt động đó của mình lặp đi lặp lại như củ hoặc xấu đi, mà luôn luôn phấn đấu vươn lên những điều kiện tốt đẹp hơn Không ngừng sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, cải tiến công nghệ, đấu tranh cho những quan hệ tự do bình đẳng giữa con người với
Trang 4con người để làm cho sản xuất ngày càng hiệu quả đời sống ngày càng được nâng cao
Người quản lý tiên tiến phải tính đến những biến đổi về chất của đối tượng quản lý, đồng thời cũng tính đến những điều kiện khách quan Bằng trí tưởng tượng sáng tạo, có những dự đoán chính xác và đúc kết thành lý luận, kinh nghiệm để áp dụng kiến thức
đó Mọi biến đổi của các điều kiện, yếu tố nói trên đòi hỏi người quản lý phải có thay đổi trong tư duy, tìm những hình thức, phương pháp cơ chế quản lý mới nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản trị nhân sự Tất
cả điều đó không chỉ là khoa học mà còn là một nghệ thuật cao
CÂU 3: HÃY NÊU ĐỊNH NGHĨA PHÂN TÍCH CÔNG VIỆC?
Phân tích công việc là một tiến trình xác định một cách có hệ thống các nghiệp vụ và kỹ năng cần thiết
để thực hiện các công việc trong một tổ chức
Phân tích công việc là công việc đầu tiên cần phải biết của mọi nhà quản trị trong lĩnh vực quản trị nhân sự Phân tích công việc mở đầu cho vấn đề tuyển dụng nhân sự là cơ sở cho việc bố trí nhân sự phù hợp Một nhà quản trị không thể tuyển chọn đúng nhân sự, đặt đúng người vào đúng việc nếu không biết phân tích công việc Do đó, phân tích
Trang 5công việc là một trong những công cụ quản trị nhân
sự cơ bản nhất
Câu 4 : Hoạch định TNNS là gì? Tại sao phải dự báo TNNS?
Hoạch định nguồn nhân sự là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân sự, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân sự với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc
có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Tại sao phải dự báo TNNS?
Doanh nghiệp cần dự báo TNNS vì những lợi ích sau
- Giúp cho các doanh nghiệp nắm được thực chất
đội ngũ người làm việc và trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, các tiềm năng cần được khai thác để có thể năng cao tốc độ phát triển sản xuất của doanh nghiệp
- Giúp cho doanh nghiệp dự kiến được số người cần được bổ sung, do yêu cầu của sản xuất, và số lượng lao động cần được thay thế do các nguyên nhân xã hội để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
- Giúp cho các doanh nghiệp xác định được số tiền công để trả cho người lao động và sử dụng nó một cách có hiệu quả
Trang 6Câu 5: Bạn hãy mô tả tiến trình hoạch định TNNS?
Tiến trình hoạch định nguồn nhân sự cần thực hiện một cách tuần tự theo bốn bước
Bước đầu tiên là dự báo về nhu cầu và dự báo khả năng sẵn có về TNNS Khi dự báo các nhà quản trị phải dựa vào nhiều yếu tố khác nhau, phải xác định số lượng nhân viên cũng như các kỹ năng cần thiết theo nhu cầu Sau khi phân tích thì nhà quản trị sẽ thấy dư thừa hay khiếm dụng nhân viên Bước thứ hai là đề ra các chính sách và các chương trình cụ thể để cấp trên xét duyệt
Bước ba, nhà quản trị TNNS sẽ phối hợp với nhà quản trị của các bộ phận khác thực hiện các chương trình cụ thể Nếu khiếm dụng nhân viên thì tiến hành thuyên chuyển, thăng chức hay giáng chức Nếu thiếu thì tiến hành tuyển dụng từ bên ngoài Nếu dư thừa,
có thể giảm bớt giờ làm việc, hạn chế việc tuyển dụng lại, cho về hưu sớm hoặc cho nghỉ tạm thời
Bước 4: nhà quản trị phải kiểm tra và đánh giá các
kế hoạch
CÂU 6: TRÌNH BÀY HÌNH THỨC TRẢ CÔNG THEO SẢN PHẨM VÀ HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG THEO THỜI GIAN
Trong hình thức trả công theo thời gian, tiền công của công nhân được tính toán dựa trên cơ sở mức tiền
Trang 7công đã được xác định cho công việc và số đơn vị thời gian (giờ hoặc ngày) thực tế làm việc, với điều kiện họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã được xây dựng trước nếu muốn tiếp tục được nhận mức tiền công cho công việc đó
Tiền công trả theo thời gian thường được áp dụng cho các công việc sản xuất nhưng khó định mức được cụ thể; hoặc các công việc đòi hỏi chất lượng cao, các công việc mà năng suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào máy móc, thiết bị hay các hoạt động tạm thời, sản xuất thử
Ưu điểm của hệ thống này là dễ hiểu, dễ quản lý, tạo điều kiện cho cả người quản lý và công nhân có thể tính toán tiền công một cách dễ dàng Các mức thời gian được sử dụng cũng như các ghi chép về số lượng sản phẩm sản xuất thực tế của các cá nhân chỉ
là để nhằm mục đích kiểm tra, chứ không dùng để tính toán trực tiếp lượng tiền công Nhược điểm chủ yếu của hình thức trả công theo thời gian là tiền công
mà công nhân nhận đươc không lien quan trực tiếp đến sự đóng góp lao động của họ trong một chu kỳ thời gian cụ thể Vì thế, sự khuyến khích thực hiện công việc dựa trên những đòi hỏi tối thiểu của công việc cần phải được thực hiện bởi những biện pháp tạo động lực khác ngoài các khuyến khích tài chính trực tiếp Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức trả công theo thời gian có thể được khắc phục nhờ chế độ thưởng
Trang 8HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG THEO SẢN PHẨM
Trong hình thức này, tiền công của người lao động sẽ phụ thuộc trực tiếp vào số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra và đơn giá trả công cho một đơn vị sản phẩm
Công thức: TC = ĐG x Qtt
Trong đó:
TC: Tiền công
ĐG: Đơn giá
Qtt: Số lượng sản phẩm thực tế
Đơn giá được tính bằng cách chia mức lương giờ của công việc cho số đơn vị sản phẩm định mức mà người lao động có nghĩa vụ phải sản xuất trong một giìơ hoặc nhân mức lương giờ của công việc với số giờ định mức để sản xuất được một đơn vị sản phẩm
Các mức lao động này thể hiện khối lượng sản phẩm mà người lao động cần sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (hay lượng thời gian được phép hao phí cho một đơn vị sản phẩm) với nhịp độ làm việc bình thường và thường được xác định bằng các phương pháp nghiên cứu thời gian (chụp ảnh ngày làm việc và bấm giờ làm việc) và nghiên cứu chuyển động
Ưu điểm của trả công theo sản phẩm là có tác dụng khuyến khích tài chính đối với người lao động, thúc đẩy họ nâng cao năng suất lao động, đặc biệt đối với những người có mong muốn mạnh mẽ nâng cao
Trang 9thu nhập, vì lượng tiền công mà họ nhận được phụ thuộc trực tiếp vào lượng sản phẩm của họ Việc tính toán tiền công cũng đơn giản và có thể đượcgiải thích
dễ dàng đối với người lao động Tuy nhiên, trả công theo sản phẩm có thể dẫ tới tình trạng lao động ít quan tâm đến đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và sử dụng hợp lý máy móc, thiết bị Nhiều trường hợp người lao động không muốn làm những công việc đòi hỏi trình độ lành nghề cao vì khó vượt mức lao động Trong những giờ ngừng việc do lý do về phía doanh nghiệp như: dây chuyền bị ngưng trệ, thiếu nguyên vật liệu, hoặc nguyên vật liệu không đảm bảo chất lượng, máy móc thiết bị hỏng, mất điện…người lao động được hưởng tiền công theo thời gian hoặc một lượng tiền bằng với mức tiền công sản phẩ trung bình mà đáng ra họ có thể kiếm được trong khoảng thời gian đó
Do các nhược điểm đó nên tiền công theo sản phẩm chỉ phù hợp với những công việc mà ở đó dây chuyền sản xuất đảm bảo được liên tục, các công việc
có thể định mức được, có tính lặp đi lặp lại và không đòi hỏi trình độ lành nghề cao, năng suất lao động không phụ thuộc chủ yếu vào sự nỗ lực của người lao động và việc tăng năng suất lao động không gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng của sản phẩm
Để đảm bảo tác dụng khuyến khích đối với người lao động và hiệu quả kinh tế đối với doanh
Trang 10nghiệp, khi tiến hành trả công theo sản phẩm cần có những điều kiện cơ bản sau:
* Phải xây dựng được các mức lao động có căn
cứ khoa học để tạo điều kiện tính toán các đơn giá trả công chính xác
* Tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc hạn chế tối
đa thời gian ngừng việc, tạo điều kiện để người lao động hoàn thành và hoàn thành vượt mức lao động
* Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm được sản xuất ra vì thu nhập của người lao động phụ thuộc vào số lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn chắt lượng đã sản xuất ra và đơn giá
* Làm tốt công tác giáo dục ý thức trách nhiệm
và đánh giá thực hiện công việc đối với người lao động để tránh khuynh hướng chỉ chú ý tới số lượng
mà không chú ý tới chất lượng sản phẩm, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị
CÂU 7: HÃY TRÌNH BÀY VAI TRÒ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ TRONG VIỆC TẠO ĐỘNG LƯỢC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
- Tạo môi trường làm việc hợp lý
- Khen thưởng cho nhân viên nếu họ xứng đáng
- Nâng cao giá trị thực của CV
- Cập nhật thông tin cho nhân viên
- Phân công CV một cách công bằng
- Làm cho CV trở nên vui nhộn hơn là sự căng thăng
Trang 11- Quan tâm đến điều kiện làm việc của NV, tạo cơ hội phát triển cho nhân viên
- Tránh sự đe dọa về sự ổn định trong CV
- Nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụ
Những khó khăn có thể là:
DN đang cần thu hẹp quy mô – phải sa thải nhân viên hoặc Tương lai của DN mờ mịt
- Cố gắng tìm kiếm thông tin và đưa ra một bức tranh của Cty càng rõ ràng càng tốt, giảm tối đa những nghi ngờ, băn khoăn
- Cố gắng lên kế hoạch cho tương lai
- Giao việc có ý nghĩa cho nhân viên
- Chủ động nói chuyện với nhân viên
- Chia sẻ với họ và tạo không khí thân thiện