1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Những trường hợp được truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 123 bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) và thực tiễn áp dụng

22 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những trường hợp được truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 123 bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) và thực tiễn áp dụng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Khắc Hải
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 454,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC MÔN LUẬT HÌNH SỰ 2 Đề tài Những trường hợp được truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC

MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 2

Đề tài: Những trường hợp được truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều

123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) và thực tiễn áp dụng

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Khắc Hải

Trang 2

MỤC LỤC

I Mở đầu 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Phương pháp nghiên cứu 4

4 Nội dung bài nghiên cứu 4

II Nội dung bài nghiên cứu 5

Chương 1: Khái quát chung về tội phạm, tội phạm giết người 5

1.1 Khái niệm tội phạm, nhóm các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người? 5

1.2 Tội giết người là gì? 5

1.3 “Tội giết người” – “tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác” dẫn đến hậu quả chết người? 6

Chương 2: Phân tích các tình tiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 123, Bộ luật Hình sự 2015 8

2.1 Cấu thành tội phạm tội giết người 8

2.2 Các tình tiết truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 123 10

Chương 3: Đánh giá chung về tội giết người – Điều 123 BLHS 2015 19

4.1 Ý nghĩa và vai trò của truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người 19

4.2 Khoản 1 điều 123 lại có chế tài truy cứu trách nhiệm pháp lý cao nhất 20 III Kết luận 21

IV Danh mục tài liệu tham khảo 22

Trang 3

sự gia tăng các tội phạm đáng báo động Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm diễn ra một cách phức tạp, số lượng các vụ phạm tội tăng một cách đột biến Đồng thời tính chất của tội phạm biến đổi theo chiều hướng cực đoan như phạm tội có tổ chức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, Trong nhận thức mỗi con người, quyền được sống là quyền thiêng liêng, là quyền bất khả xâm phạm mà mỗi con người có quyền hưởng được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và pháp luật Hình sự Tuy nhiên bất chấp quy định pháp luật, vẫn còn tồn tại những đối tượng thực hiện hành vi giết người man rợ mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng – đó là hồi chuông báo động về sự tàn ác, bạo lực cũng như thể hiện rõ bản chất xem thường pháp luật của người phạm tội Bởi lẽ vậy, Nhà nước ta đã và đang hoàn thiện những chế định pháp lý, nghiên cứu những tình tiết truy cứu trách nhiệm hình sự; song song với no là những chế tài hình phạt cao nhất với “tội giết người” được quy định trong khoản 1, Điều 123, Bộ luật Hình sự 2015 Theo đó, Điều 123 liệt kê các tình tiết truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người một cách chi tiết, rõ ràng; các mức hình phạt nghiêm khắc kèm theo nhằm nghiêm trị những hành vi thú tính dã man của người phạm tội Đồng thời còn là biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi giết người xảy ra, để từ đó giáo dục cho mỗi người dân cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh, văn minh

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm mục đích phân tích làm rõ các tình tiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong tội giết người

3 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng kết hợp các phương pháp tổng hợp,thống kê, phân tích, so sánh

4 Nội dung bài nghiên cứu

Chương 1: Khái quát chung về tội phạm, tội phạm giết người

Chương 2: Phân tích các tình tiết truy cứu trách nhiệm hình sự tội giết người Chương 3: Vai trò và ý nghĩa của việc truy cứu trách nhiệm hình sự các tình tiết trong tội giết người? Tại sao khoản 1 điều 123 lại truy cứ trách nhiệm hình sự cao nhất so với các tội khác?

Trang 5

II Nội dung bài nghiên cứu

Chương 1: Khái quát chung về tội phạm, tội phạm giết người

1.1 Khái niệm tội phạm, nhóm các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người?

- Tội phạm: theo điều 8, Bộ luật hình sự 2015, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn

xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự

- Nhóm các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự và nhân phẩm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận

1.2 Tội giết người là gì?

Tội giết người tại điều 123, Bộ luật Hình sự 2015 nằm trong chương XIV, thuộc chương “các tội xâm phạm tính mạng ,sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật Hành vi tước đoạt tính mạng người khác được hiểu là hành vi

có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ

Trang 6

1.3 “Tội giết người” – “tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác” dẫn đến hậu quả chết người?

Giữa “tội giết người” và “tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác” được quy định tại điều 123 và điều 134 của Bộ luật Hình

sự 2015, có những điểm cần phải lưu ý, cân nhắc

Thứ nhất là về mục đích phạm tội, giả sử trong trường hợp vụ án đồng phạm, người chủ mưu chỉ yêu cầu người được thuê thực hiện hành vi gây thương tích cho nạn nhân, không nhằm mục đích tước đoạt mạng sống của họ, có thể là gây thương tổn về tay chân hoặc mặt mũi, không đồng thời gây thương tổn ở những vùng trọng yếu của cơ thể có khả năng dẫn đết chết người; người thực hành cũng làm theo đúng mệnh lệnh của người chủ mưu, trong trường hợp này được quy về tội “cố ý gây thương tích”, nếu chuyện ngoài ý muốn xảy ra dẫn đến cái chết của nạn nhân thì người chủ mưu phải chịu trách nhiệm hình sự tội “cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng là “gây thương tích dẫn đến chết người” Mặt khác, trong trường hợp chứng minh được rằng, người chủ mưu với ý thức chủ quan tước đoạt mạng sống của người khác, tuy nếu như không xảy ra

hậu quả chết người thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội “giết người”

Thứ hai là yếu tố lỗi, lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả do hành

vi đó gây ra Trong trường hợp phạm tội giết người với lỗi cố ý gây hậu quả chết người, người phạm tội biết rõ hành vi nguy hiểm của mình có thể dẫn đến chết người, và họ mong muốn cho hậu quả đó phải xảy ra hoặc tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng lại có ý thức bỏ mặc Trong trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nếu có xảy ra hậu quả chết người thì hậu quả đó nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội, họ chỉ chịu trách nhiệm về tội “cố ý gây thương tích” Mặt khác, phạm tội chưa đạt tội giết người là họ mong muốn hậu quả xảy ra, nhưng việc nạn nhân không chết là việc nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ (trái ngược với ý thức chủ quan của tội

cố ý gây thương tích)

Trang 7

Thứ ba là vị trí tác động, hung khí, cường độ và mức độ tấn công “Tội giết người” sẽ thực hiện bằng những hành vi sử dụng dao, súng, kéo, có tính cường

độ mạnh tác động vào những vị trí trọng yếu trên cơ thể như vùng đầu, vùng ngực, vùng bụng, khiến nạn nhân có thể chết Còn đối với “tội cố ý gây thương tích” là những hành vi mang tính cường độ nhẹ hơn như tát, đấm, vào tay, chân, mặt,

không nhằm mục đích dẫn đến cái chết cho nạn nhân

Trang 8

Chương 2: Phân tích các tình tiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 123, Bộ luật Hình sự 2015

2.1 Cấu thành tội phạm tội giết người

2.1.1 Chủ quan

- Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý Lỗi cố ý ở đây có thể là lỗi

cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp được quy định trong điều 10, BLHS 2015

+ Lỗi cố ý trực tiếp: người phạm tội nhận thức rõ được hành vi nguy hiểm của mình có thể dẫn đến hậu quả chết người nhưng vì mong muốn hậu quả đó xảy

ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội (chẳng hạn như dùng dao đâm vào vùng

ngực nạn nhân đến chết)

+ Lỗi cố ý gián tiếp: người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, nhưng để đạt được mục đích của mình, người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Biết nạn nhân không biết bơi, nhưng vẫn cố tình đẩy họ

rơi xuống sông, hồ và để mặc cho họ chết đuối)

- Trong trường hợp hậu quả chết người chưa xảy ra, việc xác định lỗi này

có ý nghĩa rất quan trọng Cụ thể là:

+ Nếu lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải

chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt;

+ Nếu lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu có thương tích xảy ra) hay các tội phạm khác mà người phạm tội đã thực hiện với ý thức chủ quan

không mong muốn hậu quả xảy ra

2.1.2 Chủ thể

Chủ thể tội này là bất kì người nào có năng lực trách nhiệm hình sự

Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể

Trang 9

của tội giết người Theo quy định điều 12 của Bộ luật hình sự 2015, thì người từ

đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự

về mọi tội phạm

2.1.3 Khách thể

Hành vi nêu trên đã xâm phạm đến tính mạng của người khác (quyền được bảo vệ về tính mạng) Khách thể của tội giết người là quyền bất khả xâm phạm tính mạng của con người được pháp luật Hình sự bảo vệ

2.1.4 Khách quan

Tội giết người là tội cấu thành vật chất Được thể hiện qua:

- Hành vi phạm tội: bao gồm

+ Hành động trực tiếp: sử dụng các hành vi như đấm, đá, bóp cổ, bịt miệng, hay sử dụng các phương tiện vũ khí, đồ vật như dao, kéo, súng, mã tấu, lên người nạn nhân (ví dụ: dùng dao cứa cổ người khác đến chết)

+ Hành động gián tiếp: là việc người có nhận thức xúi giục người không có nhận thức thực hiện hành vi giết người Trong trường hợp này, hành vi xúi giục

là hành vi giết người và người xúi giục được xem là người tiến hành giết người

+ Không hành động: là những hành vi của người phạm tội có nghĩa vụ phải làm, phải thực hiện những hành động, việc làm nhất định để đảm bảo an toàn cho

an toàn tính mạng cho người khác, nhưng họ lại không làm, không thực hiện dẫn đến gây cái chết cho người khác (ví dụ: A chém B gục xuống đất sau đó bỏ chạy,

C thấy được cảnh B đang nguy hiểm đến tính mạng nhưng vì có mâu thuẫn với

B, mặc dù có thể cứu nhưng C lại có bỏ mặc B đến chết)

- Hậu quả do hành vi phạm tội gây ra: hậu quả hành vi giết người là thiệt hại về tính mạng cho người khác Vì tội giết người là tội có cấu thành về vật chất nên thời điểm hoàn thành của tội phạm này là thời điểm nạn nhân đã chết - giai đoạn sự sống của con người không còn và cũng không có khả năng hồi phục

Trang 10

- Mối mối quan hệ nhân quả giữa hành vi-hậu quả do hành vi đó gây ra: hành vi khách quan của tội giết người được coi là nguyên nhân chính dẫn đến hậu quả chết người xảy ra nếu thỏa mãu 03 điều kiện:

+ Hành vi giết người phải diễn ra trước khi hậu quả giết người xảy ra; + Hành vi giết người phải chứa đựng khả năng thực tế cao làm phát sinh hậu quả chết người

+ Hậu quả của việc chết người phát sinh trực tiếp từ chính hành vi giết người

2.1.5 Hình phạt

Người phạm tội thực hiện các hành vi được quy định theo khoản 1, điều

123, Bộ luật Hình sự 2015 thì bị phạt từ từ 12 đén 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

2.2 Các tình tiết truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 123

2.2.1 Giết 2 người trở lên (điểm a khoản 1 Điều 123)

Giết 2 người trở lên là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng từ hai người trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nhiều người chết xảy ra

Bộ luật hình sự đề cập đến vấn đề “giết 2 người trở lên”, có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn cãi về vấn đề này, có ý kiến cho rằng: “giết 2 người trở lên tức là phải có hậu quả xảy ra là nhiều người chết, ít nhất là 2 người Nếu chỉ chết 1 người, thì đó lại không được xem là trường hợp giết 2 người trở lên” Đứng

từ góc độ pháp lý, chúng ta nhận thấy đó là một quan điểm không có cơ sở pháp

lý Thực tiễn cho thấy, có trường hợp thậm chí không xảy ra hậu quả chết 1 người nào vẫn được kết vào tội giết người với tình tiết “giết 2 người trở lên”- giết người chưa đạt ví dụ thực tiễn: A mâu thuẫn với với gia đình B, nên có ý định giết cả nhà B Nhân lúc thấy vợ anh B đang đi chợ mua đồ ăn, A lẻn vào nhà và bỏ thuốc diệt chuột vào nồi đang nấu cơm Hậu quả, gia đình B bị ngộ độc, nhưng do kêu cứu kịp thời nên bảo toàn được mạng sống của cả gia đình Trong trường hợp này,

Trang 11

anh A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, với tình tiết tăng nặng “giết

2 người trở lên”

Trường hợp người phạm tội thực hiện tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp, tức người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng có ý thức bỏ mặc để cho hậu quả đó xảy ra, thì phải có hai người chết trở lên mới được kết vào tội giết nhiều người Ví dụ: A là người phụ trách tổ chức an toàn nơi giải trí mạo hiểm, biết dây đai an toàn có vấn đề trục trặc, nếu vận hành thì sẽ gây ra hậu quả khôn lường, nhưng A vẫn bỏ mặc cho công trình hoạt động bình thường, kết quả đoàn người trong khi đang chơi trò đu quay thì đứt dây đai an toàn, hậu quả chết nhiều người

Trường hợp tuy hậu quả chết 2 người nhưng không thuộc vào tội “giết 2 người trở lên” Trường hợp 1: nếu có hai người chết, nhưng lại có một người chết

do lỗi vô ý của người phạm tội ("Giết người" và "vô ý làm chết người") Trường hợp 2: nếu có hai người chết, nhưng chỉ có một người thuộc trường hợp quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự còn người kia lại thuộc trường hợp “giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn cần thiết khi giữ người phạm tội” hay trường hợp “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

2.2.2 Giết người dưới 16 tuổi (điểm b khoản 1 Điều 123)

Giết người dưới 16 tuổi là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của trẻ em (theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì người dưới 16 tuổi là trẻ em.)

Trong trường hợp phạm tội giết người thuộc tình tiết “giết người dưới 16 tuổi”, cơ quan tiến hành tố tụng phải chú ý đến việc xác định độ tuổi của nạn nhân: phải có giấy khai để xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi (trẻ em); hoặc trong trường hợp không có giấy khai sinh, thì phải có các tài liệu liên quan để chứng minh nạn nhân là trẻ em Trong thời gian gần đây, bắt cóc-hiếp dâm-sát hại trẻ em

Ngày đăng: 12/02/2023, 08:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w