MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 6 1 1 Khái quát về thẩm quyền của Tòa án 6 1 2 Tranh[.]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
1.2 Tranh chấp kinh doanh thương mại và thẩm quyền giải quyết của
Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 12
1.2.2 Vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 171.3 Pháp luật một số nước về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH
2.1 Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về
Trang 22.1.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ 392.1.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn 412.2 Thực tiễn áp dụng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội 432.2.1 Khái quát chung về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội 432.2.2 Đánh giá chung về tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại thông qua Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội 462.2.3 Những vướng mắc trong quy định của pháp luật 48
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA
ÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
3.1 Phương hướng và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về thẩm
quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 563.1.1 Đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cải
cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam 563.1.2 Đảm bảo được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 583.1.3 Đảm bảo sự đồng bộ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng
nhằm đảm bảo hiệu lực của pháp luật tố tụng trong giải quyết
3.3 Các giải pháp tăng cường khả năng áp dụng pháp luật 64
Trang 3TÀI L IỆU THAM KHẢO 73
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTD : Bộ luật Tố tụng dân sự
KDTM : Kinh doanh thương mại
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TCKDTM : Tranh chấp kinh doanh, thương mạiVIAC : Trung tâm Trọng tài quốc tế
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Tình hình thụ lý và giải quyết các loại vụ án nói chung ở cấp
sơ thẩm của ngành Tòa án Hà Nội từ năm 2013 đến 2017 462.2 Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp trong KDTM ở
cấp sơ thẩm của ngành Tòa án Hà Nội từ 2013 đến 2017 46
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển đặc biệt khi nước ta đã gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các quan hệ kinh doanh, thương mại(KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo sắc thái mới.Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinhdoanh, thương mại (TCKDTM) ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn
Đáp ứng yêu cầu giải quyết các TCKDTM của cá nhân, tổ chức trong nềnkinh tế thực tiễn đã hình thành nhiều phương thức giải quyết TCKDTM như:thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tài, giải quyết theo thủ tục tưpháp Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết TCKDTMbằng Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợiích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hòa giải Tuynhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án vẫn còn nhiều vấn đề đángquan tâm đó là: vướng mắc từ phía pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụngkhông đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành không thống nhất, quanđiểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp giải quyết, điều đó làm cho hoạtđộng xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn vướng mắc Mặc dù năm 2015 Bộ luật
Tố tụng dân sự (BLTTDS) đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng các quy định của phápluật về thẩm quyền giải quyết TCKDTM của Tòa án vẫn chưa được khắc phục Hơnnữa, trong Nhà nước pháp quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét xử của Tòa án phảiđảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng
án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cáchkinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp cũng đangđược Đảng và Nhà nước tích cực triển khai, coi đây như là khâu đột phá quan trọng,thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
Trang 7nghĩa Điều này được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6năm 2005 về "chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" Công cuộc cải cách tư pháp
ở nước ta đã và đang đặt ra một loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyếtmột cách hợp lý và thoả đáng, trong đó có vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luậtkinh tế nói chung cũng như tạo lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh pháp luật bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinh doanh, kể cả việc giảiquyết vấn đề đặt ra về tố tụng kinh tế, dân sự nói riêng sao cho thích hợp hiện cũngcần được quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phương hướng giải quyết đúng đắn, nângcao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn hiệnnay Nói một cách khác, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu lực và hiệu quảcủa hoạt động xét xử của Toà án đối với việc giải quyết các TCKDTM Đây là mộttrong số những nội dung cơ bản, quan trọng trong việc cải cách và trên nền tảng đó,hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị và hội nhập quốc tế
Thành phố Hà Nội là thủ đô của cả nước, với dân số đông, các giao dịchdân sự, kinh tế diễn ra rất sôi động Hà Nội cũng là địa phương có số lượng doanhnghiệp lớn, nơi mà nhiều tập đoàn, tổng công ty và các doanh nghiệp đặt trụ sởchính Do đó, trong những năm vừa qua, các tranh chấp về dân sự kinh tế xảy ra rấtnhiều Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội gồm TAND thành phố vàTAND các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố hàng năm đã thụ lý và giảiquyết hàng ngàn tranh chấp về KDTM các loại Trong quá trình giải quyết, bêncạnh những kết quả đã đạt được thì việc giải quyết các tranh chấp kinh doanhthương mại của TAND thành phố Hà Nội vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất địnhcần được giải quyết
Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy địnhcủa pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM nhằm gópphần làm sáng tỏ thêm về lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những hạn chế, vướngmắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn
Trang 8thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án kinh tế theotinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết và vẫn có tính thời sự, rất được quantâm trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay Do vậy, tác giả đã chọn đề tài
"Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương
mại từ thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội" để làm luận văn thạc sĩ Luật
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu
về vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM theo những khíacạnh khác nhau như:
Giáo trình Luật thương mại, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006; Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001… Các bài tạp chí chuyên ngành luật học như: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2005); Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo Bộ luật
Tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành (Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2005); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường Tòa án (Nguyễn Vũ Hoàng, Nxb Thanh niên, năm 2003) Các luận án tiến sĩ như luận án "Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam", của Nguyễn Thị Kim Vinh; luận án "Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với các vụ việc kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", của Nguyễn Văn Tiến Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM như: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện", của Nguyễn Vũ Hoàng; "Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam", của Vũ Quốc Hùng…
Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM
Trang 9trong thời gian qua Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều chưa tập trungđưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt độnggiải quyết TCKDTM Hơn nữa nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang tiếp tục đượcđặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chưa được cập nhật trong pháp luật hiện hành.Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nóichung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng ở nước ta.
3, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan trựctiếp đến vấn đề thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết TCKDTM mục đíchcủa luận văn là đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của pháp luật về thẩmquyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM nói riêng và pháp luật giải quyếtTCKDTM nói chung nhằm đảm bảo mọi TCKDTM đều được giải quyết một cáchthuận lợi và triệt để
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống được cơ sở lí luận, quan điểm khoa học, nhận thức chung vềthẩm quyền quyền xét xử của Toà án nhân dân trong việc giải quyết TCKDTM.Đây là cơ sở khoa học làm cơ sở cho việc xác định thẩm quyền tư pháp nói chung
và thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc KDTM nói riêng
- Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyềncủa Toà án trong việc giải quyết các TCKDTM Thực tiễn giải quyết các tranh chấpkinh doanh thương mại tại TAND thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó chỉ ra những bấtcập, hạn chế, vướng mắc trong thực thi pháp luật về thẩm quyền của Toà án trongviệc giải quyết các TCKDTM
- Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyếtTCKDTM nhằm hoàn thiện công cụ pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh, tiền đề chocải cách tư pháp, tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hộidân chủ, bình đẳng, văn minh
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là các quy phạm pháp luật hiện hành liênquan trực tiếp đến vấn đề thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết TCKDTM
mà đặc biệt là BLTTDS 2015 và những văn bản pháp luật có liên quan
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam vềthẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM trong việc đối chiếu so sánhvới pháp luật nước ngoài về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyếtTCKDTM
Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng thẩm quyền của TAND trong giải quyếttranh chấp kinh doanh thương mại tại TAND thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết họcMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng,Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luậttrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài bao gồm cácphương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa họcpháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thốnghóa pháp luật
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lí luận về thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Chương 2: Pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về thẩm quyền của Tòa án
Trong bộ máy nhà nước mỗi cơ quan đều thực hiện các chức năng khácnhau Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng nhiệm vụ của các cơ quantrong bộ máy nhà nước Vì thế nhà nước trao cho các cơ quan này những thẩmquyền riêng và có sự phân định rõ ràng về thẩm quyền của chúng Tòa án với chứcnăng xét xử không phải là ngoại lệ Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giảiquyết các loại tranh chấp, yêu cầu trong đó có TCKDTM Việc quy định hợp lý vềthẩm quyền dân sự của Tòa án nói chung và thẩm quyền dân sự theo loại việc củaTòa án về giải quyết TCKDTM nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảoquyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiệnđược quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Để có thểhiểu rõ khái niệm về thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyếtTCKDTM thì chúng ta cần làm rõ các khái niệm đó là: Khái niệm thẩm quyền;Khái niệm thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án và khái niệm TCKDTM
Hiểu một cách chung nhất thì "Thẩm quyền là quyền xem xét để quyết định
và định đoạt một vấn đề theo pháp luật" [37, tr 922] Dưới góc độ pháp lý thì thẩmquyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của cơ quan, tổchức thuộc bộ máy Nhà nước do pháp luật quyết định
Như vậy, có thể nhận định rằng, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì "thẩmquyền" luôn bao hàm hai nội dung cơ bản đó là: Quyền xem xét giải quyết các vụviệc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra các quyết địnhkhi giải quyết vụ việc đó
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 2013 thì "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã
Trang 12hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân gồm Tòa ánnhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định" [25] Trên cơ sở quy định này củaHiến pháp, Luật Tổ chức TAND năm 2014 đã quy định cụ thể là TAND có thẩmquyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết những việc kháctheo quy định của pháp luật Khi xét xử Tòa án có quyền ban hành bản án và cácquyết định, được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước thôngqua hệ thống cơ quan thi hành án dân sự Do đó, thẩm quyền của Tòa án là khảnăng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép.
Trong khoa học pháp lý, vấn đề thẩm quyền của Tòa án đã được nhiều nhànghiên cứu quan tâm và cũng có nhiều quan niệm khác nhau về "thẩm quyền củaTòa án" Có quan điểm cho rằng: "Thẩm quyền là phạm vi giới hạn hoạt động củatòa án và khả năng pháp lý của tòa án có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thànhthẩm quyền của Tòa án Thẩm quyền của tòa án bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm
vi - giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của tòa án" [13, tr 8]
Quan điểm khác cho rằng: "Thẩm quyền của tòa án là một thể thống nhấtbao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là thẩm quyền về hình thức
và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn xem xétcủa tòa án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử) còn thẩm quyền về nội dung thểhiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của tòa án đối với những vấn đề đã đượcxem xét" [17, tr 11] Theo quan niệm này, "thẩm quyền của Tòa án" bao hàm haiyếu tố cơ bản đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung có mối liên
hệ mật thiết với nhau Hay nói một cách khác đó là quyền hạn, phạm vi xem xét củaTòa án và quyền quyết định của Tòa án luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhấtvới nhau
Như vậy, dù cách tiếp cận "Thẩm quyền của tòa án" khác nhau nhưng cáckhái niệm này giống nhau ở những điểm cho rằng "thẩm quyền của tòa án là thẩmquyền trong việc xét xử, giới hạn của việc xét xử và quyền ra quyết định trong việcxét xử đó" Trong phạm vi nghiên cứu đề tài tác giả chỉ xem xét thẩm quyền dưới
Trang 13góc độ quyền xem xét giải quyết các vụ việc về giải quyết TCKDTM trong phạm vipháp luật cho phép Thẩm quyền dân sự theo loại việc của tòa án là một trong cácthẩm quyền dân sự của tòa án Trên thế giới đa số các quốc gia kể cả các quốc giatheo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ hay các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu
Âu lục địa đều tiếp cận khái niệm thẩm quyền dân sự của tòa án dưới hai góc độ:Thẩm quyền theo loại việc (căn cứ vào bản chất của vụ việc) và thẩm quyền theophạm vi lãnh thổ Tuy nhiên theo đặc thù trong việc tổ chức hệ thống tòa án mà tạiViệt Nam thẩm quyền dân sự của tòa án còn được tiếp cận dưới góc độ là thẩmquyền theo cấp của tòa án trong việc xét xử sơ thẩm Để xác định một vụ việc dân
sự thuộc thẩm quyền giải quyết của một Tòa án cụ thể nào, đầu tiên, người ta phảixác định vụ việc đó có thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việchay không, sau đó căn cứ vào luật thực định để xác định vụ việc đó thuộc thẩmquyền sở thẩm của Tòa án cấp nào và bước cuối cùng là xác định trong số các Tòa
án cùng cấp đó thì Tòa án lãnh thổ nào sẽ có thẩm quyền giải quyết Do đó, việc xácđịnh thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án là nền tảng hay tiền đề quan trọng
để xác định thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyếtcác vụ việc dân sự Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu của bản luận văn thì thẩmquyền dân sự theo loại việc của toà án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc theothủ tục tố tụng dân sự
Theo Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014, Điều 1 BLTTDSnăm 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án và các việc dân sự, hônnhân gia đình, KDTM, lao động theo quy định của pháp luật Hiện nay, hệ thốngTòa án của Việt Nam được tổ chức theo các cấp, theo địa giới hành chính, ở TANDcấp tỉnh và TAND cấp cao lại có những Tòa chuyên trách để xem xét giải quyết các
vụ việc thuộc các lĩnh vực cụ thể Việc nghiên cứu cho thấy, thẩm quyền dân sự củaTòa án theo loại việc được xác định trên cơ sở các quan hệ pháp luật nội dung cócùng tính chất mà Tòa án phải xem xét giải quyết Về nguyên tắc, TAND có thẩmquyền giải quyết nhiều loại tranh chấp khác nhau, trong đó có TCKDTM Vậy
Trang 14TCKDTM là gì? Vấn đề này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nội hàm củathuật ngữ, theo đó có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ này.
Tranh chấp KDTM là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ratrong các hoạt động của nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũng nhưhậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nềnkinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đếnhoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quyđịnh cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật Thuật ngữ "Tranh chấp kinh doanh, thươngmại" là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời của BLTTDS 2004 vàđược kế thừa trong BLTTDS năm 2015 Trước khi thuật ngữ TCKDTM xuất hiện,thực tiễn giải quyết tranh chấp phân chia thành tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh
tế Các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự hàng ngày bao gồm các quan hệnhân thân và quan hệ tài sản được coi là tranh chấp dân sự và điểu chỉnh bởi Bộ luậtdân sự 1995 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinhdoanh của các doanh nghiệp, hoạt động mua bán trái phiếu, cổ phiếu được coi là cáctranh chấp kinh tế, được điều chỉnh chủ yếu bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Ngay từ năm 1994, hệ thống pháp luật Việt Nam về thương mại cũng đãđưa ra một số khái niệm khác nhau để biểu đạt loại tranh chấp này Tuy không xâydựng được một khái niệm chuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng cũng đã liệt kêđược các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết củatòa án kinh tế và trọng tài kinh tế Đến năm 1999, khái niệm tranh chấp thương mạilần đầu tiên được đề cập đến trong Luật thương mại ngày 10/5/1999 Năm 2003,Pháp lệnh trọng tài thương mại được ban hành ngày 25/02/2003 tuy không đưa rađịnh nghĩa về tranh chấp thương mại nhưng thông qua khái niệm về "hoạt độngthương mại" đó tạo được sự tương đồng trong quan niệm về "thương mại" và "tranhchấp thương mại" của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật vàthông lệ quốc tế; từ đó mở màn cho việc xem xét tiếp theo của các văn bản phápluật khi đề cập đến lĩnh vực thương mại, tranh chấp thương mại
Trang 15Sau nỗ lực cải cách về tư duy pháp lý lớn vào năm 2005 kết quả là cho rađời Bộ luật dân sự năm 2005, Luật thương mại năm 2005, bãi bỏ Pháp lệnh hợpđồng kinh tế năm 1989 đã thống nhất về cách điều chỉnh hợp đồng Bộ luật Dân sựnăm 2005 và hiện tại là Bộ luật Dân sự năm 2015 có vai trò như đạo luật gốc, điềuchỉnh liên thông tất cả các quan hệ dân sự, lao động, KDTM, hôn nhân gia đình;BLTTDS 2004 ra đời và hiện nay là BLTTDS năm 2015 đã thống nhất thủ tục giảiquyết tranh chấp nếu xảy ra đối với tất cả các quan hệ này.
Theo Từ điển Tiếng Việt, "tranh chấp" được hiểu là "đấu tranh, giằng cokhi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa haibên" [37, tr 1024] Tranh chấp kinh doanh thương mại là một khái niệm còn gâynhiều tranh cãi và chưa có một khái niệm chung thống nhất về vấn đề này Và ngay
cả trong việc sử dụng thuật ngữ thì trong từng trường hợp và tùy vào mục đích sửdụng mà các tác giả, các nhà khoa học cũng sử dụng rất khác nhau Trong các vănbản pháp lý, các công trình nghiên cứu trên thực tế hiện nay chúng ta thường gặp rấtnhiều các thuật ngữ như: Tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh thương mại,tranh chấp kinh doanh, tranh chấp hợp đồng kinh tế, tranh chấp thương mại
Về thuật ngữ "Tranh chấp kinh tế" và thuật ngữ "Tranh chấp kinh doanh"thì đa phần các nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ "Tranh chấp kinh tế" có nội hàmrộng hơn thuật ngữ "Tranh chấp kinh doanh" Trong luận án tiến sĩ với đề tài "Phápluật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án ở Việt Nam" của tác giả NguyễnThị Kim Vinh đã viết: "Có thể nói trong các loại hình tranh chấp kinh tế, tranh chấpkinh doanh là loại hình phổ biến nhất và do đó trong một số trường hợp khái niệmtranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng vớinghĩa tương đương nhau" [38, tr 33] Ở đây, tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh đangmuốn nhắc đến "Tranh chấp kinh tế" với ý nghĩa là hệ quả phát sinh từ các quan hệkinh tế - các quan hệ có tính chất tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời Có thểnói cách tiếp cận này được phần lớn các học giả đồng thuận vì tranh chấp kinh tếđược hiểu theo nghĩa rộng là đã bao hàm tranh chấp kinh doanh
Trang 16Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu đồng nhất trong cách sử dụng thuật ngữ
"Tranh chấp kinh tế" và "Tranh chấp kinh doanh" Trong cuốn "Giải quyết tranh chấpkinh tế bằng con đường tòa án" của tác giả Đào Văn Hội sử dụng hai thuật ngữ nàyhầu như không có sự phân biệt Vậy thực ra tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh doanh
có nghĩa gần giống nhau nhưng thuật ngữ tranh chấp kinh tế có nội hàm bao gồm cảvấn đề quản lý và các vấn đề chính trị xã hội liên quan đến hoạt động kinh doanh
Theo nghĩa thông thường của từ, tranh chấp kinh doanh thương mại có thểđược hiểu là tranh chấp về KDTM hoặc tranh chấp trong kinh doanh thương mại.Trong phạm vi đề tài luận văn tác giả sử dụng thuật ngữ "tranh chấp kinh doanhthương mại", bởi vì: Thuật ngữ "tranh chấp kinh tế" có nội hàm quá rộng gồm cảvấn đề quản lý và vấn đề chính trị - xã hội liên quan đến hoạt động kinh doanh Mà
đề tài không đề cập đến tất cả về tranh chấp kinh tế mà chủ yếu nghiên cứu, xem xétcác quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết TCKDTM theo loại việc củaTòa án Tuy nhiên, trong thực tế các nhà khoa học cũng có những quan niệm khácnhau về khái niệm "tranh chấp kinh doanh thương mại" Cụ thể, các quan điểm củacác nhà khoa học, các học giả về khái niệm này như sau:
Trong luận án tiến sĩ, tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh đưa ra khái niệm:
"Tranh chấp kinh tế (tranh chấp kinh doanh) là sự bất đồng chính kiến về một sựkiện pháp lý, là sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữacác chủ thể tham gia vào quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau" [38, tr 45]
Hay theo tác giả Viên Thế Cương đưa ra khái niệm "Tranh chấp kinhdoanh được hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các chủ thể kinh doanhvới nhau hoặc với các bên có liên quan khi họ tham gia quan hệ kinh doanh, phátsinh do một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ pháp lý củamình" [3, tr 11] Chúng tôi đồng tình với khái niệm này vì đây là khái niệm có tínhđầy đủ, khái quát hơn cả
Có thể thấy, dù có nhiều khái niệm khác nhau về TCKDTM nhưng các kháiniệm này đều giống nhau ở điểm cho rằng: TCKDTM là mâu thuẫn, bất đồng hay
Trang 17xung đột về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh giữacác chủ thể tham gia kinh doanh hoặc với các bên liên quan khi họ tham gia cácquan hệ kinh doanh, phát sinh do một hoặc cả hai bên không thực hiện hoặc thựchiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ pháp lý của mình và thường gắn liền vớicác yếu tố lợi ích về mặt tài sản Do đó, TCKDTM là những mâu thuẫn, bất đồng vềquyền lợi, nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KDTM
Trên cơ sở phân tích và đánh giá các vấn đề nêu trên, chúng tôi đưa ra kết
luận: Thẩm quyền của tòa án theo loại việc về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là thẩm quyền của tòa án trong việc thụ lý, giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng dân sự.
1.2 Tranh chấp kinh doanh thương mại và thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.2.1 Tranh chấp kinh doanh thương mại
a Khái niệm
Tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâuthuẫn về các quyền yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từmột bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia [11, tr 9].TCKDTM là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời của BLTTDSnăm 2004 thay thế cho thuật ngữ tranh chấp kinh tế, " một khái niệm quen thuộccủa cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu vào tiềm thức và tư duy pháp lý người ViệtNam" [34, tr 427] Tranh chấp kinh tế theo tư duy cũ quy định tại Điều 12 của Pháplệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, bao gồm: i) Các tranh chấp về hợpđồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng kýkinh doanh ii) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thểcông ty iii) Các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu iv) Cáctranh chấp khác theo quy định của pháp luật
Trang 18Với quy định này, khái niệm tranh chấp kinh tế vẫn không bao quát hết cáctranh chấp phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, ví dụ như tranh chấp
về hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa hai doanh nghiệp tư nhân với nhau khôngđược xem là tranh chấp kinh tế mà xem là tranh chấp dân sự Điều này dẫn đếnkhông có sự phân biệt rõ ràng giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự
Hiện nay ở Việt Nam chưa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất vềTCKDTM Việc xác định phạm vi của tranh chấp được coi là TCKDTM chủ yếucăn cứ vào luật thực định
Theo Điều 16 Khoản 4 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì: "Kinh doanh làviệc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mụcđích sinh lợi"
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: "hoạt động thươngmại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác"
Khái niệm kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2014 và khái niệm thươngmại theo Luật thương mại 2005 về cơ bản là tương thích với nhau và cũng phù hợpvới khái niệm thương mại theo luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL:Thuật ngữ thương mại được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảysinh từ mọi quan hệ thương mại, dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệmang tính thương mại bao gồm nhưng không phải chỉ bao gồm, các giao dịch sauđây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịchvụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng, chothuê dài hạn, xây dựng các công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏathuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh hoặc các hình thức về hợp tác côngnghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển,đường không, đường sắt hoặc đường bộ
Với cách định nghĩa trên hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại cónhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ,
Trang 19về tiêu thụ sản phẩm… Như vậy, có thể quan niệm TCKDTM là những mâu thuẫn,bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một sốhoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch
vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác Nói mộtcách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa TCKDTM là những mâu thuẫn, bất đồng vềquyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KDTM
Cách định nghĩa trên có hạn chế là tuy chỉ ra được bản chất của TCKDTM
là mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động KDTM nhưng lại khôngcho thấy biểu hiện của nó Trong quan hệ kinh doanh, giữa các bên luôn tồn tạiđồng thời hai mối quan hệ vừa xung đột, vừa hợp tác Để xác định chính xác khinào những xung đột lợi ích này chuyển thành tranh chấp thì cần phải dựa vào nhữngdấu hiệu biểu hiện của nó Dấu hiệu đó là khi một bên cho rằng quyền và lợi ích củamình bị vi phạm yêu cầu phía bên kia khắc phục nhưng không nhận được sự đồng
ý Vì vậy, theo cách này, còn có một cách định nghĩa khác đó là "tranh chấp kinhdoanh thương mại xảy ra khi một bên trong quan hệ KDTM khẳng định một tráiquyền mà lại bị bên khác chống lại" [15]
Từ các định nghĩa trên có thể nêu ra khái niệm TCKDTM như sau: TCKDTM
là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi giữa các bên trong quan hệ KDTM khi một bên khẳng định trái quyền của mình mà lại bị bên khác chống lại
Mỗi cách định nghĩa đều có hạt nhân hợp lý của mình, vấn đề là sử dụngthuật ngữ thống nhất trong tất cả các văn bản pháp luật Và thuật ngữ đó không thể
bó hẹp nội dung cụ thể của tranh chấp mà mang tính bao quát, tiên liệu cácTCKDTM trong sự biến động của đời sống kinh tế hiện nay, nhưng lại xác địnhchính xác loại tranh chấp Đặc biệt, xây dựng hệ thống pháp luật giải quyết tranhchấp này thật hiệu quả là vấn đề thực tế đặt ra
b Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp KDTM là hệ quả phát sinh từ các quan hệ KDTM, các quan hệ
có tính tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời Khi tham gia các quan hệ KDTM
Trang 20các chủ thể đều hướng đến mục đích cao nhất là lợi nhuận, lợi ích kinh tế Do vậy,TCKDTM phát sinh trên cơ sở sự xâm phạm đến quyền lợi kinh tế Các tranh chấpnày thường có ảnh hưởng đến không những quyền lợi của các bên tranh chấp màcòn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của cả cộng đồng kinh doanh Đây chính làphản ứng dây chuyền của TCKDTM và do vậy nếu nó không được giải quyết mộtcách khoa học, bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh chấp thì có thểảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Giải quyết TCKDTM theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức,phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp phátsinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật
tự kỷ cương xã hội [16, tr 287]
Hoạt động KDTM có những đặc thù riêng cho nên khi tranh chấp xảy ra cácbên tranh chấp luôn mong muốn nhanh chóng chấm dứt xung đột để bảo vệ hoặckhôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, việc giải quyết TCKDTMcần đáp ứng một số yêu cầu sau:
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm cản trở các hoạt động kinh doanh
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, sự tín nhiệm giữa các bên trongkinh doanh
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường
- Kinh tế nhất, ít tốn kém nhất cả về thời gian, tiền bạc, sức lực
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọivấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh nói chungdựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên Cơ quan nhànước và Trọng tài thương mại can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp, kể cảkhi Tòa án hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá trình tố tụng, quyền tự định đoạtbiểu hiện bằng những hành vi đơn phương hoặc thỏa thuận của các bên luôn đượcghi nhận và tôn trọng Quyền tự định đoạt của các bên được coi là một nội dung củaquyền tự do kinh doanh và được pháp luật bảo hộ
Trang 21Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, trong đó bao hàm quyền tự do lựachọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền lựa chọnphương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình Có 4 phương thức giảiquyết tranh chấp đó là: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án
Giải quyết TCKDTM bằng thương lượng là hình thức giải quyết TCKDTMđược tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh chấp để cùng tìm ra
và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp phù hợp với tất cả cácbên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh
Giải quyết TCKDTM bằng hòa giải là phương thức giải quyết TCKDTM
có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải nhằm giúp cho các bêntranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp giải quyết vụ tranh chấp.Bên thứ ba (hay còn gọi là hòa giải viên) do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọnlàm trung gian hòa giải không có quyền quyết định hay áp đặt ý chí của mình lêncác bên tranh chấp Tuy nhiên, hòa giải viên là người am hiểu pháp luật, có kỹ nănghòa giải, có kiến thức chuyên môn liên quan đến lĩnh vực tranh chấp sẽ đóng vai tròquan trọng trong việc giúp cho các bên tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thíchhợp cho việc giải quyết tranh chấp, còn giải pháp có đạt được hay không là do cácbên tranh chấp quyết định
Giải quyết TCKDTM bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấpthông qua hoạt động của Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài), với tư cách làbên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộccác bên tranh chấp phải thực hiện Cơ sở làm phát sinh thẩm quyền của Trọng tài là
sự thỏa thuận của các bên tranh chấp Điều 5, khoản 1 của Luật Trọng tài thươngmại 2010 quy định: "Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoảthuận Trọng tài Thỏa thuận Trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ratranh chấp" Thỏa thuận Trọng tài phải được lập thành văn bản, có thể ghi trong hợpđồng chính hoặc bằng văn bản riêng
Giải quyết TCKDTM bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại
cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục
Trang 22nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếukhông có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡngchế của nhà nước [34, tr 465] Tòa án là cơ quan tài phán kinh tế duy nhất có quyềnnhân danh quyền lực nhà nước tiến hành xét xử các vụ TCKDTM Đặc điểm nàythể hiện vai trò của nhà nước trong việc tạo lập nên những thiết chế quyền lực nhằmgiải quyết những mâu thuẫn bất đồng trong kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần xây dựng môi trường kinh doanhlành mạnh.
1.2.2 Vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Có rất nhiều lý do để các bên tranh chấp trong KDTM lựa chọn những hìnhthức giải quyết tranh chấp phù hợp với yêu cầu của mình: Đối với phương thức giảiquyết TCKDTM bằng thương lượng Thông thường là phương thức được các bêntranh chấp lựa chọn trước tiên khi tranh chấp xảy ra Bởi vì nó đơn giản lại không bịràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức, ít tốn kém về chi phí và thời gian chocác bên, không làm phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên trong kinhdoanh, và vẫn đảm bảo được bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên trên thươngtrường Tuy nhiên thương lượng lại phụ thuộc vào khả năng cũng như kỹ năng đàmphán thương lượng, ý chí của các bên tranh chấp Do đó, nếu một bên trong thươnglượng không có thiện chí hợp tác, lợi dụng hình thức thương lượng để kéo dài thờigian thực hiện nghĩa vụ, thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian hơn.Mặt khác, thỏa thuận thương lượng chưa có sự điều chỉnh pháp lý rõ ràng Nó chỉđược quy định chung chung là một hình thức giải quyết tranh chấp (Điều 317 Luậtthương mại 2005) mà không được quy định chi tiết về thủ tục, cách thức và trình tự
vì vậy một bên có thể lợi dụng thương lượng bằng cách kéo dài quá trình thươnglượng hoặc trì hoãn việc thực hiện thỏa thuận thương lượng đã đạt được giữa cácbên để làm cho bên kia mất quyền khởi kiện tại Tòa án
Đối với phương thức giải quyết bằng hòa giải Bên cạnh những ưu điểmnhư giải quyết bằng thương lượng như: nhanh chóng, linh hoạt, hiệu quả, ít tốn
Trang 23kém; hòa giải còn có ưu điểm vượt trội bởi có sự tham gia của người thứ ba trongquá trình giải quyết tranh chấp Người thứ ba thường là người có trình độ chuyênmôn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp Khi hiểu rõ đượcnguyên nhân hoàn cảnh phát sinh mâu thuẫn cũng như quan điểm nhận thức của cácbên, họ sẽ biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàmphán để loại trừ tranh chấp.
Hệ thống pháp luật về hòa giải hiện hành chủ yếu điều chỉnh hoạt động hòagiải trong tố tụng Hòa giải trong tố tụng là việc hòa giải được tiến hành bởi cơ quanTrọng tài hay Tòa án Vụ tranh chấp được các cơ quan này thụ lý giải quyết và tiếnhành hòa giải theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định Bên thứ ba giữ vai tròtrung gian hoà giải có thể là Thẩm phán hoặc Trọng tài viên phụ trách vụ việc (hoặcHội đồng Trọng tài) Kết quả hòa giải phản ánh sự thỏa thuận tự nguyện, không tráipháp luật và đạo đức xã hội của các bên và được ghi nhận tại biên bản hòa giảithành Tòa án hoặc Trọng tài sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên
và có hiệu lực thi hành
Riêng hòa giải với tính chất là một biện pháp giải quyết TCKDTM ngoài tốtụng là một khái niệm mới Đây là một trong những biện pháp giải quyết TCKDTMngoài tố tụng được đánh giá cao về tính hiệu quả Hòa giải ngoài tố tụng là hìnhthức hòa giải với ý nghĩa là một phương pháp giải quyết tranh chấp độc lập thay thế(Alternative Dispute Resolution - ADR) do các bên tự lựa chọn hòa giải viên và tiếnhành hòa giải, quá trình hòa giải không liên quan đến cơ quan Trọng tài hay Tòa án
Tuy nhiên, hòa giải cũng có hạn chế bởi nền tảng của hòa giải vẫn đượcquyết định trên cơ sở tự nguyện thi hành của các bên Bởi vậy, nếu một bên khôngtrung thực, thiếu thiện chí hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải cũng khóđạt được kết quả cao
Chúng ta đều biết, một thỏa thuận đạt được tại Tòa án, được Tòa án côngnhận với vai trò trung gian hòa giải, thì thỏa thuận đó có giá trị hiệu lực buộc cácbên thực hiện theo thỏa thuận, nếu không thực hiện sẽ bị cưỡng chế thi hành Nhưng
Trang 24cũng là thỏa thuận đó của các bên dựa trên sự tự định đoạt, tự do ý chí nhưng nó lạikhông có hiệu lực thi hành bắt buộc, không có cơ chế cưỡng chế thi hành Như vậy,vấn đề hình thức pháp lý và hiệu lực pháp lý của hòa giải ngoài tố tụng vẫn còn bị
Ưu diểm nổi bật của phương thức Tòa án là tính quyền lực nhà nước Tòa
án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lực của nhà nước khi xét xửcác vụ tranh chấp Bản án, quyết định của Tòa án được mọi cá nhân, tổ chức tôntrọng và thi hành Điều 136 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namquy định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luậtphải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trangnhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải chấphành" Trong trường hợp bản án không được tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chếbởi quyền lực nhà nước Trong khi đó ở Việt Nam trong một thời gian dài, cácquyết định của Trọng tài không có cơ quan cưỡng chế thi hành nên hiệu quả hoạtđộng của Trọng tài rất thấp Khắc phục nhược điểm này, Pháp lệnh Trọng tàiThương mại đặc biệt là Luật Trọng tài Thương mại 2010 quy định "bên được thihành phán quyết Trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cóthẩm quyền thi hành phán quyết Trọng tài" (Điều 67 Luật Trọng tài Thương mại).Tuy nhiên tình hình vẫn không được cải thiện là mấy
Tính quyền lực nhà nước còn thể hiện là trong quá trình giải quyết vụ án,Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, có quyền triệu tập nhânchứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ
án được khách quan, chính xác Ưu điểm này không thể có ở phương thức Trọng tài
vì thẩm quyền của Trọng tài được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên
Trang 25tranh chấp nên Trọng tài viên không có nhiều quyền hạn như Thẩm phán, không cóquyền triệu tập các bên liên quan khác ngoài các bên tranh chấp
Tuy nhiên, xét dưới góc độ kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá việclựa chọn, thì Trọng tài có những điểm ưu việt trội
Trong kinh doanh, nhiều khi thời gian là yếu tố được quy ra tiền bạc Ưuthế về tốc độ giải quyết tranh chấp, rút ngắn sự lãng phí thời gian công sức theođuổi kiện tụng cho doanh nghiệp không thuộc về Tòa án Với đặc điểm của cơ chế
tố tụng hiện nay, một vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại nếu trải qua đủ cáctrình tự, thủ tục pháp lý sơ thẩm, phúc thẩm, thì về mặt quy định thời hạn giải quyếttại Tòa án có thể từ 7 - 12 tháng, nhưng trên thực tế, có thể mất 1 - 3 năm Trong khi
đó, nếu cộng tất cả các thời hạn theo các trình tự, thủ tục liên quan, thì thời hạn giảiquyết một vụ tranh chấp của Trọng tài thương mại chỉ mất khoảng hơn 120 ngày vàgiữa quy định với thực tế không khác xa là bao
Với những doanh nghiệp đã từng trải qua một chu trình xét xử từ sơ thẩmđến phúc thẩm, có khi lại giám đốc thẩm hủy án để xét xử sơ thẩm lại từ đầu, mới thấuhiểu đến giá trị của việc phán quyết chung thẩm, một lần nhanh gọn và có hiệu lực
áp dụng ngay của Trọng tài thương mại Những chi phí gia tăng suốt quá trình mệtmỏi theo kiện khiến cho lợi thế về án phí so với phí Trọng tài giờ trở thành vô nghĩa
Một ưu thế vượt trội của Trọng tài thương mại là ở đội ngũ Trọng tài viên.Muốn thu hút được sự tin tưởng từ các doanh nghiệp, các trung tâm Trọng tàithương mại phải lựa chọn chặt chẽ đội ngũ Trọng tài viên của mình Trên thực tế,
họ đều là những chuyên gia của nhiều lĩnh vực khác nhau, có kiến thức và dày dạn
về kinh nghiệm về những vụ việc mà họ tham gia giải quyết trong tư cách Trọng tàiviên Điều này khiến cho trong quá trình giải quyết vụ việc, giữa Trọng tài viên vàcác doanh nghiệp đã có sẵn tiền đề tốt cho việc phân giải là sự cùng am hiểu vềnhững khái niệm kinh doanh, về những vấn đề kinh tế… Trong khi đó, rất nhiềudoanh nghiệp đã chật vật giải thích những ý kiến kinh doanh của mình khi tham giatranh tụng tại Tòa án, vì sự hạn chế trong tiếp cận các thông tin, kiến thức kinh
Trang 26doanh của nhiều Thẩm phán Đây rõ ràng là ưu điểm của Trọng tài thương mại màcác doanh nghiệp có thể nhìn nhận được.
Xét về tổng thể, sự hoạt động hiệu quả của Trọng tài thương mại không chỉdừng lại ở ý nghĩa của một cơ quan tài phán Hoạt động của Trọng tài thương mại là
cơ sở phát triển và cập nhật cho doanh nghiệp những kiến thức lấp đầy nhữngkhuyết tật trong kinh doanh và rõ ràng đây là một "bệnh viện" pháp lý tốt chonhững căn bệnh tranh chấp pháp lý phát sinh của doanh nghiệp trong quá trình pháttriển kinh tế đất nước
Qua việc so sánh hai phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án vàTrọng tài, có thể thấy phương thức Trọng tài có nhiều ưu điểm hơn, những ưu điểmnày đặc biệt quan trọng đối với hoạt động KDTM Chính vì thế phương thức Trọngtài được ưu chuộng hơn đặc biệt ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và chậm phát triển thì Tòa án vẫn là cơ quangiải quyết TCKDTM chủ yếu Có thể lấy ví dụ ở Việt Nam, "Theo số liệu thống kêvào năm 2010 của Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC), trong khi mỗi Thẩm phán ởToà kinh tế thành phố Hà Nội phải xử trên 50 vụ một năm, ở Toà kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh xử trên 70 vụ một năm, thì mỗi Trọng tài viên của VIAC chỉ xử 4 vụmột năm" [8]
Mặc dầu Luật Trọng tài thương mại 2010 đã có hiệu lực kể từ ngày01/01/2011 các doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự "mặn mà" với việc đem tranhchấp của mình ra giải quyết tại Trọng tài? Rõ ràng các nhà kinh doanh của ta chưađặt trọn niềm tin vào các Trọng tài viên, cũng như chưa hoàn toàn coi trọng hiệuquả của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và hiệu lực thi hành của các quyếtđịnh Trọng tài
Khi ký kết các hợp đồng thương mại hiện nay về điều khoản giải quyếttranh chấp, các doanh nghiệp trong nước thường hay chọn cơ quan giải quyết tranhchấp là cơ quan TAND có thẩm quyền vì chưa có thói quen sử dụng Trọng tài khigiải quyết tranh chấp hợp đồng, và do kém hiểu biết về pháp luật nên cho rằng,
Trang 27quyết định của Tòa án có giá trị pháp lý cao hơn quyết định của Trọng tài; và hiệulực thi hành các phán quyết Trọng tài
Bên cạnh đó, với xuất phát điểm thấp cùng với truyền thống văn hóaphương Đông cổ truyền, thói quen áp đặt các mệnh lệnh hành chính trong thời kỳkinh tế bao cấp kéo dài đã tạo thành thói quen cố hữu trong nhận thức của cácdoanh nghiệp ở nước ta trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấpbằng Tòa án ngay cả trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập hiện nay
Qua sự phân tích trên có thể thấy, giải quyết TCKDTM bằng Tòa án vẫnchiếm ưu thế chủ đạo trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết TCKDTM ởnước ta Theo thống kê có đến hơn 95% tranh chấp hợp đồng thương mại trongnước được đưa ra TAND có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định củaBLTTDS [31] Bằng các quyết định và bản án của Tòa án, các bên có tranh chấpbuộc phải thực hiện để khắc phục và chấm dứt tranh chấp, đảm bảo cho hoạt độngKDTM trong nền kinh tế diễn ra trong trật tự lập pháp Ưu thế này không có ở cácphương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải ngoài tố tụng,hoặc nếu có như Trọng tài thì cũng không được đảm bảo một cách triệt để
1.3 Pháp luật một số nước về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Trên thế giới hiện nay đang tồn tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau: hệthống pháp luật dân sự (civil law), hệ thống thông luật (common law), hệ thốngpháp luật hồi giáo…Mỗi hệ thống pháp luật có hệ thống cơ quan tài phán với nhữngđặc thù riêng Qua nghiên cứu và khảo sát,mặc dù có những khác biệt nhất địnhnhưng tựu trung lại có hai mô hình tổ chức hệ thống Tòa án trong việc giải quyếttranh chấp kinh doanh thương mại là thành lập Tòa chuyên trách (Tòa thương mại)
và không thành lập Tòa chuyên trách mà giao nhiệm vụ 37 này cho Tòa án thường(Tòa dân sự) Các quốc gia phân biệt hai hệ thống toà án riêng biệt cho thương mại
và dân sự như: Pháp, Bỉ, Thụy Sỹ (Zurich and Bern), Argentina, Áo Các quốc giakhông có sự phân biệt giữa toà án dân sự và toà thương mại như: Tây Ban Nha, HàLan, Thụy Điển… [33]
Trang 28Xuất phát từ luật vật chất có sự khác biệt, nên người Pháp và người Bỉ cho rằng phải có sự khác biệt về luật thủ tục giữa dân sự và thương mại Nhưng một
số nước khác như Tây Ban Nha, Hà Lan… kể cả chính quyền Sài Gòn cũ ở ViệtNam sử dụng chung một hệ thống luật hình thức cho cả hai lĩnh vực này Việc xácđịnh thẩm quyền của toá án cũng là vấn đề phức tạp khi một hành vi chỉ có tính chấtthương mại đối với một bên trong tranh chấp Vì vậy, người ta thường đưa ra quytắc cho phép (luật của Pháp) nguyên đơn có quyền lựa chọn hoặc toà thương mạihoặc toà án thường khi hành vi là thương mại đối với bị đơn, nhưng nếu hành vi,đối với bị đơn, không phải là hành vi thương mại thì nguyên đơn chỉ có thể kiệntrước toà án thường không kể đến hành vi đó là thương mại đối với nguyên đơn [36]
Ở các nước theo truyền thống luật dân sự (civil law) như Cộng hòa Pháp,Cộng hòa Liên bang Đức và sau này có thêm Liên bang Nga đều thành lập Tòachuyên trách với tên gọi là Tòa kinh tế hay Tòa thương mại độc lập với Tòa ánthường (Tòa dân sự) để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại với quanniệm rằng, các tranh chấp trong hoạt động của giới thương gia có những đặc điểmriêng và cần có một Tòa án riêng để giải quyết các tranh chấp ấy Ở các nước này,Tòa thương mại chỉ được thành lập ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm và phá án(giám đốc thẩm) không có Tòa thương mại mà do Tòa án thường giải quyết.BLTTDS của Cộng hòa Liên bang Nga cũng có quy định những vụ việc thuộc thẩmquyền của Tòa án nhưng quy định này cũng rất khái quát, chứ không theo hướngliệt kê và loại trừ như BLTTDS của Việt Nam Hơn nữa, ở Cộng hòa Liên bang Nga
có ba hệ thống Tòa án: Tòa án tối cao Liên bang; Tòa án trọng tài tối cao Liên bang;Tòa án Hiến pháp Liên bang và quy định rõ các tranh chấp về KDTM (tranh chấpkinh tế) thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống Tòa án trọng tài tối cao Liênbang nên loại việc này không quy định lại trong BLTTDS (Điều 127 Hiến phápLiên bang Nga)
Còn các quốc gia theo truyền thống luật án lệ (common law) thì trái lại,thường không thành lập Tòa thương mại mà giao nhiệm vụ giải quyết các
Trang 29TCKDTM cho Tòa án thường với quan niệm cho rằng: Về bản chất tranh chấp kinh
tế cũng là một dạng của tranh chấp dân sự nên không cần thiết phải có một cơ quantài phán riêng cho loại tranh chấp này Tuy nhiên, để chuyên môn hóa hoạt độngnày, phần lớn các quốc gia này thường thành lập các phân Tòa thương mại trongTòa án thường để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại [33]
Nhìn chung, qua nghiên cứu, có thể đưa ra một số nhận xét sau đây về thẩmquyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM theo pháp luật nước ngoài:
Thứ nhất, mặc dù có những khác biệt nhất định nhưng tựu trung có hai mô hình tổ chức hệ thống Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM là thành lập Tòa chuyên trách (Tòa thương mại) và không thành lập Tòa chuyên trách mà giao nhiệm vụ này cho Tòa án thường (Tòa dân sự)
Thành lập Tòa chuyên trách với tên gọi là Tòa kinh tế hay Tòa thương mạiđộc lập với Tòa án thường (Tòa dân sự) để giải quyết các TCKDTM là mô hìnhthường gặp ở các nước theo truyền thống luật dân sự (civil law) như Cộng hòaPháp, Cộng hòa liên bang Đức và sau này có thêm Liên bang Nga… với quan niệmrằng, các tranh chấp trong hoạt động của giới thương gia có những đặc điểm riêng
và cần có một Tòa án riêng để giải quyết các tranh chấp ấy Ở các nước này, Tòathương mại chỉ được thành lập ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm và phá án (giámđốc thẩm) không có Tòa thương mại mà do Tòa án thường giải quyết Riêng Liênbang Nga có hẳn một hệ thống Tòa án riêng gọi là Tòa án Trọng tài ở cả ba cấp đểxét xử các TCKDTM
Các quốc gia theo truyền thống luật án lệ (common law) thì trái lại, thườngkhông thành lập Tòa thương mại mà giao nhiệm vụ giải quyết các TCKDTM choTòa án thường với quan niệm cho rằng: về bản chất tranh chấp kinh tế cũng là mộtdạng của tranh chấp dân sự nên không cần thiết phải có một cơ quan tài phán riêngcho loại tranh chấp này Tuy nhiên để chuyên môn hóa hoạt động này, phần lớn cácquốc gia này thường thành lập các phân Tòa thương mại trong Tòa án thường đểgiải quyết các TCKDTM
Trang 30Thứ hai, hầu hết hệ thống Tòa án ở các quốc gia đều được tổ chức theo cấp xét xử với nguyên tắc xét xử hai cấp và Tòa phá án.
Ở mỗi cấp Tòa án thường chỉ giải quyết tranh chấp theo một thủ tục nhấtđịnh Tòa khu vực (có thể là Tòa thương mại hoặc Tòa dân sự) xét xử sơ thẩm, Tòaphúc thẩm xét xử phúc thẩm và Tòa tối cao làm nhiệm vụ phá án Ví dụ như ở Pháp,Tòa án thương mại chỉ làm nhiệm vụ xét xử sơ thẩm Đối với tranh chấp thươngmại có giá trị không quá 13.000 Fr thì các Tòa án thương mại xét xử sơ thẩm đồngthời chung thẩm Đối với tranh chấp có giá trị lớn hơn thì việc xét xử phúc thẩm sẽđược tiến hành theo các trình tự tố tụng dân sự thông thường trước Tòa án phúcthẩm (Tòa dân sự của Tòa án cấp trên) Bản án phúc thẩm nếu có kháng nghị sẽđược xem xét lại ở Tòa phá án (Tòa tối cao) [11, tr 16] Riêng Tòa án Trọng tài ởNga có hơi khác một chút, bao gồm 82 Tòa sơ thẩm ở các chủ thể liên bang (cácnước cộng hòa, các tỉnh tự trị…), 10 Tòa án khu vực và Tòa án Trọng tài tối cao
Thứ ba, việc tổ chức hệ thống Tòa án để giải quyết các TCKDTM thường không theo địa giới hành chính mà được xác định theo nhu cầu của hoạt động xét
xử (số lượng các vụ tranh chấp trong năm)
Chính vì vậy, số lượng các Tòa án ở thủ đô hoặc các trung tâm thương mạibao giờ cũng nhiều hơn các khu vực khác, nơi mà các hoạt động sản xuất KDTMkém phát triển hơn Điều này được thể hiện ở tất cả các quốc gia dù có thành lậpTòa thương mại chuyên biệt hay không bởi họ quan niệm Tòa án là để phục vụ cácnhu cầu của xã hội mà ở đây là nhu cầu của các thương gia
Chắt lọc luật thực định của các quốc gia và phân tích đời sống thương mạithì có thể thấy rằng BLTTDS của các nước có hệ thống pháp luật phát triển ở Châu
Âu đều không quy định thẩm quyền của Tòa án về loại việc mà chỉ quy định thẩmquyền của Tòa án các cấp và thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Phải chăng ởcác quốc gia này những tranh chấp có thể kiện ra Tòa án đã được quy định ở cácluật nội dung nên không cần quy định ở luật tố tụng
Trang 31Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại
2.1.1 Thẩm quyền theo loại việc
Thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án là thẩm quyền của Tòa ántrong việc thụ lý, giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự Xác định thẩmquyền theo vụ việc là xác định phạm vi các tranh chấp phát sinh từ hoạt độngKDTM được pháp luật xác định thuộc quyền hạn giải quyết của Tòa án Theo quyđịnh tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì những loại việc TCKDTM thuộc thẩmquyền của Tòa án được chia thành bốn nhóm:
+ Nhóm thứ nhất gồm các tranh chấp phát sinh trong các hoạt động KDTMgiữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đíchlợi nhuận;
+ Nhóm thứ hai gồm các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giaocông nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận;
+ Nhóm thứ ba là nhóm TCKDTM giữa công ty với các thành viên củacông ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạtđộng, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức của Công ty;
+ Nhóm thứ tư là nhóm các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại màpháp luật có quy định
Khác với việc xác định các quan hệ tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình vàlao động chủ yếu dựa vào Luật nội dung, sau đó đối chiếu với quy định về thẩmquyền theo vụ việc do BLTTDS quy định để xác định tranh chấp nào thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về KDTM
Trang 32lại dựa vào quy định của pháp luật tố tụng và phải khẳng định rằng các TCKDTMchỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giữa các bên không có thỏa thuậntrọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài là vô hiệu.
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Những tranh chấp này bao gồm: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ;Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn,
kỹ thuật; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủynội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngânhàng; bảo hiểm; Thăm dò, khai thác BLTTDS đã sử dụng phương pháp liệt kê đểxác định các hoạt động được coi là các hoạt động KDTM
Bộ luật Tố tụng dân sự đã sử dụng phương pháp liệt kê để xác định các hoạtđộng được coi là các hoạt động KDTM Theo đó, một tranh chấp phát sinh trongthực tiễn được xác định là TCKDTM và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa ánphải hội đủ ba điều kiện sau:
Thứ nhất: Các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động KDTM và các hoạt
động đó phải có mục đích lợi nhuận BLTTDS 2015 quy định hai dấu hiệu để xácđịnh một tranh chấp được coi là TCKDTM, đó là: các tranh chấp này phát sinh từhoạt động KDTM và hoạt động KDTM đó phải có mục đích lợi nhuận Theo nghĩakhái quát nhất có thể hiểu tranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM là những tranhchấp xảy ra do bất đồng chính kiến, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền lợi
và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạt động thương mại Còn hoạt động KDTM
đó phải có mục đích lợi nhuận có nghĩa là những hoạt động KDTM đó phải đưa lạilợi nhuận trực tiếp và bao gồm cả hoạt động đầu tư lâu dài, đầu tư chiều sâu để saunày đưa lại lợi nhuận cho nhà đầu tư
Tuy BLTTDS mới được ban hành, tuy nhiên vẫn chưa có một văn bản hướngdẫn những quy định tại Bộ luật này như Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội
Trang 33đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất
"Những quy định chung" của BLTTDS 2004 Theo đó, Nghị quyết này đã hướngdẫn chi tiết như sau: "Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mụcđích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thươngmại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác theo quy định tại khoản 1 Điều 3Luật Thương mại Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động theođăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả hoạt động khác phục vụ, thúcđẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại" [30, Khoản 3 Điều 6].Nghị quyết cũng đưa ra ví dụ cụ thể để minh chứng, luận giải cho quy định này, cụthể: Công ty trách nhiệm hữu hạn A được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhtrong lĩnh vực may mặc Hoạt động của Công ty A không chỉ giới hạn ở việc maysản phẩm là hàng dệt may để phục vụ thị trường mà còn bao gồm cả hành vi muanguyên vật liệu về để sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, thuê xe
ô tô để đưa công nhân đi làm, đi nghỉ hàng năm theo chế độ hoặc mua một số ti vi
để cho công nhân giải trí sau giờ làm việc,
Phải khẳng định rằng những quy định sửa đổi của Nghị quyết HĐTP đã tạo ra sự liên kết và thống nhất với Luật Thương mại Đây là một sửa đổiphù hợp, tạo nên sự đồng bộ trong các quy định của pháp luật tố tụng và pháp luậtnội dung để điều chỉnh hoạt động KDTM
03/2012/NQ-Về dấu hiệu "Mục đích lợi nhuận" của tổ chức, cá nhân trong hoạt động KDTMđược Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP TANDTC hướng dẫn như sau: "Mục đích lợinhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của
cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thuđược lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó" [30, (Khoản 2 Điều 6]
Mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là động lực trực tiếp thúc đẩy quátrình mở rộng các giao lưu kinh tế mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể trong kinhdoanh Hoạt động kinh doanh giữa các đơn vị kinh tế nảy sinh các quan hệ kinh tế(ví dụ: ký kết hợp đồng; quan hệ giữa các công ty và các thành viên công ty trong
Trang 34việc thành lập, giải thể công ty ) mà nội dung của nó là những quyền và nghĩa vụkinh tế Các bên hưởng quyền và có nghĩa vụ thực hiện đúng và đủ những điềukhoản mà mình đã thống nhất ý chí ghi vào các điều khoản của hợp đồng Mục đíchđạt được lợi nhuận tối đa đã trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia tronghoạt động thương mại.
Do vậy, mặc dù Nghị quyết này đã hết hiệu lực, tuy nhiên, căn cứ vào tínhhợp lý của nó, thiết nghĩ, nếu tồn tại một văn bản khác hướng dẫn BLTTDS năm
2015 thì cần phải tiếp thu điểm này để đảm bảo sự đồng bộ của pháp luật
Thứ hai: Các tranh chấp phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, đồng
thời các cá nhân, tổ chức phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký doanh nghiệp theo quyđịnh của pháp luật
Khái niệm đăng ký doanh nghiệp được Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định
cụ thể như sau: Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng
ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thayđổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quanđăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanhnghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng kýthay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo kháctheo quy định của Nghị định này
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP TANDTCmới chính là văn bản có hướng dẫn cụ thể những tổ chức, cá nhân có đăng ký doanhnghiệp là ai Theo nghị quyết này, cá nhân, tổ chức có đăng ký doanh nghiệp là các
cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, bao gồm:
+ Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác (theo Bộ luật dân sự năm 2015, LuậtThương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác về đăng ký kinh doanh);
+ Doanh nghiệp (theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm phápluật hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp);
Trang 35+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã và các văn bản quyphạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã);
+ Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh
Thứ ba: Các TCKDTM phải thuộc quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS
năm 2015 thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án Theo đó, BLTTDS năm 2015 có
sự thay đổi lớn so với BLTTDS trước đó, chính là không giới hạn thẩm quyền giảiquyết của Tòa án ở 14 lĩnh vực, bao gồm: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ;Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn,
kỹ thuật; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủynội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngânhàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác Tuy nhiên, trên thực tế có những tranh chấpphát sinh giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau, đều có mụcđích lợi nhuận nhưng lĩnh vực tranh chấp không thuộc một trong mười bốn lĩnh vựcnêu trên thì có thuộc thẩm quyền theo loại việc về KDTM hay không là vấn đề cònnhiều ý kiến khác nhau
Ví dụ: Tháng 8/2007, Công ty H nhận được thư gửi qua bưu điện của Công
ty N (tại Tỉnh T) giới thiệu về ấn phẩm Tourist Directory (sách chỉ dẫn du lịch) sắpxuất bản Trong thư nói rằng Công ty N sẽ đưa thông tin mà họ hiện có về Công ty
H vào cuốn sách một cách miễn phí Tuy nhiên, trong số thông tin "hiện có" đó, chỉ
có tên Công ty H là đúng, phần địa chỉ công ty thì bị sai lệch một chút, còn lại sốđiện thoại, fax, địa chỉ website thì sai hoàn toàn Thư này cũng đề nghị Công ty H.sửa chữa lại thông tin và gửi trở lại cho Công ty N để họ có thể cập nhật thông tinchính xác cho cuốn sách Anh nhân viên xử lý lá thư này lo ngại thông tin sai lệchtrên sẽ bị đưa vào sách hướng dẫn du lịch, thấy sự việc cũng đơn giản nên anh tựsửa chữa lại, ký tên (không ghi rõ họ tên, cũng không đóng dấu công ty) và gửi bưuđiện cho Công ty N Anh nghĩ rằng thông tin này sẽ được đăng miễn phí trong thờigian sắp tới
Trang 36Đến tháng 3/2008, Công ty H nhận được thư của Công ty N đòi nợ trên1.000 USD cho một lần quảng cáo trong cuốn sách chỉ dẫn du lịch Tháng 5, công
ty này lại tiếp tục gửi thư, số nợ lần này lên gần 2.300 USD Bởi vì trong quá trìnhđòi nợ, dù đòi không được, N báo cáo vẫn thực hiện "hợp đồng", tiếp tục quảng cáo
về Công ty H trong sách thêm một kỳ nữa và quảng cáo trong đĩa CD TouristDirectory Có ý kiến cho rằng, tranh chấp trên không thuộc tranh chấp về KDTM
Từ những thực tế như vậy, BLTTDS năm 2015 không còn giới hạn thẩmquyền của Tòa án trong giải quyết TCKDTM tại 14 lĩnh vực cụ thể nữa, mà thayvào đó chỉ quy định: mọi "Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thươngmại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợinhuận" đều thuộc thẩm quyền của Tòa án
Tóm lại, thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết TCKDTMđược quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 gồm ba dấu hiệu cụ thểnhư tác giả đã phân tích, luận giải trên đây Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng đểphân định quan hệ hợp đồng KDTM với các quan hệ hợp đồng dân sự và lao động
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Do sự phát triển mạnh mẽ của thông tin, công nghệ, sở hữu trí tuệ là mộtloại tài sản rất đặc biệt - tài sản vô hình, có giá trị cao, là nhân tố quan trọng trongnền kinh tế hiện đại Do đó, tài sản trí tuệ này thường bị xâm hại và tranh chấp làđiều khó tránh khỏi Các quốc gia trên thế giới nhận thức được rất sớm vấn đề này
và đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Trong đó, thựcthi bằng biện pháp dân sự có mục đích chủ yếu là nhằm khôi phục, khắc phục cácthiệt hại để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người có quyền bị xâm hại.Trước yêu cầu hội nhập với kinh tế thế giới, pháp luật tố tụng dân sự Việt Namcũng đã ghi nhận thẩm quyền dân sự cho tòa án để giải quyết các tranh chấp về sởhữu trí tuệ (bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp),chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức Các quy định của pháp luật tố tụng
Trang 37dân sự là cần thiết, nó đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, các quy định này là cơ sởpháp lý để Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết các tranh chấp, yêu cầu liênquan đến vấn đề sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ nhằm bảo vệ quyền và lợiích của các đương sự, tạo niềm tin cho các chủ thể sáng tạo
Không phải tất cả các tranh chấp về quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và chuyển giao công nghệ là loại vụ việc về KDTM thuộc thẩm quyền Tòadân sự Những tranh chấp quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và chuyển giaocông nghệ mà một bên hoặc cả hai bên không có mục đích lợi nhuận là các tranhchấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa dân sự Nói cách khác, nếu cácbên đều có mục đích lợi nhuận thì đó là TCKDTM thuộc thẩm quyền giải quyết củaTòa án Do đó, các tranh chấp dưới đây nếu một hoặc cả hai bên đều có mục đíchlợi nhuận thì sẽ là TCKDTM thuộc thẩm quyền Tòa án (theo Thông tư liên tịch số02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTCBVHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn ápdụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền
Sở hữu trí tuệ tại TAND):
Thứ nhất, các tranh chấp về quyền tác giả:
+ Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quyền tác giả đối với tác phẩmvăn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm phái sinh;
+ Tranh chấp giữa các đồng tác giả về phân chia quyền đồng tác giả;
+ Tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm; + Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với tác giả về tiền nhuận bút, tiềnthù lao cho tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng;
+ Tranh chấp về thực hiện quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả,chủ sở hữu tác phẩm;
+ Tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữliệu giữa người cung cấp tài chính và các điều kiện vật chất có tính chất quyết địnhcho việc xây dựng, phát triển chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu với người thiết
kế, xây dựng chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;
Trang 38+ Tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sânkhấu giữa người đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật để sản xuất tác phẩmđiện ảnh, tác phẩm sân khấu với người tham gia sáng tạo và người sản xuất ra tácphẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu hoặc tranh chấp giữa họ với nhau về tiền nhuậnbút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác;
+ Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đãcông bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do việc sửdụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đếncác quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;
+ Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đãcông bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do người
sử dụng không trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thácbình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả;
+ Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyềntác giả hoặc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bản quyền tác giả;
+ Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền tác giả;
+ Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền tài sản quy định tại Điều 20 vàquyền nhân thân theo quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ;
+ Tranh chấp khác về quyền tác giả theo quy định của pháp luật
Thứ hai, các tranh chấp về quyền liên quan:
+ Tranh chấp giữa chủ đầu tư với người biểu diễn về quyền nhân thân vàquyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; tranh chấp giữa người biểu diễn với ngườikhai thác sử dụng các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn về tiền thù lao;
+ Tranh chấp giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với người thực hiệncác quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình về quyền lợi vật chất khi bản ghi
âm, ghi hình của nhà sản xuất được phân phối đến công chúng;
+ Tranh chấp giữa tổ chức phát sóng với người sử dụng các quyền của tổchức phát sóng về quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của tổ chức đóđược ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng;
Trang 39+ Tranh chấp giữa người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổchức phát sóng với người sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phảitrả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thácbình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và gâyphương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổchức phát sóng;
+ Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhàsản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng với người sử dụng quyền liên quankhông phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do người sử dụngkhông phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bìnhthường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và gây phươnghại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phátsóng;
+ Tranh chấp về quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghihình, chương trình phát sóng (tranh chấp ai là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn,bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đó );
+ Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền liên quan;
+ Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền liên quan;
+ Tranh chấp khác về quyền liên quan theo quy định của pháp luật
Thứ ba, các tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp:
+ Tranh chấp về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
Trang 40+ Tranh chấp về quyền tạm thời đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,thiết kế bố trí giữa người có quyền nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp, thiết kế bố trí với người đang sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đóhoặc tranh chấp về khoản tiền đền bù giữa chủ văn bằng bảo hộ với người đã sửdụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
+ Tranh chấp về quyền sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp giữachủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp với người sử dụng trước sáng chế, kiểudáng công nghiệp liên quan đến việc chuyển giao quyền đó cho người khác, mởrộng phạm vi, khối lượng sử dụng mà không được phép của chủ sở hữu đối tượng
sở hữu công nghiệp;
+ Tranh chấp về khoản tiền đền bù giữa chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểudáng công nghiệp; thiết kế bố trí với người sử dụng sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp; thiết kế bố trí trong khoảng thời gian từ ngày công bố đơn yêu cầu cấp vănbằng bảo hộ trên Công báo sở hữu công nghiệp đến ngày cấp văn bằng bảo hộ;
+ Tranh chấp về quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp (baogồm cả tranh chấp về phần quyền của các đồng chủ sở hữu);
+ Tranh chấp phát sinh từ các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; + Tranh chấp phát sinh từ các hành vi xâm phạm quyền của tác giả sángchế, kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí;
+ Tranh chấp về trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,thiết kế bố trí;
+ Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp; hợpđồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc tranh chấp về hợpđồng dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;
+ Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền sở hữu công nghiệp, quyền tài sảncủa tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí;
+ Tranh chấp phát sinh từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
+ Các tranh chấp khác về quyền sở hữu công nghiệp theo quy định củapháp luật