1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng bảo lãnh tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.DOC

35 650 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng bảo lãnh tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Tác giả Trần Thị Minh Hồng
Trường học Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 222 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao chất lượng bảo lãnh tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 NHTMCP NT VN: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

2 NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần

3 NHTMQD: Ngân hàng thương mại quốc doanh

4 NHTMNN: Ngân hàng thương mại nhà nước

5 NHTM: Ngân hàng thương mại

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Lý luận và thực tiễn là hai phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ bổ sung chonhau Việc học tập trong nhà trường nhằm tiếp thu các lý thuyết cơ bản để vậndụng vào thực tế Quá trình thực tập tại cơ sở thực tế là điều kiện để chúng emcác sinh viên năm cuối có cơ hội làm quen với môi trường làm việc

Trong quá trình thực tập tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thươngViệt Nam em đã có cơ hội được khảo sát các hoạt động kinh doanh chung của Sở

và các phòng ban cụ thể Qua đó em nhận thấy các vấn đề nổi bật của từngphòng ban để tập trung nghiên cứu, tìm và kiến nghị một số giải pháp đóng gópvới ngân hàng trong thời gian thực tập còn lại Sau đây em xin trình bày nhữngghi chép của em về cơ sở thực tập của mình

Kết cấu của báo cáo thực tập tổng hợp gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN

Chương 2: Hoạt động cơ bản của Sở giao dịch NH TMCP Ngoại thương VN Chương 3: Định hướng phát triển của Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương VN

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (NHNT) được chính thức thành lậpngày 01/04/1963 theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hàngtrên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương(nay là NHNN) Tại thời điểm này, NHNT đóng vai trò là ngân hàng chuyêndoanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đốingoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoạikhác (vận tải, bảo hiểm …), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lývốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trongcác quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ) …Bên cạnh đó, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sáchquản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ vớiNgân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

Trong thời gian 1964 - 1975 NHNTVN đã thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chủyếu là: phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa vàđóng góp một phần hết sức quan trọng cho cuộc chiến đấu giải phóng miền Namqua việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu chuyển tiền phục vụ cho việc mua sắm vũ khí,đạn dược, thuốc men cũng như lương thực, thực phẩm chi viện cho miền Nam

Ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã ra nghị định số53/HĐBT quy định rõ: NHNN là cơ quan của HĐBT được tổ chức thành hệthống thống nhất trong cả nước gồm 02 cấp: NHNN là cấp quản lý và các Ngânhàng chuyên doanh trực thuộc, gồm Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công

Trang 5

thương, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệpViệt Nam.

Đến ngày 14/11/1990, NHNT chính thức chuyển từ một ngân hàng chuyêndoanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại sang một NHTM NN hoạtđộng đa năng theo Quyết định số 403-CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch hộiđồng Bộ trưởng Với 02 pháp lệnh Ngân hàng được ban hành, Ngân hàng Ngoạithương từ vai trò độc quyền về kinh doanh ngoại hối chuyển vào môi trường tự

do cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác bao gồm cả các chi nhánhngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh

Ngày 21/9/1996, được sự uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốcNHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT theo môhình Tổng công ty 90,91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ

Ngày 2/6/2008, theo Quyết định số 138/GP-NHNN ngày 23/5/2008 củaThống đốc NHNN, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức chuyển đổithành từ Ngân hàng thương mại Nhà nước thành Ngân hàng thương mại cổ phầnlấy tên là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, tên đầy đủbằng tiếng Anh: Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam

Trải qua 45 năm hoạt động, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tụcgiữ vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và được xếp hạng là mộttrong 23 doanh nghiệp đặc biệt của Nhà nước Là ngân hàng thương mại phục vụđối ngoại lâu đời nhất ở Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luônđược biết đến như một ngân hàng đứng đầu về nguồn vốn và có uy tín trong cáclĩnh vực ngân hàng bán buôn, kinh doanh vốn, tài trợ thương mại, thanh toánquốc tế và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động ngân hàng

Mới đây, Vietcombank được tạp chí Asiamoney trao giải thưởng “Ngânhàng nội địa tốt nhất tại Việt Nam năm 2008”, Vietcombank cũng được nhậngiải thưởng “Ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thương mại tốt nhất ViệtNam năm 2008” theo bình chọn của độc giả tạp chí Trade Finance (thuộc tậpđoàn Euromoney Institutional Investor Group) thông qua cuộc khảo sát hàngnăm “Giải thưởng toàn cầu cho Ngân hàng tốt nhất” của tạp chí này

Trang 6

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Năm 1991, Sở giao dịch (SGD) NHNT TW được thành lập Trong thờigian đầu thành lập, SGD là đơn vị phụ thuộc NHNT TW (Hội sở chính), thựchiện các hoạt động của NHNT TW SGD đóng vai trò đầu mối thực thi chiếnlược phát triển các sản phẩm, dịch vụ của NHNT VN, là cầu nối cho NHNT VNvới khách hàng của mình

Ngày 20/1/2001, NHNT VN khai trương toà nhà VCB Tower tại địa chỉ

số 198 Trần Quang Khải, Hà Nội NHNT TW (Hội sở chính) và SGD NHNT

TW được đặt tại Trụ sở này

SGD đã thành lập thêm mạng lưới các phòng giao dịch trên khắp địa bànthành phố Hà Nội, đến nay đã có 21 phòng giao dịch; tăng thời gian giao dịch tạicác phòng giao dịch này để phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng đượcthuận lợi hơn

Cùng với toàn bộ hệ thống NHNT VN, SGD thực hiện đa dạng hoá vànâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ mới, đi đầu trong ngành ngân hàngnhư: thẻ rút tiền tự động ATM, thẻ tín dụng quốc tế Vietcombank MasterCarrd,thẻ tín dụng Vietcombank VISA, thẻ Amex; triển khai hệ thống dịch vụ VCBOnline và hệ thống giao dịch tự động (Connect 24), dịch vụ thương mại điện tử

“Vietcombank Cyber Bill Payment” (V-CBP); chấp nhận giao dịch thẻ VISA,thẻ MasterCard trên hệ thống giao dịch tự động VCB-ATM; thực hiện cácnghiệp vụ như quyền chọn (Option), bao thanh toán (Factoring), triển khai hoạtđộng bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng …

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, theo yêu cầu của Thủtướng Chính phủ về việc cổ phần hoá các Ngân hàng quốc doanh, trong đó cóNHNT VN Xác định chiến lược kinh doanh đồng thời đẩy nhanh quá trình cổphần hoá đi đôi với việc phát triển và chuyên môn hoá nghiệp vụ của các phòngban Ngày 28/12/2005, theo Quyết định số 1215/QĐ-NHNT.TCCB&ĐT của Hộiđồng Quản trị NHNT VN và tới ngày 01/01/2006, SGD được chính thức táchkhỏi Hội Sở chính, hoạt động như một chi nhánh, có tư cách pháp nhân, có condấu, có tài khoản riêng Sở giao dịch trở thành một chi nhánh được thực hiện tất

Trang 7

cả các nghiệp vụ ngân hàng của NHNT VN Sở giao dịch cùng các chi nhánhtrong toàn hệ thống trên cả nước sẽ không ngừng xây dựng và phát triển, phục vụtốt nhất các nhu cầu của khách hàng, góp phần thiết thực vào sự phát triển nềnkinh tế nước nhà.

Kể từ đây, toàn bộ giao dịch của các Tổng công ty sẽ do Hội sở chínhquản lý, còn giao dịch của tất cả các đối tượng khách hàng khác: doanh nghiệp,

cá nhân sẽ do Sở giao dịch thực hiện

Ngày 30/10/2008, Sở giao dịch NHTMCP Ngoại thương Việt Nam đãchính thức khai trương trụ sở hoạt động mới tại địa chỉ 31-33 Ngô Quyền,Phường Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Với trụ sở làm việc mới, SGD đãthêm một bước khẳng định sự độc lập, tự chủ trong hoạt động của mình

Bên cạnh hoạt động như một Chi nhánh Vietcombank với thị phần lớntrong nhiều lĩnh vực tại Hà Nội, Sở giao dịch còn là nơi tiên phong thực hiện cácchủ trương chính sách của VCB, đi đầu trong việc thử nghiệm và triển khai cácsản phẩm mới cũng như thực hiện một số nghiệp vụ đặc thù khác SGD luôn làđơn vị dẫn đầu trong toàn hệ thống VCB về quy mô huy động vốn, ngay cả trongnhững thời điểm̀ công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn SGD cũng là mộttrong hai đơn vị có đóng góp lớn nhất cho lợi nhuận của VCB

1.2 Cơ cấu tổ chức tại SGD NHNT VN

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của NHNT VN

Sau 45 năm hoạt động, NHNT đã phát triển thành một ngân hàng đa năngvới mạng lưới chi nhánh rộng khắp trên nhiều địa bàn, lĩnh vực, bao gồm:

 01 Hội sở chính, 01 Sở giao dịch, 60 chi nhánh và 197 Phòng giaodịch trên toàn quốc

 3 Công ty con ở trong nước:

Công ty Cho thuê Tài chính Vietcombank (VCB Leasing)

Trang 8

Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS)Công ty TNHH Cao ốc Vietcombank 198 (VCB Tower)

 Mạng lưới tại nước ngoài:

Công ty Tài chính Việt Nam - Hongkong (Vinafico)

VP đại diện ở Singapore

 3 Công ty liên doanh:

Công ty Quản lý quỹ Vietcombank (VCBF)Ngân hàng liên doanh Shihan Vina

Công ty Liên doanh TNHH Vietcombank - Bonday - Bến ThànhHoạt động của NHNT còn được hỗ trợ bởi mạng lưới giao dịch quốc tếlớn nhất trong số các ngân hàng Việt Nam với trên 1300 ngân hàng đại lý tại hơn

90 quốc gia và vùng lãnh thổ

Tổng số cán bộ thực tế đến ngày 31/12/2008 của VCB là 8.944 người.Hiện nay Chủ tịch Hội đồng quản trị là ông Nguyễn Hoà Bình (bổ nhiệmngày 23/5/2008) và tổng giám đốc NHTMCP Ngoại thương VN là ông NguyễnPhước Thanh (bổ nhiệm ngày 23/5/2008)

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thể hiệntrong bảng dưới đây:

Trang 9

Bảng 1: Mô hình tổ chức Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

UỶ BAN QUẢN LÝ RỦI RO BAN KIỂM SOÁT HĐQT

KIỂM TOÁN NỘI BỘ

TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ PHÓ TGĐ

PHÓ TGĐ

Quan hệ khách hàng

Đầu tư

dự án

Chính sách Tín dụng

Quản lý Rủi ro Công nợ

Thông tin Tín dụng Quản lý Nợ Quản trị Pháp chế

Quản lý XDCB Ban thi đua

Quản lý Thẻ

Chính sách &

SP bán lẻ

Bao Thanh toán

Tổng hợp Thanh toán Tài trợ Thương mại Tổng hợp &

PTích Ktế

Thông tin Tuyên truyền

Vốn

Kinh doanh Ngoại tệ

Quản lý vốn

& KDoanh Cphần

Quan hệ

NH đại lý

Trung tâm Tin học Qlý các

Đề án cnghệ

DVụ Tkhoản KH

Thanh toán Liên NH Quản lý Ngân quỹ Trung tâm Thanh toán

Kế toán Tài chính

Kế toán Hội sở Kiêm tra Nội bộ

Kế toán Quốc tế

Các đơn vị ở nước ngoài

Các công ty liên doanh

Trang 10

Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2007

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch NHNT VN

Lãnh đạo SGD NHNT VN gồm có 1 Giám đốc và 4 Phó Giám đốc phụtrách các mảng nghiệp vụ Hiện tại SGD có khoảng gần 700 nhân viên, với 42phòng chức năng trong đó có 5 phòng chuyên môn, 18 phòng nghiệp vụ đặt tạitrụ sở và 15 phòng giao dịch được đặt tại các địa điểm trên khắp Tp Hà Nội

Cơ cấu chức năng các phòng ban: gồm 5 nhóm

- Phòng hành chính quản trị: thực hiện công tác hành chính, quản trị tạiSGD Nghiên cứu, xây dựng, mở rộng phát triển mạng lưới của SGD trên địa bàn

hà nội và các vùng lân cận theo phương hướng kế hoạch mà ban lãnh đạo đã đề

ra cho từng giai đoạn cụ thể

- Phòng tin học: quản lý duy trì hệ thống công nghệ thông tin trong kinhdoanh của SGD đảm bảo hoạt động kinh doanh được duy trì ổn định

Trang 11

đánh giá mức độ rủi ro từ đó có quyết định cho vay hay không, xây dựng chínhsách QLRRTD, quản lý danh mục đầu tư…

- Phòng quản lý nợ: quản lý theo dõi, phát hiện xử lý dấu hiệu rủi ro cáckhoản nợ vay, …

Ba phòng trên là các phòng nghiệp vụ thực hiện cấp tín dụng theo mô thứcquản lý mới: tín dụng qua 3 phòng; có chức năng triển khai nghiệp vụ tín dụngđối với những phương án khách hàng của đối tượng khách hàng là các tổ chứctheo đúng các quy định, quy chế, thể lệ về cho vay hiện hành của NHNN VN vàNHNT VN

- Phòng đầu tư dự án: thực hiện cấp tín dụng trung và dài hạn cho cáckhách hàng tại SGD

- Phòng tín dụng trả góp và tiêu dùng: triển khai nhiệm vụ cho vay trả góp,tiêu dùng với đối tượng khách hàng là thể nhân (trừ các nghiệp vụ tín dụng thôngqua thanh toán thẻ)

- Phòng tín dụng cho DN nhỏ và vừa: thực hiện triển khai nghiệp vụ chovay đối với những phương án kinh doanh của đối tượng khách hàng là các doanhnghiệp nhỏ và vừa

- Phòng Bảo lãnh: thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh và táI bảo lãnh củaSGD đối với khách hàng

- Phòng vay nợ viện trợ: có chức năng quản lý và thực hiện các nghiệp vụthanh toán đối ngoại sử dụng nguồn vốn vay viện trợ ODA

1.2.2.4 Nhóm kinh doanh dịch vụ

Trang 12

- Phòng thanh toán thẻ: thực hiện việc phát hành và thanh toán các loại thẻquốc tế, thẻ Vietcombank tại SGD

- Phòng Hối đoái: có chức năng phục vụ các đối tượng khách hàng là cánhân bao gồm: Quản lý hồ sơ thông tin tài khoản, thông tin khách hàng; Quản lý

và thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi, tiền vay của kháchhàng là cá nhân; Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiền tệ, thanh toán đốingoại với khách hàng là cá nhân; Thực hiện các chuyển tiền trong nước củakhách hàng là cá nhân, quản lý các chứng từ có giá phục vụ cho nghiệp vụ củaphòng

- Phòng tiết kiệm: thực hiện công tác huy động vốn tiết kiệm bằng VNĐ

và ngoại tệ tại SGD

- Phòng ngân quỹ: có chức năng triển khai thực hiện công tác quản lý giấy

tờ có giá tại SGD, thu chi tiền mặt VNĐ và ngoại tệ

- Phòng vốn và kinh doanh ngoại tệ: thực hiện quản trị và điều hành lãisuất tỷ giá, phí, huy động và kinh doanh vốn VNĐ và ngoại tệ tại SGD

- Phòng khách hàng đặc biệt: chức năng tham mưu cho ban giám đốctrong việc xây dựng chính sách đối với khách hàng thể nhân và cung cấp dịch vụtài chính ngân hàng cho khách hàng đặc biệt của SGD (là các khách hàng thểnhân có số dư tiền gửi lớn, hoặc cán bộ cao cấp Nhà nước, lãnh đạo các bộngành …)

- Phòng kế toán giao dịch: có chức năng phục vụ đối tượng khách hàng là

tổ chức (cư trú và không cư trú) có quan hệ với SGD

- Tổ quản lý quỹ ATM: có chức năng cung ứng các dịch vụ, làm đầu mối

xử lý các sự cố hoặc đề xuất xử lý các sự cố phát sinh để đảm bảo cho hoạt độngcủa hệ thống máy ATM của SGD

- Tổ phát triển nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ: có chức năng nghiên cứu việccung cấp các sản phẩm dịch vụ, mở rộng phát triển mạng lưới bán lẻ

Trang 13

1.2.2.5 Các phòng giao dịch (PGD)Các PGD là đơn vị hạch toán báo sổ trực thuộc SGD, hoạt động trên địabàn TP.Hà Nội chịu sự quản lý giám sát trực tiếp của Giám đốc SGD; có chứcnăng thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn tiết kiệm, cho vay khách hàng là các

cá nhân, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán dịch vụ vãng lai trên địa bàn và cácnghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi của các phàp nhân

Giữa các phòng ban của SGD có quan hệ mật thiết với nhau Phòng thammưu hỗ trợ các phòng khác hoạt động liên tục liền mạch, Phòng nghiệp vụ phảiphối hợp phòng tham mưu để quá trình thực hiện nghiệp vụ diễn ra thuận lợi trôichảy, có tổ chức Mặc dù độc lập thực hiện nghiệp vụ của phòng mình nhưnggiữa các phòng nghiệp vụ này vẫn có sự liên hệ phối hợp làm việc với nhau, quytrình làm việc trong nội bộ SGD được tiến hành chính xác như một dây chuyền

mà mỗi phòng ban là một mắt xích Các phòng giao dịch tuy được đặt ở nhiềuđịa điểm khác nhau, không tập trung cùng địa điểm với SGD nhưng hoạt độnglại liên quan mật thiết với phòng Ngân quỹ, các phòng Hành chính Quản trị

Trang 14

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG

VIỆT NAM

2.1 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Nếu như năm 2007, kinh tế Việt Nam có diễn biến khá thuận lợi, đạt tốc

độ tăng trưởng 8.44%, hoạt động xuất nhập khẩu tăng mạnh, đồng thời sức hútcủa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng, tuy nhiên ngânhàng cũng phải đối mặt với vô vàn thách nhức như thị trường chứng khoán, bấtđộng sản, vàng biến động bất thường, cũng như tình trạng lạm phát cao xuấthiện Trong bối cảnh ấy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vẫn duy trì được vịtrí ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động hiệu quả nhất Tổng tài sản củaNHNT đạt 197.408 tỷ đồng, tăng 18,1% so với năm 2006 Lợi nhuận trước thuế

từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong năm 2007đạt 4.136 tỷ đồng, tăng 10,3% so với năm 2006 Lợi nhuận sau thuế của NHNT

là 2.407 tỷ đồng

Bước sang năm 2008, Ngân hàng Ngoại thương đã trở thành Ngân hàngthương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt nam Sự kiện này là dấu ấnquan trọng trong tiến trình phát triển của Ngân hàng Ngoại thương, đồng nghĩavới việc NHNT đang chuyển mình hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng hoạtđộng, tăng cường sức cạnh tranh, sẵn sàng cho việc hội nhập với hệ thống tàichính khu vực và thế giới

Trong năm 2008, ngành ngân hàng nói chung và NHTMCP Ngoại thương

Trang 15

mặt với lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm do đó việc thắt chặt tiền tệ

đã gây khó khăn không nhỏ cho ngân hàng Đồng thời cuộc khủng hoảng tàichính ở Mỹ đã lan rộng ra toàn cầu, ảnh hưởng và tác động đến hầu hết các nướctrên thế giới, trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó, tình hình trong nước có nhiềuyếu tố bất lợi Hoạt động của các ngân hàng thương mại chịu tác động nhiều nhất

do các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ, thị trường vàng, ngoại

tệ, bất động sản thiếu ổn định, tình hình lãi suất, thanh khoản biến độngbất thường, thị trường chứng khoán mất điểm tới 70%-80% Ngoài ra, NH NTcòn phải đối mặt với sự cạnh tranh các ngân hàng trong nước (thể hiện qua sựliên minh giữa các ngân hàng) và các ngân hàng nước ngoài với lợi thế là vốnlớn, có tiềm lực tài chính và quản lý Tuy nhiên năm vừa qua NHTMCP Ngoạithương Việt Nam vẫn đã nỗ lực hoàn thành thắng lợi ở một số chỉ tiêu kinhdoanh, đồng thời được vinh dự đón nhận Giải thưởng và Cúp Vàng “Công ty cổphần hàng đầu Việt Nam” Tính đến cuối năm 2008, lợi nhuận sau thuế của ngânhàng đạt 1.215 tỷ đồng Tổng tài sản của Ngân hàng tại thời điểm 31/12/2008 đạt220.000 tỉ đồng, cao hơn 20.000 tỉ đồng so với chỉ tiêu điều chỉnh đã được Đạihội cổ đông thông qua

Trang 16

đạt 111.642 tỷ đồng, chỉ tăng nhẹ so với cuối năm 2007 Chỉ tiêu nợ xấu có xuhướng tăng lên so với năm 2007, tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2008 là 4.6%, một phần

là do sự sửa đổi chặt chẽ hơn của Ngân hàng Nhà nước, một phần là do tìnhtrạng kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp đặc biệt trong năm 2008 -năm của rất nhiều những biến động

Công tác trích lập sử dụng dự phòng rủi ro được thực hiện nghiêm túcnhằm đảm bảo tính lành mạnh của hoạt động cho vay; chất lượng tín dụng đượcchú ý, quan tâm

2.1.3 Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh vốn

Với thế mạnh hàng đầu trong thanh toán quốc tế và mạng lưới ngân hàngđại lý rộng khắp toàn cầu, mặc dù phải đương đầu với sức ép cạnh tranh ngàycàng gia tăng từ các ngân hàng thương mại khác, Ngân hàng Ngoại thương tiếptục khẳng định vị trí là ngân hàng thanh toán xuất nhập khẩu hàng đầu tại ViệtNam với doanh số được duy trì ở mức cao, chiếm 25% thị phần thanh toán XNK

cả nước

Về hoạt động kinh doanh ngoại tệ, Ngân hàng Ngoại thương đã linh hoạtthay đổi lãi suất huy động USD và điều chỉnh tỷ giá mua, bám sát diễn biến thịtrường trong nước và quốc tế, áp dụng các biện pháp điều tiết mua ngoại tệ của

hệ thống một cách hợp lý để hạn chế rủi ro

2.1.4 Hoạt động khác

Là ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực thẻ nói chung và lĩnh vực thẻghi nợ nội địa nói riêng, đến nay, Vietcombank hiện đang phục vụ hơn 3 triệukhách hàng trên toàn quốc với mạng lưới máy ATM rộng lớn lên đến 1,250 máy

Với mục tiêu đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, không chỉdừng lại việc mở rộng mạng lưới ATM của riêng mình, trong năm 2008,Vietcombank đã kết nối thành công với liên minh thẻ Banknet và Smartlink giúpkhách hàng của Vietcombank ngoài việc sử dụng thẻ tại hệ thống ATM củaVietcombank mà còn có thể sử dụng thẻ để rút tiền và truy vấn số dư tài khoảntại hệ thống ATM của các ngân hàng khác Hoạt động của liên minh thẻ

Trang 17

Vietcombank luôn được duy trì ổn định, đảm bảo độ an toàn và tin cậy cao chocác giao dịch thẻ

Về hệ thống chi nhánh và các phòng giao dịch, Ngân hàng ngoại thương

đã hoàn thành được chỉ tiêu 60 chi nhánh vào cuối năm 2008, tăng số phòng giaodịch lên 197 PGD, nhằm tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu giao dịch ngàycàng tăng mạnh

Về hoạt động phát triển nhân sự, các khoá đào tạo nâng cao năng lực quảntrị điều hành cũng như đào toạ nghiệp vụ chuyên sau thường xuyên được Ngânhàng chú trọng Đội ngũ lao động tại Ngân hàng Ngoại thương giảm gần 400người so với năm 2007, tuy nhiên việc cơ cấu lại tổ chức nhằm hướng hoạt độngcủa Ngân hàng hướng tới chú trọng hiệu quả và chất lượng

2.2 Hoạt động cơ bản của Sở giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Từ đầu năm 2006, SGD tách ra hoạt động độc lập, bên cạnh những thuậnlợi về thương hiệu và ưu thế của SGD trước đây, SGD cũng gặp nhiều khó khăn

do xáo trộn về tổ chức, nhiều nghiệp vụ mới được đưa ra thực hiện, khách hànglớn chuyển lên TW (Hội sở chính) quản lý khiên cho xuất phát điểm của SGDtính đến cuối năm 2005 là thấp Bên cạnh đó, tình hình kinh tế trong nước vàquốc tế trong năm 2008 không mấy khả quan, đồng thời sự cạnh tranh của cácngân hàng trong nước và ngoài nước gia tăng chính là lực cản đối với hoạt độngcủa Ngân hàng Ngoại thương nói chung và Sở giao dịch nói riêng

Tuy nhiên, SGD vẫn là một trong những chi nhánh lớn nhất trong hệ thốngNHTMCP Ngoại thương Việt Nam, với hệ thống 15 phòng giao dịch và khoảng

144 máy ATM được đặt tại các điểm giao dịch thuận tiện, đảm bảo cung cấp đếnkhách hàng những dịch vụ hiện đại, tiện ích cùng chất lượng dịch vụ tốt nhất.Đồng thời SGD luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động huy động vốn vàthanh toán xuất nhập khẩu cũng như đóng góp lớn cho lợi nhuận của toàn ngânhàng

Ngày đăng: 03/09/2012, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   1   -   Mô   hình   tổ   chức   Ngân   hàng   Ngoại thương Việt Nam,  Nguồn: Báo cáo thường niên - Nâng cao chất lượng bảo lãnh tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.DOC
ng 1 - Mô hình tổ chức Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Nguồn: Báo cáo thường niên (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w