ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ 2 ĐỀ BÀI Quy định về phân loại tội phạm (tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm tr[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỌC PHẦN : LUẬT HÌNH SỰ 2
ĐỀ BÀI : Quy định về phân loại tội phạm (tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) được thể hiện trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 2015.
Hà Nội – 06/2021
Trang 2
MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
2 Nội dung chính 1
2.1 Một số vấn đề chung về phân loại tội phạm 1
2.1.1 Phân loại tội phạm và ý ngĩa của việc phân loại tội phạm 2
2.1.2 Các cách thức phân loại tội phạm 4
2.2 Quy định về phân loại tội phạm trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 2015 9
2.2.1 Phân loại tội phạm sử dụng làm căn cứ xây dựng các chương, mục của phần các tội phạm trong Bộ luật hình sự 9
2.2.2 Phân loại tội phạm được sử dụng làm căn cứ cho các cấu thành tội phạm cụ thể 10
2.3 Quy định về phân loại tội phạm của một số quốc gia trên thế giới 13
2.3.1 Phân loại tội phạm theo Luật hình sự Liên bang Nga 13
2.3.2 Phân loại tội phạm trong luật hình sự của Cộng hoà Liên bang Đức. .14
2.4 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về phân loại tội phạm 16
3 Kết luận 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 31 Mở đầu.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậtHình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thươngmại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa mà theo quy định của Bộ luật Hình sự phải bị xử lý hình sự Nghiêncứu về tội phạm là vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của Luật Hình sự ViệtNam Bởi lẽ, tội phạm là đối tượng đấu tranh chống và phòng ngừa của chínhsách hình sự của Nhà nước Do đó, việc phân loại tội phạm có ý nghĩa rấtquan trọng trong việc quy định các nguyên tắc xử lý, thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện ápdụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp
Phân loại tội phạm còn là cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự, quyđịnh khung hình phạt, bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự vàhình phạt Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quyđịnh một số chế định tạm giam, tạm giữ trong BLHS Phân loại tội phạmtrong pháp luật hình sự là chia những hành vi nguy hiểm trong xã hội bị phápluật hình sự cấm thành từng loại nhất định theo những tiêu chí này hay nhữngtiêu chí khác để làm tiền đề cho cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạthoặc tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt Có thể nói, Bộ luật Hình sựnăm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có rất nhiều điểm mới và sựthay đổi, đặc biệt là những quy định về phần tội phạm, phân lọai tội phạm.Điều này góp phần tích cực cho hoạt động cải cách tư pháp trong nền Phápluật Việt Nam nói chung và việc áp dụng, thực thi Bộ luật Hình sự nói riêngvào đời sống xã hội hiện nay
Trang 42 Nội dung chính.
2.1 Một số vấn đề chung về phân loại tội phạm.
2.1.1 Phân loại tội phạm và ý ngĩa của việc phân loại tội phạm
Tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự của Việt Nam rất đa dạng,phức tạp, xâm phạm đến các nhiều các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội Phân loại tội phạm là vấn đề cực kỳ cần thiết bởi việc phân loại tội phạm
để thực hiện chính sách pháp luật hình sự có phân biệt; sắp xếp, hệ thống hóacác tội phạm trong Bộ luật hình sự theo từng chương, bảo đảm tính khoa học,thuận lợi cho việc áp dụng Phân loại tội phạm căn cứ vào các yếu tố như tínhchất và mức độ nguy hiểm, theo hình thức lỗi, theo khách thể xâm hại là cơ sở
để từ đó quy định hình phạt và áp dụng hình phạt cũng như các biện pháptrách nhiệm hình sự khác; thực hiện nguyên tắc phân hoá trong chấp hànhhình phạt đối với các loại tội phạm… 1
Ngoài ra việc phân loại tội phạm còn nhằm mục đích áp dụng, thực hiệncác chế định khác nhau của pháp luật tố tụng hình sự như biện pháp ngănchặn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho phù hợp với tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của tội phạm; xác định thời hạn điều tra, thời hạn tạmgiam, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn xóa án tích cho phù hợp với tính chất,mức độ nguy hiểm của các tội phạm cụ thể; thực hiện các loại thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng 2
Như vậy, có thể thấy phân loại tội phạm là việc phân chia các tội phạmthành những nhóm khác nhau dựa trên những tiêu chí và nhằm những mụcđích nhất định Phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa tráchnhiệm hình sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này đượcđặt ra trong các bộ luật Việc phân loại tội phạm không chỉ hỗ trợ cho việc ápdụng đúng luật mà còn giúp nhà làm luật khi xây dựng pháp luật còn có thể
1 Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), (tái bản lần thứ nhất – 2003), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
2 Lê Cảm (chủ biên) (2001), Sđd, tr 75.
Trang 5dựa vào tính nguy hiểm cho quan hệ xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằmbảo vệ cho chế độ chính trị hiệu quả hơn.
Phân loại tội phạm có ý nghĩa là cơ sở để xác định và xây dựng các chếđịnh khác nhau của luật hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho xã hội củatội phạm, hình thức lỗi hoặc tính chất khách thể bị xâm hại; xác định chínhsách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể… Cụ thể là:
Thứ nhất, xác định và xây dựng hệ thống hình phạt trong phần chungcũng như cụ thể hoá trong chế tài các tội phạm Ví dụ: Các hình phạt tù chungthân, tử hình chỉ quy định và áp dụng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều
39, 40 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); hình phạt cảnh cáo chỉ
áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng (Điều 34 BLHS năm 2015, sửa đổi bổsung năm 2017);
Thứ hai, xác định chính sách xử lý trong những trường hợp đặc biệt nhưtuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS); đường lối xử lý đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội (Chương XII BLHS); chính sách xử lý hành vi chuẩn bịphạm tội…;
Thứ ba, phân loại tội phạm là cơ sở để xây dựng các chế định khác nhau củaBLHS Ví dụ: Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạmnghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diệncủa người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì
có thể được miễn trách nhiệm hình sự (Khoản 3 Điều 29 BLHS)
Phân loại tội phạm còn mang ý nghĩa đối với việc áp dụng nhiều quyphạm phần chung và phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, như: chế địnhtuổi chịu trách nhiệm hình sự, chế định các giai đoạn phạm tội, chế định thờihiệu truy cứu trách nhiệm hình sự…3 Chẳng hạn, theo quy định của pháp luậthình sự, những người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếutội họ chuẩn bị phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng,
tr 97.
Trang 6người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêmtrọng;
Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa chi phối đối với việc ápdụng một số chế định của luật tố tụng hình sự Việc giữ người trong trườnghợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn
bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; các quyết định
về thời hạn tố tụng như thời hạn điều tra, truy tố, xét xử; thời hạn áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn…
2.1.2 Các cách thức phân loại tội phạm.
a) Phân loại tội phạm căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
Các quy định ở phần các tội phạm luôn đi kèm với các chế tài đối với từngloại tội phạm cụ thể đây là kết quả của tính chất, mức độ nguy hiểm của loạitội phạm đó Do đó, hình phạt được quy định trong chế tài luôn thể hiện đầy
đủ, chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm chung của tội phạm đó Vì vậy,việc phân loại tội phạm cơ bản được thực hiện theo tiêu chí tính chất và mức
độ nguy hiểm của tội phạm Để có thể nhận biết tội phạm được quy địnhthuộc loại nào thì cần căn cứ vào chế tài được quy định đối với tội phạm đó.Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm thông qua chế tài đượcquy định, tội phạm được chia thành 4 loại:
- Tội phạm ít nghiêm trọng: theo quy định tại khoản 2 Điều 9 BLHS đó là tộiphạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức caonhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền,phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm
- Tội phạm nghiêm trọng: theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 BLHS đó là tộiphạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất củakhung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến
07 năm tù
Trang 7- Tội phạm rất nghiêm trọng: theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 BLHS đó làtội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức caonhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07năm đến 15 năm tù
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 BLHS
đó là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn màmức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từtrên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Việc phân loại tội phạm theo căn cứ này nhằm để xác định tội phạm theotính chất và mức độ nguy hiểm, từ đó quy định hình phạt và áp dụng hìnhphạt
b) Phân loại căn cứ vào hình thức lỗi
Căn cứ vào hình thức lỗi có thể phân loại tội phạm thành tội phạm đượcthực hiện do lỗi cố ý và tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý Cố ý phạm tội làphạm tội trong những trường hợp sau đây:
- Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (Lỗi cố ýtrực tiếp) - Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mongmuốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Lỗi cố ý gián tiếp) Ngoài ra, các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự có thể phân tíchcác hình thức cố ý phạm tội như: cố ý có dự mưu và cố ý đột xuất; cố ý xácđịnh và cố ý không xác định Việc xác định hình thức này không có ý nghĩatrong việc định tội mà có ý nghĩa để đánh giá về tính chất mức độ của hành vikhi xác định khung hình phạt Cố ý có dự mưu là trường hợp trước khi thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi đó đã suy nghĩ, tính toáncẩn thận mới bắt tay vào việc thực hiện tội phạm Cố ý đột xuất là trường hợpmột người vừa có ý định phạm tội đã thực hiện ngay ý định đó Cố ý xác định
là trường hợp khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi
Trang 8đã xác định được hậu quả cụ thể xảy ra Cố ý không xác định là trường hợpkhi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi không hìnhdung cụ thể hậu quả xảy ra như thế nào
Theo quy định tại Điều 11 BLHS năm 2015 thì vô ý phạm tội được hiểu làviệc người thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp sau:
- Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguyhại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngănngừa được
- Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quảnguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.Khoa học pháp lý hình sự có đặt ra một số hình thức vô ý phạm tội sau đây:
- Vô ý vì cẩu thả: là trường hợp do cẩu thả mà người phạm tội không thấytrước khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấytrước hoặc có thể thấy trước Tiêu chuẩn để xác định một người phải thấytrước và có thể thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội là căn cứ vàohoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra sự việc, một người bình thường cũng có thể thấytrước; ngoài ra còn phải căn cứ độ tuổi, trình độ nhận thức, trình độ văn hóa,tay nghề, chuyên môn…
- Vô ý vì quá tự tin: là trường hợp người phạm tội thấy trước được hành vicủa mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng tin rằng hậu quả
đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả đó vẫn xảyra
c) Phân loại căn cứ vào khách thể loại của tội phạm.
Khách thể của tội phạm là các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luậthình sự bảo vệ và các quyền lợi này bị tội phạm xâm hại.4 Theo quy định củapháp luật hình sự Việt Nam thì những quyền và lợi ích đó cụ thể bao gồm:độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chế độ chínhtrị; nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích
4 Lê Cảm (chủ biên) (2001), Sđd, tr 86.
Trang 9hợp pháp của tổ chức; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp kháccủa công dân Như vậy dựa vào sự phân loại trên chúng ta có thể phân chiacác loại khách thể bị tội phạm xâm hại thành các nhóm khách thể sau:
- Khách thể chung của tội phạm: là tổng hợp tất cả các quyền, lợi ích hợppháp bị tội phạm xâm hại và được pháp luật uật hình sự bảo vệ Khách thểchung của tội phạm được xác định tại Điều 8 BLHS năm 2015 và bất cứ hành
vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại đến khách thể chung được xác địnhtại Điều 8 BLHS Chính vì vậy, thông qua khách thể chung, chúng ta có thểthấy được nhiệm vụ của Bộ luật hình sự hay nói đúng hơn là thấy được chínhsách hình sự của một quốc gia
- Khách thể loại của tội phạm: là nhóm quyền, lợi ích cùng tính chất được mộtnhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâmhại
- Khách thể trực tiếp của tội phạm: là một hoặc một số quyền, lợi ích cụ thể bịhành vi phạm tội cụ thể xâm hại Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe doạgây thiệt hại đối với khách thể trực tiếp mà tội phạm đã gây phương hại đếnkhách thể chung và khách thể loại của tội phạm Một tội phạm có thể xâm hạiđến nhiều khách thể khác nhau nhưng không phải lúc nào tất cả các khách thể
đó đều được xem là khách thể trực tiếp Khách thể chính khi đó là quan hệ xãhội mà tội phạm gây thiệt hại thể hiện được đầy đủ bản chất của hành vi vàtính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Mỗi tội phạm thường xâm hại mộtkhách thể chính trực tiếp; nhưng trong một số trường hợp, nếu một tội phạmxâm phạm đến nhiều khách thể mà xâm phạm đến khách thể nào cũng thểhiện được bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các khách thể
đó đều là khách thể chính Một tội phạm có thể có một khách thể trực tiếphoặc nhiều khách thể trực tiếp Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp khihành vi phạm tội xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội mà việc xem xét sự gâythiệt hại đối với bất cứ một quan hệ xã hội nào cũng không thể hiện đầy đủbản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và nhiều khách thể đó luôn bị
Trang 10xâm hại ở mọi trường hợp phạm tội Ví dụ: hành vi cướp tài sản vừa xâm hạiđến quan hệ nhân thân vừa xâm hại đến quan hệ sở hữu.
d) Phân loại căn cứ vào chủ thể của tội phạm.
Khác với Bộ luật hình sự năm 1999, hiện nay theo quy định của Bội luậthình sự năm 2015 thì chủ thể của tội phạm sẽ bao gồm thể nhân và pháp nhân.Như vậy có thể phân chia tội phạm thành hai loại, bao gồm:
- Thể nhân là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mộtcách cố ý hoặc vô ý, khi phạm tội không ở trong tình trạng không có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự Tuynhiên, không phải bất kỳ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộicũng là tội phạm mà chỉ khi nào thỏa mãn các điều kiện nhất định như khiphạm tội không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự,phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định Ngoài ra, trong một
số loại tội phạm có chủ thể đặc biệt thì pháp luật hình sự yêu cầu chủ thể đó là
cá nhân phải có thêm các dấu hiệu khác như chủ thể có chức vụ, quyền hạn, làchủ thể xác định như điều tra viên, kiểm sát viên
- Pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêuchính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên Phápnhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác có tưcách pháp nhân Đây là chủ thể đặc biệt, theo quy định của pháp luật hình sự,pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điềukiện quy định tại Điều 75 như sau: Hành vi phạm tội được thực hiện nhândanh pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích củapháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điềuhành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; Chưa hết thời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS;pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội nhất địnhđược quy định cụ thể tại Điều 76 BLHS năm 2015
e) Phân loại căn cứ vào cấu trúc của cấu thành tội phạm.