Bài viết Điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng thực vật làm gia vị của đồng bào dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La được nghiên cứu nhằm xác định thành phần và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm gia vị của đồng bào dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Trang 1ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG
THỰC VẬT LÀM GIA VỊ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI
TẠI HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
Bùi Thu Hà 1,* , Nguyễn Thị Hồng Ngọc 1 , Tạ Mỹ Ngọc 1 , Nguyễn Khánh Diệp 1 ,
Trần Thùy Linh 1 , Vũ Thị Dung 1 , Vũ Anh Thương 2 , Bùi Văn Thanh 2 Tóm tắt Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định thành phần và kinh nghiệm sử
dụng các loài thực vật làm gia vị của đồng bào dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh
Sơn La Các phương pháp phỏng vấn, nghiên cứu thực vật truyền thống và phương
pháp điều tra thực vật dân tộc học được sử dụng trong quá trình nghiên cứu tại 4
xã: Dồm Cang, Nậm Lạnh, Mường Và, Sốp Cộp Kết quả ghi nhận được 30 loài thực
vật làm gia vị thuộc 24 chi, 16 họ thực vật trong ngành Ngọc lan Bộ phận của các
loài thực vật được dùng làm gia vị của người dân tộc Thái tương đối đa dạng Hai
loài Giổi (Magnolia hypolampra (Dandy) Figlar) và Mắc khén (Zanthoxylum rhetsa
(Roxb.) DC.) được đánh giá là loài thực vật cho gia vị đặc trưng, gắn liền với nhiều
hoạt động văn hóa ẩm thực của dân tộc Thái
Từ khóa: Gia vị, dân tộc Thái, Giổi, Mắc khén
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây gia vị là các cây mà sản phẩm của chúng như lá, hoa, quả, hạt,… thường có chứa tinh dầu được dùng trong bữa ăn để tăng thêm khẩu vị của các món ăn Trong đời sống hằng ngày, từ xa xưa cây gia vị còn được sử dụng để tắm, làm thuốc chữa bệnh và là nguồn dược liệu thiết yếu, đặc biệt trong y học phương Đông Các loại gia vị được sử dụng nhiều trong hệ thống thuốc truyền thống như: Gừng, Nghệ, Quế, Đinh hương Ngày nay, tinh dầu của nhiều loài gia vị được sử dụng trong liệu pháp hương thơm để làm giảm triệu chứng của các bệnh khác nhau như đau nhức, các vấn đề như trầm cảm, căng thẳng,
lo âu Ví dụ, tinh dầu của Mùi tây và Bạc hà giúp giảm đau, tinh dầu Sả chanh giúp giảm căng thẳng, mệt mỏi,… Ngoài ra, một số loài cây gia vị còn mang lại giá trị thương mại như Bạc hà, Nghệ, Ớt và Tiêu đen [V.V.Chi 2012, Đ.T.Lợi, 2000]
Trong các công trình nghiên cứu trước đây thường tập trung vào việc điều tra về việc sử dụng thực vật làm thuốc chữa bệnh của các dân tộc khác nhau hoặc điều tra thành phần loài và đánh giá mức độ đa dạng của các taxon thực vật được sử dụng làm thuốc, ít các công trình nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật làm gia vị như thế nào và loài thực vật nào gắn liền với truyền thống món ăn của các dân tộc Việt Nam nói chung và dân tộc Thái nói riêng thì hiện có rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung này
Ở nước ta có rất nhiều loại gia vị đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng miền trên khắp đất nước Mỗi nơi lại có cách điều chế, sử dụng riêng của mình Sốp Cộp là huyện
1 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*Email: habt@hnue.edu.vn
Trang 2vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Sơn La bao gồm 8 xã, là huyện đặc biệt khó khăn, nằm xa các trung tâm kinh tế, văn hoá, xa tỉnh lỵ Người dân ở đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số gồm dân tộc Thái 57 %, dân tộc H’Mông 25%, dân tộc Khơ Mú 7 %, dân tộc Lào 7 %, Kinh 3,5 %, dân tộc khác 3,5 % (Vũ Thị Liên và cộng sự, 2015) Dân tộc Thái - dân tộc chiếm số lượng người nhiều nhất tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La còn lưu trữ nhiều kinh nghiệm quý báu về sử dụng thực vật làm gia
vị Tuy nhiên, kinh nghiệm sử dụng các loài cây làm gia vị của đồng bào dân tộc Thái hiện nay đa số chỉ lưu truyền nội bộ, do đó những kinh nghiệm dân gian này đang ngày càng mai một
Vì vậy, nghiên cứu về tri thức sử dụng thực vật làm gia vị của đồng bào dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La là rất cần thiết, góp phần phát triển văn hóa truyền thống
và tri thức về thực vật của các dân tộc Việt Nam và lưu giữ tri thức và kinh nghiệm trong việc sử dụng thực vật làm gia vị của đồng bào các dân tộc Thái
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Các loài thực vật được đồng bào dân tộc Thái sử dụng làm gia vị tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu từ các nguồn thông tin đáng tin cậy như các sách về thực vật ăn được, thực vật làm gia vị, báo cáo khoa học, tạp chí khoa học,… (P.H Hộ, 1999; V.V.Chi 2012; Đ.T Lợi 2000) Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cùng các tài liệu có liên quan đến thực vật được sử dụng làm gia vị ở khu vực nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia: Dựa và kinh nghiệm của các chuyên gia trong việc xác định tên loài theo tiếng Thái, dựa vào các đặc điểm hình thái mà các chuyên gia xác định tên khoa học của các mẫu thực vật thu hái trong quá trình điều tra
Phương pháp nghiên cứu thực vật học được thực hiện thu mẫu thực vật theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) để định tên khoa học
Phương pháp điều tra phỏng vấn: Theo các phương pháp nghiên cứu thực vật dân tộc học Gary J Martin (2002) gồm phương pháp RRA (RRA-Rural Rapid Appraisal- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn) và phương pháp PRA (PRA- Participatory Rural Appraisal - Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân) Đối tượng phỏng vấn là người đồng bào dân tộc Thái có kinh nghiệm sử dụng, chế biến các loài cây làm gia vị Tổng số người cung cấp thông tin: 35 người tại 4 xã (Dồm Cang, Nậm Lạnh, Mường Và, Sốp Cộp) trong mỗi đợt điều tra Tổng số đợt điều tra 3 đợt với tổng số phiếu điều tra thu được là 100 phiếu
Phân tích và xử lí số liệu: các thông tin từ các phiếu điều tra thu thập được, thông tin được mã hóa, trình bày logic, thống kê và biểu diễn bằng phần mềm excel Số liệu thu thập đươc, tổng hợp kết hợp phương pháp so sánh và đưa ra nhận xét, đánh giá
Trang 33 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài thực vật được cộng đồng dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La khai thác, sử dụng làm gia vị
Qua quá trình điều tra, thu thập và định loại mẫu, chúng tôi thu được 29 loài, 24 chi,
16 họ thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Kết nghiên cứu thể hiện trong Bảng 1
Các loài thực vật làm gia vị tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La thuộc ngành Ngọc lan
Từ kết quả ở Bảng 1 cho thấy: Thực vật được cộng đồng dân tộc Thái làm gia vị rất
đa dạng về họ Chỉ trong tổng số 29 loài cây cho gia vị thuộc ngành Ngọc lan chúng tôi tìm được chúng phân bố trong 16 họ thực vật khác nhau thuộc 2 lớp Ngọc lan và Hành Trong đó, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) chiếm đa số với 81,25 % về số họ; 79,17 % về số chi và 68,97 % về số loài Ở lớp này, có
các loài là gia vị đặc trưng của người dân tộc Thái nơi đây như: Rà đẹt lửa (Mayodendron igneum), Xáo một hoa (Paramignya monophylla), Mắc khén (Zanthoxylum rhetsa)
Lớp Hành (Liliopsida) hay còn gọi là lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) chiếm tỉ trọng thấp hơn hẳn, số họ chỉ là 3, chiếm 18,75 %; số chi 4, chiếm 20,83 % và số loài có 9 loài, chiếm 31,03 % gồm các cây gia vị thuộc họ Thủy Tiên và họ Gừng Một số loài được
người Thái sử dụng làm gia vị ở lớp này có: Hẹ (Allium tuberosum), Gừng (Zingiber officinalis), Cọ kha - tên tiếng Thái (Alpinia sp.)
Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 4 họ có số lượng loài nhiều nhất là: Họ Gừng với
số lượng là 5 loài chiếm 17,24 %, tiếp theo họ Cam với số lượng là 4 loài chiếm 13,79 %,
họ Thủy tiên và họ Hoa môi với số loài là như nhau: 3 loài cùng chiếm 10,34 % tổng số loài thực vật được cộng động người dân tộc Thái làm gia vị
Đa dạng về dạng thân của thực vật làm gia vị:
Đối với mỗi loài cây đều có sự thích nghi với môi trường và được thể hiện qua các dạng thân Vì vậy, việc phân tích đặc điểm hình thái thân của cây cũng có ý nghĩa trong việc giúp định hướng khai thác mục đích sử dụngcũng như trong công tác quản lý gây trồng bảo tồn và phát triển loài
Kết quả tổng hợp các dạng thân sau quá trình thực địa tại khu vực nghiên cứu của các loài thực vật làm gia được chia thành 3 nhóm là thân thảo, thân gỗ và cây bụi Trong
đó, thân thảo nhiều nhất với 18 loài, chiếm 62,07 %; cây thân gỗ với 7 loài, chiếm 24,14%
và cây bụi ít nhất với 4 loài, chiếm 13,79 %
Trang 4Bảng 1 Các loài thực vật được đồng bào thái sử dụng làm gia vị tại huyện Sốp Cộp
TT Tên khoa học Tên phổ thông Tên theo tiếng dân tộc Thái Dạng thân Bộ phận sử dụng Công dụng
I Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae)
4 Begonia boisiana Gagn Mắt đá (Thu hải đường bois) Phắc bói Thảo Lá Lá non ăn có vị chua, được dùng để nấu canh
Hoa nấu canh (canh gà) hoặc làm nộm Trần qua nước sôi bớt đắng
6 Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyl Kinh giới Nhả nát hom Thảo Lá, ngọn non Lá, ngọn non làm gia vị
non Thân lá làm gia vị
8 Perilla frutescens (L.) Britton Tía tô Phác hòm tô Thảo Lá, ngọn non Thân lá làm gia vị
10 Magnolia hypolampra (Dandy) Figlar Giổi ăn hạt Cò ham Gỗ Quả, hạt Quả làm gia vị
11 Melientha suavis Pierre Ngót rừng Cò pàn khiếu Gỗ Ngọn non Lá làm gia vị
12 Piper sarmentosum Roxb Lá lốt Bớ lợt Thảo Lá Lá làm gia vị
Trang 5TT Tên khoa học Tên phổ thông Tên theo tiếng dân tộc Thái Dạng thân Bộ phận sử dụng Công dụng
13 Polygonum odoratum Lour Răm Hóm péo Thảo Cả cây Cả cây, gia vị
14 Maesa perlaria (Lour.) Merr Đơn nem Bảy chặp Bụi Lá Lá ăn sống cùng gỏi, cá nướng
15 Prunus arborea (Blume) Kalkman Xoan đào Co ma mư Gỗ Quả, lá Ăn quả, lá non Ăn sống chấm chéo cá Lá luộc
trộn với da lợn làm nộm
16 Citrus aurantiifolia (Christm.) Sw Chanh Mạ liu Gỗ Quả, lá Ăn quả, lá làm gia vị
17 Clausena excavata Burm.f Mác mật rừng Vâm bẩy phít điằng Gỗ Quả, lá Quả, lá làm gia vị
18 Paramignya monophylla Wight Xáo một hoa Cò lui pá Bụi Lá Lá nấu canh, làm gia vị
19 Zanthoxylum nitidum (Roxb.) DC Mắc khén dây Cò mạt pá Bụi Quả Quả làm gia vị
20 Zanthoxylum rhetsa (Roxb.) DC Mắc khén Mắc khén Gỗ Quả, hạt Quả làm gia vị
Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae)
22 Allium ascalonicum L Hành Hớ hỏm Thảo Cả cây Cả cây làm gia vị
24 Allium tuberosum Rottler ex Spreng Hẹ Phớ hiêu Thảo Cả cây Cả cây làm gia vị
25 Cymbopogon citratus Stapf Sả Khinh trỏ Thảo Cả cây Cả cây làm gia vị
27 Alpinia sp Riềng Cọ kha Bụi Củ, quả, lá Củ làm gia vị; ăn quả, lá
29 Zingiber officinale Roscoe Gừng Khinh Thảo Củ Củ làm gia vị
30 Zingiber aff cassumunar Roxb Gừng rừng Zơrơng Thảo Thân, quả Lõi thân non ăn được Quả làm gia vị
Trang 6Đa dạng bộ phận sử dụng:
Việc nghiên cứu về các bộ phận sử dụng có liên quan trực tiếp đến việc bảo tồn, duy trì và tái sinh của các loài thực vật Nếu người dân chỉ sử dụng cành, lá hay hoa, quả thì cho dù khai thác ở mức độ cao chúng vẫn đảm bảo được sự sống của các cá thể nhưng nếu khai thác rễ, củ đối với các loài cây lâu năm thì đây lại tiềm ẩn nguy cơ gây suy giảm đa dạng sinh vật Chúng tôi đã thống kê các bộ phận của các loài thực vật được đồng bào dân tộc Thái sử dụng để làm gia vị
Kết quả thống kê được cho thấy bộ phận được sử dụng nhiều nhất là lá cây với 12 loài, chiếm 41,38 % so với tổng số loài Lá được dùng ở dạng tươi, có thể ăn sống kèm
như: Chàm mèo (Strobilanthes cusia), Đơn nem (Maesa perlaria), Xoan đào (Prunus arborea) hoặc nấu cùng các món ăn như: Hành (Allium ascalonicum), Lá lốt (Piper sarmentosum), Xáo một hoa (Paramignya monophylla), Lá có thể được dùng riêng hoặc
phối trộn với nhiều các loại gia vị khác để tăng thêm hương vị cho món ăn
Tiếp theo là sử dụng quả làm gia vị có 9 loài, chiếm 31,03 % tổng số loài Ngoài lá
và quả, bộ phận khác không ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của cây như ngọn non với 4 loài, chiếm 13,79 %; hạt với 12 loài chiếm 6,9 %; quả với 7 loài chiếm 3,45 % Số lượng các loài khai thác củ chỉ chiếm tương đối nhỏ với 4 loài chiếm 1,4 % Số lượng các loài khai thác cả cây làm gia vị chiếm tỉ trọng khá cao 27,58 % với 8 loài; tuy nhiên đây là các loài thân thảo, được gây trồng thời gian sinh trưởng nhanh nên không bị ảnh hưởng bởi tác động thu hái của con người
3.2 Kinh nghiệm sử dụng thực vật làm gia vị trong chế biến món ăn của đồng bào dân tộc Thái, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
Qua quá trình điều tra và nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập được kinh nghiệm sử dụng các loại gia vị trong chế biến một số món ăn đặc trưng của dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La như: nộm hoa sắn, lạp thịt bò tươi và đặc biệt là kinh nghiệm chế biến chẩm chéo - đồ chấm của núi rừng xuất hiện trong những bữa ăn thường ngày của cộng đồng người Thái tại nơi đây
Cách làm món nộm hoa sắn của người dân tộc Thái:
Bước 1: Hoa sắn đem luộc kỹ 40 phút (từ khi sôi là 40 phút) (giảm độ đắng cho hoa sắn), vớt ra vắt ráo nước, để nguội
Bước 2: Các gia vị: ớt tươi, tỏi, rau răm, húng lủi, húng bún (phắc au) (lá Gừng, củ Gừng: băm nhỏ; thêm 1 lớp rắc đều hạt Mắc khén giã nhỏ
Bước 3: Trộn nộm: cho các nguyên liệu vào, thêm muối, mì chính, trộn đều cho vừa ăn Trong chế biến món ăn, người Thái ít dùng dầu mỡ và rất chú trọng tới việc điều phối các vị đắng, cay, mặn và chát Sự khác biệt giữa người Thái và người Kinh: có thêm gia vị hạt Mắc khén xay nhỏ vào nộm
Cách làm món lạp thịt bò tươi: một trong những món ăn đặc sản để đãi khách của đồng bào Thái Món này được chế biến cầu kỳ, sử dụng nhiều loại rau gia vị
Trang 7Bước 1: Chuẩn bị thịt nạc bò sống băm nhỏ, da bò (nướng qua trên lửa, cạo bớt bụi bẩn, làm sạch, đem luộc chín, thái càng nhỏ càng tốt)
Bước 2: Chuẩn bị rau gia vị, hoa chuối (phắc pi) thái nhỏ, ngâm vào nước muối rửa sạch nhựa cho bớt chát Ớt khô, mắc khén đem giã nhỏ, rau răm, rau húng bún (phắc au),
lá chanh thái nhỏ
Bước 3: Làm nước lạp: luộc thịt bò, lấy phần nước, thêm các loại gia vị: ớt khô, Mắc khén và hạt Giổi giã nhỏ, lá chanh băm nhỏ, muối, mì chính vừa ăn rồi để thật nguội
Bước 4: Trộn lạp thịt bò tươi: cho hết phần nguyên liệu đã chế biến vào, trộn đều
Cách làm chẩm chéo sử dụng cây gia vị nổi bật là Mắc khén Chẩm chéo là món ăn đặc trưng của vùng núi Sơn La (trong đó có huyện Sốp Cộp) “Chẩm” trong tiếng Thái có nghĩa là thức chấm, còn “chéo” nghĩa là mùi thơm của nhiều loại rau kết hợp lại Chéo khô: giã nhỏ, mịn, hỗn hợp gồm Mắc khén (khoảng 10 % tổng số), ớt khô hoặc ớt tươi nướng (2 thìa), tỏi (3 nhánh), muối rang (1 thìa), mì chính (1 thìa nhỏ) Hỗn hợp gia vị này thường được dùng chấm xôi, nõn chuối, quả; nếu dùng chấm măng, nên bỏ thêm rau mùi,
lá chanh hoặc lá sả nướng khô Chéo tắp (chéo sệt): thành phần nguyên liệu giống với chéo khô và cho thêm nước, nước chanh (1/2 quả), gan (gà hoặc ngan, vịt, ) luộc chín giã mịn, càng mịn càng ngon Chéo tắp thường dùng chấm thịt gà, ngan luộc
Cách làm nậm pịa: Nậm pịa là đặc sản của người Thái, thường xuất hiện trong những bữa tiệc đãi khách Trong tiếng Thái, “nậm” có nghĩa là canh, “pịa” là chất sền sệt
ở trong ruột non nằm giữa đoạn dạ dày và ruột già của bò, dê, trâu Món nậm pịa được múc ra bát có màu nâu đen, nước sền sệt, ban đầu khi nếm thử sẽ có vị đắng và hơi nồng, sau đó thấy vị ngòn ngọt kèm theo những vị là lạ của Mắc khén Nậm pịa có thể dùng làm nước chấm cho các món thịt nướng, thịt bò hoặc dê luộc, ăn kèm với rau chuối và Bạc hà
(Mentha arvensis L.)
Pịa chấm: Phần nội tạng của bò, trâu hoặc dê, (tim, gan, phổi, ) đem ninh nhừ, sau đó sử dụng khúc ruột non còn dịch ruột vào nồi, đun sôi, tắt bếp ngay, thêm các loại gia vị: ớt khô, mắc khén giã nhỏ, lá chanh băm nhỏ, muối, mì chính (giống gia vị làm nước lạp) Pịa canh (nậm pịa): giống pịa chấm, nhưng dùng nhiều nước vào để nấu thành canh
3.3 Kinh nghiệm sử dụng thực vật làm gia vị trong chế biến món ăn của đồng bào dân tộc Thái, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La
Qua các kết quả điều tra phỏng vấn, điều tra thành phần các loài thực vật được sử dụng trong các bữa ăn ngày thường và bữa ăn trong các lễ hội của dân tộc Thái đã cho thấy có 2 loài thực vật xuất hiện 100 % các bữa ăn kể cả ngày thường cũng như bữa ăn
trong lễ hội Đó là: Giổi (Magnolia hypolampra (Dandy) Figlar, Mắc khén (Zanthoxylum rhetsa (Roxb.) DC
Trong quá trình nghiên cứu qua phỏng vấn người dân, cho thấy có hai loài Giổi được
sử dụng làm gia vị là: Giổi (Michelia hypolampra) được sử dụng làm gia vị, tuy nhiên loài Giổi ăn hạt được nhiều người mua hơn rất nhiều so với loài Giổi xanh (Michelia
Trang 8mediocris) Trong quá trình điều tra, chúng tôi mới thu được loài Giổi hạt (Michelia hypolampra)
4 KẾT LUẬN
Ghi nhận có 29 loài thực vật, 24 chi, 16 họ thuộc ngành Ngọc lan được đồng bào dân tộc Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La sử dụng làm gia vị
Người Thái tại huyện Sốp Cộp có kinh nghiệm phong phú trong khai thác, sử dụng các loài thực vật ăn làm gia vị: số loài sử dụng lá làm gia vị là nhiều nhất (12/29 loài), quả được sử dụng làm gia vị có 9/29 loài, các bộ phận khác của cây và toàn cây được sử dụng làm gia vị có số loài từ 1-5 loài
Đã giới thiệu cách làm 3 món ăn đặc trưng của người Thái có sử dụng thực vật làm gia vị là nộm hoa chuối, lạp thịt bò tươi và chẩm chéo Trong các món ăn trên đều xuất
hiện vị Giổi ăn hạt (Magnolia hypolampra (Dandy) Figlar, Mắc khén (Zanthoxylum rhetsa
(Roxb.) DC Đây là hai loài gia vị gắn liền với văn hóa ẩm thực của người Thái, có thể là loài thực vật được sử dụng làm gia vị đặc trưng của dân tộc Thái
Kiến nghị: Cần có thêm điều tra thu mẫu để định loại loài thực vật được sử dụng
làm gia vị có tên gọi là húng lủi, húng bún (phắc au) của người dân tộc Thái
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Nhiệm vụ NVCC09.10/22-22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Võ Văn Chi, 2012 Cây thuốc Việt Nam, tập I, II Nxb Giáo dục, Hồ Chí Minh
Đỗ Tất Lợi, 2000, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Nxb Y học, Hà Nội
Vũ Thị Liên, Phạm Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Quyên, 2015 “Đa dạng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc sử dụng làm thực phẩm tại xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La”, Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 6, NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, tr.1172-1177
Phạm Hoàng Hộ, 1999, 2000 Cây cỏ Việt Nam, Tập I, II, III Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Gary J Martin, 2002 Thực vật dân tộc học (sách dịch) Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 Các phương pháp nghiên cứu thực vật Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội
Nguyễn Tiến Bân, 1997 Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam Nxb Nông nghiệp
Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Dư, Hà Tuấn Anh, Bùi Văn Thanh, Trần Thị Liên, Nguyễn Tiến Dũng Điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng cây ăn được của
đồng bào Thái tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 64(3), 3, 2022, 11-15
Trang 9SURVEY OF SPICE PLANTS USED BY THE THAI GROUP IN SOP COP
DISTRICT, SON LA PROVINCE
Bui Thu Ha 1,* , Nguyen Thi Hong Ngoc 1 , Ta My Ngoc 1 , Nguyen Khanh Diep 2 ,
Tran Thuy Linh 2 , Vu Thi Dung 1 , Vu Anh Thuong 2 , Bui Van Thanh 2 Abstract The study was conducted to determine the composition and experience
of using plant species as spices of the Thai ethnic group in Sop Cop district, Son La
province Interview methods, traditional botanical research and ethnobotanical
survey methods were used in the research process in 4 communes: Dom Cang,
Nam Lanh, Muong Va, and Sop Cop with a total number of respondents
interviewed 35 people As a result, 29 species of spice plants belonging to 24
genera and 16 families of plants in the Magnoliophyta were recorded The parts of
plants used as spices by the Thai ethnic group are quite diverse Two species of
spices Gioi (Magnolia hypolampra (Dandy) Figlar) and Mac khen (Zanthoxylum
rhetsa (Roxb.) DC) are evaluated as typical plant species for the Thai ethnic group,
associated with the culinary culture of the Thai ethnic group
Keywords: Magnolia hypolampra, Spices plant, Thai ethnic group, Zanthoxylum
rhetsa
1 Hanoi National University of Education
2 Institue of Ecology and Biological Resources, Vietnam Academy of Science and Technology
*Email: habt@hnue.edu.vn