Bài viết Đặc điểm hình thái, giải phẫu của loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L. f ở việt nam nghiên cứu về các đặc điểm hình thái chi tiết và giải phẫu của loài Tai mèo hầu như còn chưa có. Trong công trình này, chúng tôi tiến hành xây dựng bản mô tả đặc điểm hình thái và giải phẫu cho loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L. f. ở Việt Nam.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, GIẢI PHẪU CỦA LOÀI TAI MÈO
- Abroma augustum (L.) L f Ở VIỆT NAM
Kiều Cẩm Nhung* 1 , Hà Thị Hằng 2 , Nguyễn Anh Đức 3 , Đỗ Thị Xuyến 3
Tóm tắt Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f là loài cây được ghi nhận có phân
bố ở nhiều nơi thuộc vùng thấp của Việt Nam Đây là loài cây được sử dụng làm thuốc, làm rau ăn, cho sợi Những công trình nghiên cứu về các đặc điểm hình
thái chi tiết và giải phẫu của loài Tai mèo hầu như còn chưa có Trong công trình
này, chúng tôi tiến hành xây dựng bản mô tả đặc điểm hình thái và giải phẫu cho
loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f ở Việt Nam
Từ khóa: Tai mèo, Trôm, hình thái, giải phẫu, Việt Nam
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai mèo hay còn gọi là Bất thực, Vông vàng - Abroma augustum (L.) L f thuộc họ
Trôm (Sterculiaceae) có phân bố ở nhiều nước như Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông-Nam Á, tới các nước phía Bắc châu Úc như Ôxtrâylia (Tang Y., G G Michael & J D Laurence, 2008; C Phengklai, 2001) Ở Việt Nam, Tai mèo hiện biết có ở nhiều nơi như
Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Tây Ninh, chủ yếu có ở vùng đất
thấp Các tài liệu của Việt Nam thường nhắc đến loài Tai mèo với tên khoa học là Abroma
augusta (L.) L f., tuy nhiên đây là tên không hợp luật Hiện tại, tên đúng cho loài cây Tai
mèo là Abroma augustum (L.) L f Loài cây Tai mèo được ghi nhận có khả năng cho sợi
từ vỏ làm dây buộc; lá non tước bỏ gân cứng, vò kỹ, thái nhỏ, dùng nấu canh ăn, lá hãm uống chữa bệnh lậu; rễ và lá trị đòn ngã gẫy xương, kinh nguyệt không đều, mụn nhọt sưng đỏ, bại liệt, lậu; dịch rễ tươi trộn với hồ tiêu làm thuốc lợi trung tiện, lợi tiêu hoá (Viện Dược liệu, 2016; Nguyễn Tiến Bân, 2003) Ở Việt Nam, Tai mèo được ghi nhận đầu tiên bởi F Gagnepain in H Lecomte, 1910 Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài Tai mèo (Lê Khả Kế, 1974; Phạm Hoàng Hộ, 2000), tuy nhiên các công trình chỉ đề cập đến một vài đặc điểm cơ bản của loài Tai mèo, giúp phân biệt với các loài khác của họ Trôm Những công trình về các đặc điểm hình thái chi tiết và giải phẫu hầu như còn vắng bóng Do vậy, cần thiết có một công trình nghiên cứu hình thái và giải phẫu chuyên sâu và đầy đủ để phục vụ việc sử dụng, phát triển loài Tai mèo cũng như cho những nghiên cứu có liên quan
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm các cá thể thuộc loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f ở Việt Nam
Trong phạm vi bài báo này, các mẫu tươi được thu thập tại một số tỉnh, thành tại Việt
1 Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ
2 Công ty CP HLC Hà Nội
3 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
*Email: kieucamnhung@gmail.com
Trang 2Nam là Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình và Quảng Trị Ngoài ra, việc nghiên cứu định loại còn dựa vào các tư liệu và mẫu nghiên cứu được lưu giữ tại các phòng tiêu bản thực vật như Phòng tiêu bản thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN (HNU), Viện Dược liệu thuộc Bộ Y tế (IMPM) Các mẫu vật hiện đang được lưu giữ tại phòng tiêu bản được so sánh trong nghiên cứu này gồm (xếp theo thứ tự các tỉnh): Vĩnh Phúc (Mê Linh) Phương 379 (HN); Quảng Ninh, P V Lập sn-815A (IMPM); Hòa Bình, L T Chấn & B Đ Bình C_208 (HNU), V V Chi & B.Đ Bình 27 (HNU), N B Hoạt 2141 (IMPM); Nghệ An, Nguyễn Nghĩa Thìn 229 (HNU), Nguyễn Nghĩa Thìn CH285 (HNU); Hà Tĩnh, Vũ Quang, HLF 87 (IMPM); Quảng Nam (Trà Mi), Tập Phương Trọng 70 (IMPM)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp hình thái so sánh để xác định loài, theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) Phương pháp này dựa trên đặc điểm hình thái và cấu tạo các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Tiến hành giải phẫu và nhuộm màu tiêu bản vi phẫu thân, rễ, lá của các mẫu thu được theo phương pháp nghiên cứu của Nguyễn
Bá (2010) Công tác định loại và giải phẫu được tiến hành tại Bộ môn Khoa học Thực vật, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm hình thái loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f
Dạng thân: là cây bụi nhỏ, cao từ 1-4 m, phân cành nhiều, cành non hình trụ, có
rãnh nông, thân và cành có nhiều lông hình sao màu vàng, cứng Lá: đơn, mọc cách, có
hình dạng khác ngau giữa lá phía trên đỉnh cành và lá phía dưới; lá phía dưới có phiến hình tim hay gần tròn, có 3-5 thùy chân vịt nông; phiến lá phía trên gần đỉnh cành thường hình trứng rộng, nguyên; kích thước lớn, đến 10-25 8-20 cm; gốc lá hình tim hay gần tròn, nhiều khi gốc lá bất xứng; đỉnh lá nhọn; mép lá có răng nhỏ; gân gốc 3-5, gân cấp 2 hình mạng; mặt dưới nhẵn hay có lông hình sao rải rác, mặt trên phủ dày lông mọc đơn,
cứng; cuống dài 5-15 cm, có lông Lá kèm: 2 cái, hình đường, dài 0,8-1,0 cm, có lông,
sớm rụng
Hình 1 Dạng thân và lá loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f
(Ảnh Hà Thị Hằng)
Trang 3Cụm hoa: Hoa mọc đơn độc hay thành cụm hình xim, với 2-5 hoa ở nách lá hay đỉnh
cành Hoa: lưỡng tính; cuống hoa dài; bao hoa mẫu 5 Đài: dính với nhau một phần rất
nhỏ ở phía dưới, phần dính khoảng 1-1,5 mm; 5 lá đài hình trứng với chóp nhọn; dài 0,5-2
cm, rộng 0,2-0,5 cm, đồng trưởng cùng quả Đài phụ không có Cánh hoa: 5, rời nhau, có
màu đỏ thẫm-đỏ tía, hình bầu dục thuôn hay trứng ngược; gốc nhọn; chóp tròn; kích thước
2,0-2,5 x 0,3-0,6 cm, có lông mịn ở gốc cánh Trục nhị nhụy: gần như không có Bộ nhị:
Nhị hữu thụ 15, chỉ nhị đính lại thành 5 cột phía dưới, mỗi nhóm 3 nhị, xếp xen kẽ với nhị
lép Nhị lép hình bản hẹp, cả 2 mặt đều có lông, có màu đen Bộ nhụy: bầu trên, có hình
thuôn hay hình trụ, dài 1-1,5 mm; có lông bao phủ, mang 5 gờ nhô lên rõ rệt, 5 ô dính
nhau; vòi nhụy ngắn, có gờ, bằng ½ kích thước của bầu; núm nhụy hình điểm Quả: nang,
hình nón ngược cụt đầu, có khía và gờ cao như có dạng cánh, khi chín mở bởi 5 đường nứt phía đỉnh, phía lưng vẫn hàn liền, tạo thành dạng như cái cốc, giá noãn có lông dài khoảng
6-7 mm, dày đặc và mềm Quả thường mọc hướng thẳng lên trên Hạt: nhiều trong mỗi ô,
hình trứng thuôn, dài 2-3 mm, rộng 0,5-1,5 mm, hạt có màu đen, bề mặt sần
a Hoa b Đài (nhìn từ mặt dưới) c Lá đài (tách rời)
g Quả (bổ ngang) h Quả mở đã phát tán hạt i Hạt
Hình 2 Một số hình dạng hoa, quả, hạt loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f
(Ảnh a, e, f, g: Vũ Anh Thương; b, c, d, e, h, i Hà Thị Hằng)
Trang 4Loài Tai mèo có đặc điểm nhận biết khá rõ ràng khi cây mang quả Đặc điểm quả có cánh nhô cao, thường hướng lên trên như tai mèo nên cây còn được gọi là loài (cây) Tai mèo Loài Tai mèo có hệ lông khá phức tạp, lông có thể gặp nhiều nhất là lông hình sao, ngoài ra còn có thể gặp lông mọc đơn dạng cứng (trên lá) hay dạng tơ mềm (trên giá noãn)
a Lông mọc đơn, cứng trên
lá mặt trên
b Lông hình sao trên
lá mặt dưới
c Lông mọc đơn và
mềm trên giá noãn
Hình 3 Một số hình dạng lông của loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f
(Ảnh a, b: Hà Thị Hằng; c Đỗ Thị Xuyến, thước: 100µm)
3.2 Đặc điểm giải phẫu loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f
Mẫu thu được tại các địa điểm phân bố khác nhau đều được giải phẫu Có thể thấy, các mẫu có sự đồng nhất về cấu tạo vi phẫu của thân (cấu tạo sơ cấp, cấu tạo thứ cấp), rễ (cấu tạo sơ cấp, cấu tạo thứ cấp), lá Không có sự sai khác rõ rệt do sự phân bố khác nhau của các quần thể Tổng hợp các đặc điểm được đưa ra như sau
a Rễ
Rễ sơ cấp: mặt cắt ngang rễ sơ cấp có hình tròn Biểu bì có dạng hình chữ nhật, kích
thước khá giống nhau, xếp sít nhau, phía ngoài có nhiều lông hút Mô mềm gồm nhiều lớp
tế bào hình đa giác hay gần tròn, to xếp sít nhau Đai caspary bao quanh nội bì là các tế
bào hình chữ nhật xếp sít nhau khá rõ nét Rễ thứ cấp: có sự sinh trưởng của tầng sinh bần
làm cho lớp vỏ bong ra Trong phần vỏ rễ có các tế bào mô cứng xếp thành dải, khá dày, làm tăng khả năng nâng đỡ của rễ Bên cạnh đó, trong phần vỏ có nhiều tế bào chứa tinh thể canxi oxalat, tạo sự cứng cho rễ Tầng sinh mạch là dãy tế bào hình chữ nhật dẹt, phát triển hình thành phloem thứ cấp phía ngoài và xylem thứ cấp phía trong
a Lát cắt hoàn chỉnh của
rễ sơ cấp b Một phần lát cắt của rễ sơ cấp c Một phần vỏ rễ và nội bì của rễ sơ cấp
Trang 5d.Lát cắt hoàn chỉnh của
rễ thứ cấp
e Một phần lát cắt của
rễ thứ cấp
f Phần ruột của
rễ thứ cấp
Hình 4 Cấu tạo giải phẫu rễ của loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f ba bần; bb biểu bì;
ca đai caspary; co tinh thể canxi oxalat; go gỗ; kt khoảng trống; li libe; mc mô cứng; mv mô
mềm vỏ; tps tầng phát sinh; thước: 100µm (Ảnh Hà Thị Hằng và Đỗ Thị Xuyến)
b Thân
a Lát cắt hoàn chỉnh của
thân sơ cấp
b Một phần lát cắt của thân sơ cấp
c Một phần lát cắt của thân thứ cấp
d Lát cắt hoàn chỉnh của
cuống lá e Một phần lát cắt của gân lá f Một phần lát cắt của phiến lá
Hình 5 Cấu tạo giải phẫu thân và lá của loài Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f bb biểu bì;
co tinh thể canxi oxalat; ct cutin; go gỗ; gs gỗ sơ cấp; gt, gỗ thứ cấp; kt khoảng trống; lhs lông hình sao; li libe; lt libe thứ cấp; mc mô cứng; md mô dày; mg mô giậu; mr mô mềm
ruột; mx mô xốp; tps tầng phát sinh; thước: 100 µm (Ảnh: Hà Thị Hằng và Đỗ Thị Xuyến)
Thân sơ cấp: Mặt cắt ngang thân sơ cấp có hình tròn với các thùy lồi do thân có
các đường rãnh làm thành Nằm phía ngoài cùng của thân là một lớp biểu bì dạng gần hình chữ nhật dẹp, phía ngoài được bao phủ bởi lớp cutin, chống thoát hơi nước, có lông bảo vệ bao phủ dày đặc Đôi khi, trên tế bào biểu bì có xuất hiện lỗ khí Sát với lớp biểu
Trang 6bì là mô dày gồm 2-4 lớp tế bào, phần góc của các tế bào dày lên gọi là mô dày góc, có chức năng nâng đỡ Trong phần mô mềm vỏ có các khoảng trống chứa nước và khí Mô mềm ruột phía trong gồm những tế bào có kích thước khác nhau, dạng đa giác hay gần
tròn, có tác dụng dự trữ Thân thứ cấp: Lông che chở tiêu giảm dần, chủ yếu là lông
hình sao Trong mô mềm vỏ thường mang 3-4 lớp tế bào sợi hình đa giác kích thước không đều, tạo thành vòng gần liên tục, tế bào thường có vách dày, có tác dụng nâng đỡ Sát libe thứ cấp là tầng sinh mạch, gồm 2-3 dãy tế bào hình chữ nhật dẹp Xuất hiện sự phân chia gỗ thứ cấp và gỗ sơ cấp Trong vùng gỗ sơ cấp, các thành phần dẫn có kích thước lớn, vách mỏng, vùng gỗ thứ cấp có bó mạch bé, vách dày, sợi gỗ nhiều Phần mô mềm ruột với các tế bào hình gần tròn kích thước đa dạng, nhiều tế bào ruột đã có sự hóa cứng, giúp nâng đỡ thân cây Trong cả phần vỏ và phần trụ có nhiều tế bào chứa tinh
thể canxi oxalat, tạo sự cứng cho thân
c Lá
Cuống lá: Tiết diện tròn, cấu tạo khá giống cấu tạo thân Gân lá: Gân chính của lá
có kích thước lớn, lồi ít ở mặt trên, lồi nhiều thành hình vòng cung ở mặt dưới, có nhiều lông hình sao bao phủ phía ngoài, có chức năng bảo vệ Biểu bì trên và biểu bì dưới gần
như nhau, là một lớp tế bào hình chữ nhật xếp sít nhau Sát với biểu bì là 2 - 4 lớp tế bào
mô dày tạo thành một cung liên tục ở cả phía trên và phía dưới của gân chính, chức năng nâng đỡ cơ học Trong lớp mô mềm thường có nhiều chỗ trống chứa khí, giúp cây dự trữ khí, bên cạnh đó nhiều tế bào chứa tinh thể canxi oxalat giúp gân cứng hơn Bó mạch xếp hình cung Libe gồm nhiều tế bào hình đa giác kích thước đều, xếp lộn xộn thành từng đám Gỗ hình đa giác hay gần chữ nhật, xếp thành dãy xen lẫn với mô mềm gỗ đã hóa mô
cứng Phiến lá: Biểu bì trên gồm 2 lớp tế bào có hình bầu dục hay gần chữ nhật xếp sít
nhau, độ dày khá đồng đều, phía ngoài có phủ một lớp cutin dày, hạn chế thoát hơi nước Phía dưới là 2 lớp tế bào mô giậu chứa diệp lục, hình chữ nhật xếp vuông góc với biểu bì Dưới là lớp mô xốp với các tế bào gần tròn có kích thước không đồng đều, sắp xếp lộn xộn, lỏng lẻo, để lại nhiều khoảng trống gian bào Biểu bì dưới chỉ gồm 1 lớp tế bào, kích
thước nhỏ hơn biểu bì trên, hình gần tròn Mặt dưới có lông bao phủ
KẾT LUẬN
Loài cây Tai mèo - Abroma augustum (L.) L f được đặc trưng bởi đặc điểm hình
thái có quả mang 5 cánh nhô cao, thường mọc hướng lên trên; đài dính chỉ 1-1,5 mm ở phía dưới; cánh hoa 5 cái, rời nhau, màu đỏ thẫm- đỏ tía; các bộ phận thường phủ lông hình sao, ngoài ra còn có thể gặp lông mọc đơn dạng cứng (trên lá) hay dạng mềm (trên giá noãn) Về giải phẫu có phần vỏ rễ với các tế bào mô cứng xếp thành dải, khá dày đặc, làm tăng khả năng nâng đỡ của rễ Rễ và thân trong lớp mô mềm thường có nhiều chỗ trống chứa khí, giúp cây dự trữ khí, có nhiều tế bào chứa tinh thể canxi oxalat Phiến lá biểu bì trên và biểu bì dưới khác nhau về số lượng lớp tế bào, về hình dạng và kích thước của tế bào biểu bì
Lời cảm ơn: Tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu
của các cán bộ thuộc các Phòng Tiêu bản của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội (HNU), Viện Dược liệu, Bộ Y tế (IMPM)
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Nguyễn Bá, 2010 Hình thái học Thực vật Nxb Giáo dục Việt Nam
Nguyễn Tiến Bân, 2003 Danh mục các loài thực vật Việt Nam, 2: 547 Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội
Gagnepain F in H Lecomte, 1910 Flore générale de L’Indo-chine, 1(2): 486-487, Paris Phạm Hoàng Hộ, 2000 Cây cỏ Việt Nam, I, tr.491-492 Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh
Lê Khả Kế, 1974 Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, 4, tr.165-167 Nxb Khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội
Phengklai C., 2001 Flora of Thailand, 7(3): 617-621 Bangkok, Thailand
Tang Y., G G Michael & J D Laurence, 2008 Flora of China, 12: 313-317, USA
Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 Các phương pháp nghiên cứu thực vật Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội
Viện Dược liệu, 2016 Danh lục cây thuốc Việt Nam, trang 860 Nxb Khoa học và Kỹ thuật
STUDY ON TAXONOMY AND ANATONY OF
Abroma augustum (L.) L f IN VIETNAM
Kieu Cam Nhung 1,* , Ha Thi Hang 2 , Nguyen Anh Duc 3 , Do Thi Xuyen 3
Abstract According to Tang Y., G G Michael & J D Laurence (2008), Abroma
augustum (L.) L f mainly widespread in India, China, South-East Asia to Australian
Some places in the lowlands of Vietnam have found this species Abroma augustum (L.) L f is a medicinal plant, for vegetables, for fiber from bark Abroma
augustum (L.) L f has dominent characteristic by morphological features with
capsule, 5-winged, erect; calyx only connect ca 1-1.5 mm at the base; petals 5, separate, dark red or reddish purple The most common hairs are stellate hairs,
in addition, single stiff hairs can also be found on leaves or soft on the placental The root cortex has sclerenchyma cells arranged in bands, quite densely, increasing the supporting capacity of the roots In the parenchymal tissue layer
of root or stem often have many air spaces, helping the plant to store gas, and many cells contain calcium oxalate The upper and lower epidermal laminae of leaf differ in the number of cell layers, the shape and size of the epidermal cells
Keywords: Abroma augustum, Sterculiaceae, Morphology, Anatomy, Vietnam
1 Vietnam Institute of Science, Technology and Innovation - Ministry of Science and Technology
2 Hanoi HLC J S Company
3 VNU University of Science
*Email: kieucamnhung@gmail.com