BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN VĂN THƯỞNG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN VĂN THƯỞNG
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN THANH NHÀN
NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH, 2022
BỘ Y TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN VĂN THƯỞNG
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO TẠI
KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN THANH NHÀN
NĂM 2022
Chuyên ngành: Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Trần Văn Long
NAM ĐỊNH, 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành chuyên đề này
Đặc biệt, với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người học trò, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo Ts Trần Văn Long, Trưởng phòng đào tạo sau đại họcngười Thầy kính mến đã dạy dỗ, tận tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ nhân viên khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn cùng 52 bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh dành cho tôi mọi sự động viên, khích lệ và hỗ trợ để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày20 tháng 07 năm 2022 Học viên
Nguyễn Văn Thưởng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tên tôi là Nguyễn Văn Thưởng- Học viên lớp chuyên khoa 1, khóa 9 chuyên nghành Điều dưỡng Nội người lớn - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Tôi xin cam đoan chuyên đề “Thực trạng chăm sóc bệnh nhân nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022” do chính bản thân tôi thực hiện, tất
cả nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được công
bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Văn Thưởng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined.v DANH MỤC BẢNG Error! Bookmark not defined DANH MỤC BIỂU ĐỒ Error! Bookmark not defined.i
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Đột quỵ 3
1.1.2 Đột quỵ nhồi máu não 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Vai trò của chăm sóc và phục hồi chức năng sau đột quỵ 14
1.2.2 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân đột quỵ 15
1.2.3 Các nghiên cứu về chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não 17
CHƯƠNG 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN 19
2.1 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn Error! Bookmark not defined 2.1.1 Giới thiệu sơ lược về bệnh viện Thanh Nhàn, Khoa Hồi sức tích cực 19
2.1.3 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn 20
2.1.3.1 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu 20
2.1.3.2 Kết quả nghiên cứu 26
2.2 Các vấn đề còn tồn tại 36
2.3 Nguyên nhân 37
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP i
3.1 Đối với bệnh viện, khoa Hồi sức tích cực và nhân viên y tế i
3.2 Đối với người bệnh đột quỵ i
KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Thang điểm
Barthel……….……… …12
Bảng1.2 Thang điểm mRankin……… 14
Bảng1.3 Thang điểm đột quỵNIHSS………15
Bảng 1.4 Thang điểm đánh giá tinh thần MMSE………… ………17
Bảng 2 1 Biến số nghiên cứu 215
Bảng 3 1 Đặc điểm tuổi và giới của bệnh nhân n=52)……… 33
Bảng 3 2 Đặc điểm trình độ học vấn của bệnh nhân (n=52) 33
Bảng 3 3 Đặc điểm chung sống hàng ngày của người bệnh (n=52) 33
Bảng 3 4 Đặc điểm bệnh nội khoa của bệnh nhân (n=52) 34
Bảng 3 5 Đặc điểm tiền sử bệnh ngoại khoa của bệnh nhân (n=52) 34
Bảng 3 6 Đặc điểm thời gian khởi phát của bệnh nhân (n=52) 35
Bảng 3 7 Đặc điểm chỉ số BMI của bệnh nhân (n=52) 35
Bảng 3 8 Điểm đánh giá đột quỵ NIHSS của bệnh nhân thời điểm nhập viện (n=52) 36
Bảng 3 9 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân (n=52) 36
Bảng 3 10 Đánh giá hoạt động tư vấn – giáo dục sức khỏe (n=52) 40
Bảng 3 11 Đánh giá hoạt động chăm sóc chung (n=52) 41
Bảng 3 12 Mức độ hài lòng của người bệnh/ người nhà người bệnh (n=52) 41
Bảng 3 13 Liên quan giữa tuổi và kết quả chăm sóc (n=52) 42
Bảng 3 14 Liên quan giữa giới và kết quả chăm sóc (n=52) 42
Bảng 3 15 Liên quan giữa yếu tố nguy cơ và kết quả chăm sóc (n=52) 43
Bảng 3 16 Liên quan giữa điểm đột quỵ NIHSS và kết quả chăm sóc (n=52) 44
Bảng 3 17 Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc (n=52) 44
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn (n=52) 38
Biểu đồ 3 2 Điểm Barthel sau 24 giờ nhập viện (n=42) 39
Biểu đồ 3 3 Điểm mRankin của người bệnh sau 24 giờ (n=42) 40
Biểu đồ 3 4 Điểm MMSE của người bệnh sau 24 giờ (n=42) 41
Trang 9Theo Tổ chức Đột Quỵ Mỹ, khoảng 15% bệnh nhân bị đột quỵ có độ tuổi trong khoảng
từ 18 tới 45 tuổi, tăng hơn 40% trong vòng 10 năm qua [5]
Đột quỵ não là một vấn đề quan tâm lớn của toàn cầu, nhưng gánh nặng do đột quỵ não đặc biệt nghiêm trọng ở châu Á, một khu vực hiện nay có tỷ lệ già hóa nhanh chóng, số
ca mắc đột quỵ não cũng tăng lên, nhu cầu gia tăng lực lượng chăm sóc điều dưỡng, thời gian chăm sóc dài hạn, tốn kém về kinh tế[3]
Ở Việt Nam, tỷ lệ người bị đột quỵ ngày càng gia tăng từ 200/100.00 người/năm (1990) lên đến 250/100.000 người/năm (2010) Mỗi năm Việt Nam ghi nhận thêm 200.000 ca mắc mới đột quỵ và 11.000 tử vong do đột quỵ [7] Nhiều nghiên cứu và thống kê gần đây cho thấy tỷ lệ người bị đột quỵ não ngày càng gia tăng trong những năm vừa qua Trung tâm cấp cứu đột quỵ của Bệnh viện 115 ghi nhận trong các ca nhập viện do ca đột quỵ thì đột quỵ não chiếm tỷ lệ cao nhất (85%) và có xu hướng tăng đều qua các năm, từ 10,351 người (2016) tăng lên 11,787 (2018), đặc biệt xuất hiện những ca tuổi đời còn rất trẻ (khoảng 25% các ca đột quỵ)[6]
Đột quỵ não là một biến cố nghiêm trọng, ảnh hưởng tới tất cả các khía cạnh đời sống của mỗi cá nhân mắc phải Hiện tại nước ta có khoảng 486.400 người tàn tật và mất sức lao động do đột quỵ não Trong các trường hợp bệnh nhân sống sót sau đột quỵ thì khả
Trang 10năng tàn phế, lệ thuộc cao 10-13% bệnh nhân tàn phế, nằm liệt giường; 12% hồi phục một phần; 25% bệnh nhân có thể độc lập đi lại [8] Sau đột quỵ, bệnh nhân thường khó hòa nhập trở lại với cuộc sống bình thường, kèm theo những ảnh hưởng về kinh tế, chi phí thuốc, điều trị, hồi phục… Mặt khác người nhà bệnh nhân cũng phải chịu những gánh nặng kinh tế trực tiếp Khó khăn trong việc chăm sóc bệnh nhân đột quỵ, điều trị còn mang lại nhiều áp lực về mặt tinh thần
Theo phân loại của WHO, những người bệnh sau đột quỵ não thuộc loại đa tàn tật, giảm khả năng vận động, giảm khả năng nhận thức, giao tiếp và các hoạt động sinh hoạt hằng ngày Chính vì vậy công tác chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh đột quỵ não, nhất là trong những giờ đầu bệnh nhân nhập viện điều trị, là công việc nặng nhọc, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả điều trị, phục hồi cho người bệnh Thực tế, kết quả điều trị cho thấy, người bệnh đột quỵ não, đặc biệt là đột quỵ não cấp đến viện trong những giờ đầu ngay khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên có khả năng bình phục cao
Với vai trò là người trực tiếp chăm sóc người bệnh, khi các điều dưỡng có nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác chăm sóc-điều dưỡng, phối hợp và thực hiện đúng quy trình chăm sóc của bác sĩ điều trị sẽ hạn chế tối đa nguy cơ: liệt, mất vận động, tránh
di chứng suốt đời cho người bệnh
Để có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện quy trình chăm sóc, điều trị cho người bệnh bị đột quỵ não nói chungvà NMN nói riêng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng chăm sóc người bệnh nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022” nhằm các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022
2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình chăm sóc người bệnh nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn
Trang 111.1.2 Đột quỵ nhồi máu não
Nhồi máu não là sự xuất hiện của một tai biến thiếu máu não là hậu quả của sự giảm đột ngột lưu lượng tuần hoàn não do tắc một phần hoặc toàn bộ một động mạch não 1.1.2.1.Nguyên nhân của nhồi máu não
- Vữa xơ các động mạch vùng cổ và não là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra NMN, đặc biệt là ở những người có tuổi Các nguy cơ gây vữa xơ động mạch chủ yếu là tăng huyết áp, đái tháo, rối loạn lipid máu, nghiện thuốc lá
- NMN do huyết khối từ tim chiếm khoảng 25% NMN tuy nhiên, đối với người trẻ tỷ lệ này cao hơn nhiều Huyết khối từ tim di chuyển theo dòng máu di chuyển lên não gây lên NMN Có nhiều bệnh tim gây ra NMN như rung nhĩ, hẹp van hai
lá do thấp, hội chứng nút xoang bệnh lý, cuồng động nhĩ, van tim nhân tạo, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn… Trong đó, rung nhĩ là nguyên nhân phổ biến nhất
- NMN do bệnh mạch máu nhỏ chiếm 20% tổng số trường hợp nhồi máu Các tổn thương nhỏ “ổ khuyết” sâu trong não gọi là "nhồi máu ổ khuyết” Thông thường NMN do bệnh mạch nhỏ có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ như: Tăng huyết
áp, đái tháo đường, hút thuốc lá và tăng lipid máu Lâm sàng của NMN ổ khuyết được biết đến như hội chứng ổ khuyết cổ điển bao gồm rối loạn vận động hoặc cảm giác đơn thuần, rối loạn điều phối liệt nửa người, nói khó-bàn tay vụng về, thiếu sót vận động cảm giác một bên, các triệu chứng này thường không kết hợp với tổn thương vỏ não, chẳng hạn như mất ngôn ngữ, hoặc bán manh
- Các nguyên nhân khác:
+ Viêm mạch máu, bóc tách động mạch não
+ Bệnh mạch máu thoái hóa, bệnh moyamoya, bệnh tế bào hình liềm + Thuốc tránh thai
Trang 12- Không xác định được nguyên nhân: Ngay cả sau khi nghiên cứu đầy đủ, một số trường hợp không xác định được nguyên nhân, tỷ lệ này có thể lên tới 30% trong một số nghiên cứu
1.1.2.2 Nguy cơ nhồi máu não
Các yếu tố nguy cơ của NMN bao gồm các yếu tố có thể thay đổi và không thể thay đổi Xác định các yếu tố nguy cơ ở mỗi bệnh nhân có thể giúp người thầy thuốc nhanh chóng xác định hoặc định hướng nguyên nhân gây đột quỵ và đưa ra phác đồ điều trị và phòng ngừa tái phát hợp lý [19]
Các yếu tố nguy cơ không thay đổi:
- Tuổi
- Chủng tộc
- Giới tính
- Tiền sử đau nửa đầu kiểu migrain
- Loạn sản xơ cơ
- Di truyền: gia đình có người bị đột quỵ hoặc bị các cơn thiếu máu não thoáng qua Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi:
- Tăng huyết áp (quan trọng nhất)
- Đái tháo đường
- Bệnh tim: rung nhĩ, bệnh van tim, suy tim, hẹp van hai lá, bệnh tim bẩm sinh có luồng thông trái - phải (ví dụ lỗ bầu dục thông), giãn tâm nhĩ và tâm thất
- Rối loạn lipid máu
- Thiếu máu não thoáng qua (TIAs)
- Hẹp động mạch cảnh
- Tăng homocystine máu
- Các vấn đề về lối sống: uống rượu quá mức, hút thuốc lá, sử dụng ma túy, ít hoạt động thể lực
- Béo phì
Trang 13- Dùng thuốc tránh thai hoặc dùng hormone sau mãn kinh
- Bệnh hồng cầu hình liềm
1.1.2.3 Dấu hiệu cảnh báo đột quỵ nhồi máu não
- Tê hoặc yếu mặt, tay, chân, đặc biệt là ở một bên cơ thể
- Rối loạn ý thức
- Khó nói hoặc không hiểu được câu lệnh
- Mất thị lực một hoặc hai mắt
- Khó đi lại, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc thất điều
- Đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân
Năm 2013, ASA đưa ra thuật ngữ FAST để mô tả các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ cho người dân:
- F (face): mặt bị liệt (méo, lệch)
- A (arm): tay cử động khó khăn (yếu tay)
- S (speech): nói khó
- T (time): khi có 3 dấu hiệu trên, thời gian (time) lúc này quý hơn vàng, cần gọi ngay cấp cứu
1.1.2.4 Triệu chứng lâm sàng của nhồi máu não
Bệnh cảnh lâm sàng của nhồi máu não rất phong phú, tuỳ thuộc khu vực động mạch não
bị tắc mà triệu chứng lâm sàng biểu hiện khác nhau [15]
Nhồi máu não do tổn thương động mạch não giữa
NMN động mạch não giữa thường gặp nhất do phần mô não được động mạch não giữa cấp máu nhiều nhất
- Do tổn thương nhánh nông trước: Liệt nửa người, rối loạn cảm giác nửa người đối bên ưu thế mặt tay, thất ngôn
- Do tổn thương nhánh nông sau:
+ Ở bán cầu ưu thế: Bán manh bên cùng tên, thất ngôn, Mất nhận biết ngón tay, mất phân biệt phải-trái
Trang 14+ Ở bán cầu không ưu thế:, mất nhận biết không gian đối bên
- Do tổn thương các nhánh sâu: Liệt nửa người nặng đối bên đồng đều có thể bán manh, rối loạn cảm giác kín đáo, rối loạn diễn đạt chủ yếu nói khó
- Nhồi máu toàn bộ của động mạch não giữa: Các triệu chứng nặng nề của cả hai loại nhồi máu nhánh nông và nhánh sâu
Nhồi máu động mạch não trước
- Ít khi bị riêng rẽ, thường bị cùng với động mạch não giữa
- Biểu hiện liệt nhẹ chân đối bên, rối loạn cảm giác cùng khu vực bị liệt phản xạ nắm dương tính, tiểu tiện không tự chủ, rối loạn chức năng cao cấp não, thờ ơ đãng trí, không còn các cử chỉ phức tạp
- Nếu tổn thương cả hai bên: Liệt hai chân do tổn thương tiểu thuỳ kề trung tâm, rối loạn trí nhớ, câm bất động [15],[16]
Nhồi máu động mạch não sau
- Tổn thương nhánh nông: Bán manh bên cùng bên, mất nhận biết thị giác
- Tổn thương nhánh sâu: Liệt nhẹ nửa người, rối loạn điều phối bên đối diện, mất cảm giác nửa người kèm đau kiểu đồi thị, múa giật, múa vờn
- Nhồi máu động mạch vùng thân não
Triệu chứng khá phong phú và có thể thay đổi trong vài giờ đầu tiên, làm cho chẩn đoán khó khăn hơn
- Bên tổn thương:
Mất cảm giác nửa mặt.
Rối loạn phát âm, nuốt, nấc, liệt nửa màn hầu (liệt dây IX, X).
Hội chứng giao cảm mắt (Hội chứng Claude- Bernard- Horner).
+ Hội chứng tiền đình: Chóng mặt, nôn, rung giật nhãn cầu.10
Hội chứng tiểu não tĩnh trạng (tổn thương cuống tiểu não dưới).
- Bên đối diện: Giảm cảm giác nóng, đau [17]
Nhồi máu não ổ khuyết
Nhồi máu ổ khuyết chiếm 20-25% NMN, NMN ổ khuyết xảy ra khi các mạch xuyên có đường kính dưới 0,5 mm bị tắc (và kích thước của ổ nhồi máu tối đa từ 0,5-15mm đường kính tương đương với một thể tích 0,2-2ml)
Trang 15Lâm sàng: Có năm hội chứng ổ khuyết cổ điển:
+ Hội chứng liệt nửa người vận động đơn thuần:
+ Hội chứng đột quỵ vận động-cảm giác nửa người:
+ Hội chứng rối loạn cảm giác đơn thuần:
+ Hội chứng liệt nhẹ, mất điều phối nửa người:
+ Hội chứng nói khó, bàn tay vụng về:
1.1.3 Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
1.1.3.1.Phân loại điểm Barthel
Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo thang điểm Barthel [27]với 10 tiêu chí đánh giá tổng điểm tối đa của thang là 100 và thấp nhất là 0 điểm, chia 5 mức
độ phụ thuộc:
- Độc lập (80-100 điểm)
- Phụ thuộc ít (60-79 điểm)
- Phụ thuộc một phần (40-59 điểm)
- Phụ thuộc nhiều (20-39 điểm)
- Phụ thuộc hoàn toàn (<20 điểm)
Bảng 1.1 Thang điểm Barthel
0 = không tự thực hiện được, cần sự hỗ trợ
5 = Tự rửa mặt, chải tóc, cạo râu, đánh răng
4 MẶC QUẦN ÁO
Trang 160 = Không tự thực hiện được
0 = Hoàn toàn phụ thuộc, đại tiểu tiện tại giường
5 = Cần sự hỗ trợ, nhưng đôi khi có thể tự thực hiện một mình
10 = Tự chủ (ra vào nhà vệ sinh, cởi quần, kéo khóa )
8
DI CHUYỂN (giữa giường, ghế, xe đẩy và ngược lại)
0 = Không thực hiện được, không thể tự ngồi
5 = Cần trợ giúp nhiều (1-2 người nâng đỡ), có thể ngồi được
10 = Cần giúp ít
15 = Tự chủ
9
ĐI LẠI
0 = Không thể đi được
5 = Đi bộ với sự hỗ trợ của 1 người (lời nói hoặc hành động), phạm vi > 50m
10 = Hoàn toàn độc lập, chủ động (có thể dùng gậy), phạm vi > 50m
10
LÊN XUỐNG CẦU THANG
0 = Không thể thực hiện được
5 = Cần sự hỗ trợ như lời nói, hành động, phương tiện trợ giúp
10 = Hoàn toàn chủ động
Trang 171.1.3.2.Phân loại điểm mRankin
Thang điểm đánh giá mức độ liệt mRankin [28]được sửa đổi theo 7 mức độ từ 0 đến
6 dựa trên tình trạng tàn tật của người bệnh được đánh giá thông qua việc tự thực hiện các hoạt động hàng ngày (đi bộ, vệ sinh cá nhân), chia các mức độ tình trạng từ nhẹ đến tử vong
Bảng 1.2 Thang điểm mRankin
1
Tình trạng tàn tật không đáng kể mặc dù còn triệu chứng; có khả năng
thực hiện được tất cả các công việc và sinh hoạt hàng ngày
Tình trạng tàn tật nhẹ, không thể thực hiện được các công việc và sinh
2 hoạt trước đó, nhưng có thể thực hiện được các công việc tự phục vụ cá nhân mà không cần sự hỗ trợ
3
Tình trạng tàn tật vừa, cần sự giúp đỡ nhưng vẫn có thể đi bộ mà không cần trợ giúp
4
Tình trạng tàn tật ở mức độ khá nặng, không thể đi bộ và không thể tự
chăm sóc bản thân khi không có hỗ trợ
5
Tình trạng tàn phế, nằm liệt giường, đại tiểu tiện không tự chủ, luôn cần tới sự chăm sóc của nhân viên y tế
Trang 181.1.3.3 Thang điểm đột quỵ NIHSS
Thang điểm NIHSS (National Institutes of Health Stroke Scale) [29]là một công cụ hữu ích lượng giá mức độ suy giảm chức năng thần kinh, gồm 6 yếu tố chính sau đây:
1 = ngủ gà, đánh thức dễ
2 = lơ mơ, cần kích thích mạnh
3 = mê, không đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng vận động phản xạ
0 = trả lời đúng cả hai câu 1b Hỏi tháng và tuổi 1 = đúng một câu
2 = không đúng cả hai 1c Thực hiện hai 0 = làm đúng cả hai
lệnh vận động 1 = chỉ làm đúng một
(nhắm mắt + nắm tay) 2 = không làm đúng cả hai mệnh lệnh
0 = bình thường
2 Vận nhãn ngang 1 = liệt vận nhãn 1 phần, 1 hoặc 2 mắt, lệch mắt vượt qua được
2 = lệch mắt/liệt vận nhãn hoàn toàn, mắt búp bê không khắc phục
0 = không mất thị trường
3 Thị trường
1 = bán manh 1 phần, góc manh hoặc triệt tiêu
2 = bán manh hoàn toàn
3 = bán manh 2 bên (mù/mù vỏ)
0 = không liệt
4 Liệt mặt
1 = yếu nhẹ (mờ nếp mũi má, mất đối xứng khi cười)
2 = liệt một phần (liệt phần dưới mặt khá nặng đến hoàn toàn)
Trang 193 = liệt hoàn toàn nửa mặt 1 hoặc 2 bên hoặc BN hôn mê
0 = giữ tay 90o hoặc 45o đủ 10 giây không trôi rơi
5 Vận động tay
1 = trôi rơi trước khi hết 10 giây, không chạm giường
2 = gắng sức nhưng không thể nâng tay hoặc rơi tay chạm giường
1 = trôi rơi trước khi hết 5 giây, không chạm giường
2 = có gắng sức chống trọng lực nhưng rơi chạm giường trước 5 giây
0 = không có thất điều hoặc BN liệt/không hiểu/hôn mê
7 Thất điều chi 1 = có ở một chi
2 = có ở hai chi
0 = bình thường
8 Cảm giác 1 = mất cảm giác nhẹ - trung bình, giảm/mất cg đau, còn cg sờ chạm
2 = mất cảm giác nặng, toàn bộ hoặc BN hôn mê
0 = bình thường
9 Ngôn ngữ
1 = mất ngôn ngữ nhẹ - trung bình, giao tiếp được dù hơi khó
2 = mất ngôn ngữ nặng, giao tiếp rất hạn chế
3 = câm lặng, mất ngôn ngữ toàn bộ, không nói/không hiểu lời, mê
0 = bình thường
10 Rối loạn khớp âm 1 = nhẹ - trung bình, giao tiếp được dù hơi khó
(Dysarthria) 2 = năng, giao tiếp rất hạn chế
UN = có NKQ hoặc các vật cản trở vật lý khác, ghi rõ:
0 = không bất thường
11 Sự triệt tiêu mà
1 = mất chú ý thị giác, xúc giác, thính giác, không gian hoặc bản thân
hoặc triệt tiêu ở một thể thức cảm giác mất chú ý (thờ ơ)
2 = mất chứ ý nửa thân nặng hoặc ở >1 thể thức Không nhận biết bàn tay mình hoặc chỉ hướng về không gian 1 bên hoặc mê
Trang 201.1.3.4 Thang điểm đánh giá tình trạng tinh thần MMSE
Đánh giá mức độ suy giảm nhận thức: Đánh giá nhận thức tổng quát: Sử dụng bộ công cụ MMSE (The mini mental state examination – Trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu)[30] Trắc nghiệm này giúp phát hiện suy giảm nhận thức và rất có giá trị nếu như sự suy giảm đó có tính chất tiến triển Thời gian làm trắc nghiệm chỉ khoảng 7 phút song độ đặc hiệu tới 94- 96%, và độ nhạy là 92% Do vậy trắc nghiệm này có giá trị trong chẩn đoán sàng lọc
Bảng 1.4 Thang điểm đánh giá tình trạng tinh thần MMSE
Câu hỏi Điểm tối đa
1 Định hướng thời gian
- Tháng này là tháng mấy? 1
- Hôm nay là ngày bao nhiêu? 1
2 Định hướng không gian
- Xã này tên là gì?/ Bệnh viện này tên là gì? 1
- Thôn này tên là gì?/ Tầng này là tầng mấy? 1
3 Ghi nhớ
Tôi sẽ đọc ba từ, sau khi đọc xong đề nghị ông/bà nhắc lại
Ông/bà phải nhớ thật kỹ vì lát nữa tôi sẽ hỏi lại Đọc chậm rãi
ba từ, giữa mỗi từ nghỉ khoảng một giây:
Trang 21- Chỉ vào đồng hồ đeo tay, hỏi "Đây là cái gì?" 1
- Chỉ vào bút chì, hỏi "Đây là cái gì?" 1
7 Nhắc lại câu
Ông/bà hãy nhắc lại câu sau đây: "Không nếu, và, hoặc 1
8 Làm theo mệnh lệnh viết
Ông/bà hãy đọc những từ ghi trong tờ giấy này và làm theo
yêu cầu ghi trong đó Đưa cho bệnh nhân một tờ giấy trong đó
có ghi "Hãy nhắm mắt lại" 1
9 Thực hiện mệnh lệnh ba giai đoạn
Cầm một tờ giấy, giơ ra trước mặt bệnh nhân và nói "Ông/bà
hãy cầm tờ giấy này bằng tay phải, gấp lại làm đôi bằng hai
tay, rồi đặt tờ giấy xuống sàn nhà"
- Cầm tờ giấy bằng tay phải 1
10 Viết
Trang 22Đưa cho bệnh nhân một cái bút chì rồi nói "Ông/bà hãy viết
bất kỳ một câu vào dưới dòng này" 1
11 Vẽ lại hình
Cho bệnh nhân xem hình vẽ sau đây, kèm một
cái bút chì, tẩy, rồi bảo bệnh nhân "Ông/bà vẽ
lại hình này sang bên cạnh"
20 – 23 điểm Suy giảm nhận thức nhẹ
10 – 19 điểm Suy giảm nhận thức vừa
0 – 9 điểm Suy giảm nhận thức nặng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1.Vai trò của chăm sóc và phục hồi chức năng sau đột quỵ
Chú ý trong quá trình theo dõi và điều trị, bệnh nhân có thể đột ngột nặng lên với những biểu hiện suy giảm nhanh chóng chức năng thần kinh hoặc tình trạng tuần hoàn, hô hấp suy sụp đột ngột
Người thầy thuốc cần đánh giá bệnh nhân từng bước theo quy tắc ABC, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp và nếu có thể, nên chỉ định chụp cắt lớp hoặc chụp MRI để đánh giá tiến triển của ổ nhồi máu cũng như phù não có thể xảy ra
Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng (PHCN) nên được thực hiện sớm, ngay khi bệnh nhân còn đang nằm trên giường bệnh, thường 24-48h sau đột quỵ Theo nghiên cứu, xoa bóp chi dưới bắt đầu trong 3 ngày đầu nằm viện giảm được nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân nằm lâu do đột quỵ cấp tính [20] Bệnh nhân sau đột quỵ được PHCN tại bệnh phòng điều trị, tại khoa PHCN trong viện và khi được ra viện, công tác PHCN được tiến hành tại các đơn vị PHCN ngoại trú, các cơ sở điều dưỡng và rất quan trọng là có chương trình PHCN tại nhà đối với người bệnh[19]
Bước đầu tiên PHCN là thúc đẩy các vận động chủ động của người bệnh Do nhiều bệnh nhân bị liệt hoặc yếu cơ nên phải thay đổi tư thế bệnh nhân thường xuyên trong khi nằm
Trang 23trên giường và tham gia vào các bài tập vận động thụ động hoặc chủ động để tăng cơ lực chi bị liệt (vận động thụ động là các vận động do bác sỹ thực hiện còn vận động chủ động do bản thân bệnh nhân tự thực hiện)
Vật lý trị liệu và PHCN tiến hành phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm mức độ tổn thương ban đầu, bệnh nhân có thể ngồi dậy, di chuyển giữa các giường, đứng lên, đi bộ
có hoặc không có sự trợ giúp Nhân viên PHCN giúp bệnh nhân có khả năng thực hiện các động tác phức tạp hơn như tắm, mặc quần áo, sử dụng toilet, hỗ trợ vận động chi bị liệt trong khi thực hiện các kỹ năng Bắt đầu thực hiện các hoạt động cơ bản trong cuộc sống hàng ngày là bước đầu tiên giúp bệnh nhân tự lập
PHCN sau đột quỵ là một quá trình có định hướng, mục tiêu nhằm giúp người khuyết tật đạt được mức độ hoạt động tối ưu về thể chất, nhận thức, cảm xúc, giao tiếp, xã hội
và / hoặc chức năng của họ Sau đột quỵ, bệnh nhân thường tiếp tục yêu cầu PHCN đối với các tình trạng thiếu hụt dai dẳng liên quan đến co cứng, rối loạn chức năng chi trên và chi dưới, đau vai và trung tâm, di chuyển/ dáng đi, khó nuốt, thị lực và giao tiếp Việc PHCN là rất quan trọng giúp người bệnh độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
1.2.2.Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân đột quỵ
Theo phân loại của WHO, những người bệnh sau đột quỵ não thuộc loại đa tàn tật, giảm khả năng vận động, giảm khả năng nhận thức, giao tiếp và các hoạt động sinh hoạt hằng ngày Chính vì vậy công tác chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh đột quỵ não, nhất là trong những giờ đầu bệnh nhân nhập viện điều trị, là công việc nặng nhọc, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả điều trị, phục hồi cho người bệnh Đặc biệt, trong những ngày đầu nhập viện, điều dưỡng là người chăm sóc chính cho người bệnh, đảm bảo dấu hiệu sinh tồn, theo dõi và đặc biệt là giúp người bệnh thực hiện các biện pháp vật lý trị liệu, PHCN sớm nhất, đạt hiệu quả điều trị và phục hồi Không chỉ là chăm sóc bệnh nhân, việc giáo dục – tư vấn sức khỏe cho người bệnh, người nhà người bệnh cũng rất quan trọng, giúp người bệnh và người chăm sóc chính có kiến thức PHCN cho người bệnh, giảm thiểu nguy cơ tàn tật sau đột quỵ
Thực hiện chăm sóc của điều dưỡng viên:
Qua thăm khám, nhận định tình trạng người bệnh, đưa ra chẩn đoán điều dưỡng, người điều dưỡng cần có kế hoạch thực hiện chăm sóc đầy đủ và đúng đắn cho mỗi người bệnh [21]
Trang 24- Đặt bệnh nhân nằm nghỉ ngơi đầu cao và nghiêng về một bên
- Tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ
- Vận động và xoa bóp tay chân
- Thay đổi tư thế mỗi 2 giờ /lần
- Động viên, trấn an bệnh nhân để bệnh nhân an tâm điều trị
- Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là tình trạng tăng huyết áp Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để theo dõi có thể từ 15 phút cho đến 2 giờ đo một lần
- Hút đờm dãi khi có ứ đọng đờm dãi
- Luôn giữ ấm cơ thể bệnh nhân
- Ăn uống đủ năng lượng, nhiều sinh tố và hạn chế muối dưới 5g/ngày, hạn chế
mỡ, các chất béo động vật, kiêng rượu, thuốc lá, chè đặc Đặt sonde dạ dày nuôi dưỡng nếu bệnh nhân không có khả năng nuốt
- Tránh các yếu tố kích thích cho bệnh nhân
- Vệ sinh sạch sẽ: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho bệnh nhân áo quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ
- Chăm sóc chống loét bằng đệm hơi hoặc đệm nước, xoay trở người mỗi 2 giờ kèm xoa bóp, tránh viêm phổi (ứ đọng đờm dễ gây viêm phổi) bằng vỗ rung ngực Chống nhiễm trùng hô hấp hoặc đường tiểu do xông tiểu
- Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở phải được theo dõi kỹ
- Theo dõi tình trạng liệt
- Theo dõi tình trạng thông khí
- Theo dõi tình trạng loét ép do nằm lâu
- Tình trạng tổn thương mắt, thận và tim mạch
Trang 25- Tình trạng sử dụng thuốc và các biến chứng do thuốc gây ra, đặc biệt chú ý các thuốc có thể gây hạ huyết áp mạnh và các di chứng của tai biến mạch máu não Giáo dục sức khoẻ
- Bệnh nhân và gia đình cần phải biết các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi gây đột quỵ não cũng như cách phát hiện các dấu chứng khi bị đột quỵ não, cách phòng, chăm sóc và theo dõi bệnh nhân sau đột quỵ[21]
1.2.3.Các nghiên cứu về chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não
Giáo sư Lê Văn Thính cùng các cộng sự thực hiện nghiên cứu “Tình hình và thực trạng chăm sóc đột quỵ trong các bệnh viện đa khoa từ tuyến tỉnh trở lên ở Việt Nam” năm
2008 đã đưa ra kết quả: NMN chiếm tỷ lệ 59,2%, chảy máu não chiếm 40,8% khi tính
ở tất cả các bệnh viện đa khoa từ tuyến tỉnh trở lên trong cả nước; thời gian nhập viện trung bình kể từ khi khởi phát đột quỵ là 42 giờ, thời gian nằm viện trung bình gần 3 tuần Với thời gian nằm viện gần 3 tuần, làm tăng gánh nặng chăm sóc cho nhân viên y
tế và người nhà chăm sóc cũng như tăng nguy cơ thương tật thứ phát trong khi nằm viện sau đột quỵ Nghiên cứu cũng chỉ ra điểm mRS trung bình khi xuất viện là 3 điểm, tàn tật ở mức vừa, bệnh nhân cần sự trợ giúp của người khác trong cuộc sống hàng ngày sau xuất viện
Nghiên cứu đưa ra kết luận: do điều kiện cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, kiến thức của người dân và nhân viên y tế về phát hiện, chẩn đoán và xử trí đột quỵ chưa đầy đủ nên chất lượng điều trị bệnh nhân đột quỵ chưa cao (điểm mRS khi ra viện hầu hết bằng 3)
Do vậy, cần có những chiến lược hiệu quả về Đào tạo, Can Thiệp và Quản lý Đột quỵ
để nâng cao nhận thức của người dân về bệnh và cải thiện kiến thức cho các nhân viện
y tế đang làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với bệnh nhân đột quỵ, nhằm từng bước nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân [22]
Nguyễn Thị Mai Hương cùng các cộng sự thực hiện nghiên cứu “Thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện Y dược cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ năm 2020” Nghiên cứu có kết quả: Trước can thiệp (T1), 44% người chăm sóc chính trả lời đúng về thời điểm tiến hành PHCN cho bệnh nhân đột quỵ là ngay sau đột quỵ Tỷ lệ trả lời đúng tăng lên đạt 62% ngay sau can thiệp (T2) và đạt 88% ở thời điểm trước khi ra viện (T3)
Trang 26Về các nội dung cần PHCN cho người bệnh đột quỵ, tỷ lệ người chăm sóc chính trả lời đúng đều tăng ở các thời điểm sau can thiệp so với trước can thiệp Đặc biệt tỷ lệ trả lời đúng từ 2 nội dung trở lên tăng lên 64% và 68% ở thời điểm T2 và T3 so với 38% ở thời điểm (T1) Trước can thiệp, tỷ lệ người chăm sóc chính có kiến thức đạt là 38% Sau can thiệp tại thời điểm T2 tỷ lệ người chăm sóc chính có kiến thức đạt là 64% và tại thời điểm T3 là 76%
Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy tác dụng tích cực và sự cần thiết của việc giáo dục sức khoẻ qua hướng dẫn trực tiếp cho người chăm sóc chính, những kiến thức về PHCN vận động cho người bệnh đột quỵ sẽ giúp ích cho người chăm sóc chính
có thể tiếp tục thực hiện PHCN cho người bệnh khi xuất viện về gia đình đặc biệt khi kết hợp cùng những hướng dẫn về thực hành chăm sóc [23]
Khúc Huyền Trang cùng các cộng sự thực hiện nghiên cứu “Đánh giá gánh nặng chăm sóc người bệnh đột quỵ tại não tại nhà của người chăm sóc chính” trên 113 người chăm sóc người bệnh đến tái khám tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai Nghiên cứu đưa
ra kết luận gánh nặng đối với người chăm sóc chính người bệnh sau đột quỵ não tại nhà
Từ các nghiên cứu trên cho thấy việc chăm sóc người bệnh sau đột quỵ là gánh nặng lớn cho gia đình Do vậy cần có những chăm sóc và điều trị hiệu quả, giúp người bệnh phục hồi tốt, giảm thiểu gánh nặng chăm sóc sau khi ra viện
Trang 27Khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Thanh Nhàn là một trong những đơn vị mũi nhọn của bệnh viện Thanh Nhàn cũng như của Sở y tế Hà Nội, là đơn vị đầu ngành Hồi sức cấp cứu và chống độc của Y tế Hà Nội Khoa Hồi sức tích cực có nhiệm vụ tiếp nhận điều trị và chăm sóc tích cực người bệnh nặng của các khoa trong bệnh viện và bệnh nhân nặng ở các tuyến chuyển đến Trung bình mỗi tháng khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn tiếp nhận 10-15 bệnh nhân đột quỵ Với đội ngũ nhân viện y tế giàu kinh nghiệm cũng như trang thiết bị hiện đại, ứng dụng phác đồ điều trị mới và các kĩ thuật tiên tiến, đã điều trị và chăm sóc bệnh nhân đạt hiệu quả cao [26]
2.2 Công tác đánh giá hoạt động chăm sóc người bệnh tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn
Hoạt động chăm sóc người bệnh tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn được đánh giá theo 5 mức, từ rất kém đến rất tốt, cụ thể như sau:
Các hoạt động chăm sóc chung bao gồm: vệ sinh cá nhân (vệ sinh răng miệng, thân thể, bộ phận sinh dục), thay đổi tư thế chống loét, thay quần áo, hỗ trợ người bệnh ăn uống, tập vận động Mỗi người bệnh đòi hỏi cần các hoạt động chăm sóc từ điều dưỡng khác nhau phụ thuộc vào tình trạng người bệnh và giai đoạn bệnh
- Mức rất kém: không thực hiện các hoạt động chăm sóc người bệnh
- Mức kém: thực hiện không đầy đủ các hoạt động chăm sóc, không tuân thủ đầy đủ các thời điểm thực hiện hoạt động chăm sóc hoặc không đạt yêu cầu về đảm bảo vệ sinh, người bệnh có tổn thương da, người bệnh bị sặc khi ăn uống…
Trang 28- Mức bình thường: thực hiện đầy đủ các hoạt động chăm sóc nhưng không tuân thủ đầy đủ các thời điểm thực hiện, không để xảy ra các biến chứng tổn hại đến cơ thể người bệnh
- Mức tốt: thực hiện đầy đủ các hoạt động chăm sóc, tuân thủ đầy đủ các thời điểm thực hiện, không để xảy ra các biến chứng tổn hại đến cơ thể người bệnh
- Mức rất tốt: thực hiện đầy đủ các hoạt động chăm sóc, tuân thủ đầy đủ các thời điểm thực hiện, không để xảy ra các biến chứng tổn hại đến cơ thể người bệnh Người điều dưỡng thực hiện thành thạo các hoạt động chăm sóc
2.3 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh nhồi máu não tại khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn
2.1.3.1.Đối tượng nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh NMN điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn trong thời gian từ tháng 04/2022 đến hết tháng 07/2022
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
- Người bệnh trên 18 tuổi, không phân biệt giới và nghề nghiệp
- Được chẩn đoán NMN theo tiêu chuẩn lâm sàng của Tổ chức Y tế thế giới
- Có hình ảnh tổn thương não do thiếu máu trên kết quả chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Tuân thủ quy trình phỏng vấn và thăm khám
- Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh được bệnh viện cho về hoặc gia đình xin về do tiến triển bệnh quá nặng, có tiên lượng tử vong
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 04/2022 đến hết tháng 07/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu
Thực tế trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập được 52 người bệnh NMN
Phương pháp chọn mẫu
Trang 29- Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện Lựa chọn tất cả người bệnh NMN đến khám và điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Thanh Nhàn trong vòng 24 giờ, thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ
- Mỗi đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn đặc điểm chung một lần tại thời điểm nhập viện Những người bệnh hôn mê, thông tin về đặc điểm chung sẽ được khai thác qua người nhà người bệnh Phỏng vấn, đo các chỉ số, nhận định đặc điểm lâm sàng 2 lần: tại thời điểm nhập viện và sau 24 giờ nhập viện; ghi nhận các chỉ số cận lâm sàng từ hồ sơ lưu 2 lần: thời điểm nhập viện và sau 24 giờ nhập viện
Biến số nghiên cứu
Bảng 2 1 Biến số nghiên cứu
thu thập
Thông tin
chung
Hồ sơ bệnh án, phỏng vấn
phỏng vấn Nghề nghiệp
Lao động chân tay Lao động trí óc Lao động khác
Nơi sống
Thành thị Nông thôn Miền núi
Trình độ học vấn
THPT Trung cấp Cao đẳng Đại học Sau đại học
Chung sống hàng ngày
Sống cùng người thân, gia đình
Sống một mình
Trang 30Bảo hiểm y tế Có hoặc không Nhị phân Hồ sơ bệnh án,
Tiền sử bệnh nội khoa
Tăng huyết áp Đái tháo đường Bệnh tim mạch Suy thận Đột quỵ cũ Bệnh khác (ghi rõ)
bệnh án
Tiền sử bệnh ngoại khoa
Đột quỵ chảy máu não can thiệp ngoại khoa Tiền sử phẫu thuật khác
Ăn nhiều đồ chiên rán
Thời điểm phát hiện đột quỵ
Ban ngày
Địa điểm phát hiện đột quỵ
Tại nhà Tại cơ quan Nơi khác (ghi cụ thể)
hoặc qua monitor
Kẹp nhiệt độ ở hố nách tối thiểu 5 phút
Trang 31Huyết áp Đo bằng mmHg Định lượng
Nhẹ Trung bình Hôn mê
Glasgow
Điểm NIHSS vào viện
Nhẹ Trung bình Nặng Rất nặng
NIHSS
Triệu chứng lâm sàng nhập viện
Đau đầu Hoa mắt chóng mặt Nóng mặt
Buồn nôn Nôn Liệt nửa người Liệt mặt Nói ngọng Rối loạn ngôn ngữ Đại tiểu tiện không tự chủ
sát, hồ sơ bệnh án
Xét nghiệm máu
Công thức máu (Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cẩu, huyết sắc tố) Chỉ số đông máu cơ bản: PT, APTT, Fibrinogen Ure, creatinin AST, ALT Glucose máu Điện giải đồ
Định lượng Hồ sơ bệnh án