TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁNDiện tích đất ông Bùi Quang Hải và bà Nguyễn Thị Kim nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất gồm 2 phần:+ 102 m2 thuộc thửa 164 tờ bản đồ số 09 đã được Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BM 62400 ngày 1112013.+ 54,7m2 trong thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Ngày 1462016 ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A , diện tích 156,7 m2 trên.Ngày 792016 chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A có thông báo số 2728TBCNVPĐK trả hồ sơ của ông Hải và bà Kim.Không đồng ý với với thông báo 2728TBCNVPĐK ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân TP.A.Ngày 542018, Tòa án ra bản án phúc thẩm số 042018HCPT buộc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và Bà Kim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
Trang 2
-o0o -BÀI THU HOẠCH
KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
THỰC HÀNH DIỄN ÁN HỒ SƠ SỐ 15
Họ và tên : Ngày sinh :
Số báo danh : Lớp Luật sư :
…, ngày… tháng… năm…
Trang 3MỤC LỤC
1 Tóm tắt nội dung vụ án 2
2 Điều kiện khởi kiện và căn cứ pháp lý áp dụng 3
a) Đối tượng khởi kiện……… ……… 7
b) Nội dung khởi kiện……… ……… 8
c) Xác định tư cách đương sự………9
d) Các văn bản pháp luật……….15
e) Thẩm quyền giải quyết vụ án……… 10
f) Thời hiệu khởi kiện……… 11
3 Kế hoạch hỏi tại phiên toà 13
4 Bản luận cứ 15
5 Phần nhận xét diễn án………16
Trang 41 TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Ông Bùi Quang Hải và vợ là bà Đặng Thị Kim có phần đất diện tích 156,7m² (gồm 02 thửa: thửa 351, diện tích 102,0m²; thửa 164, diện tích 54,7m² cùng tờ bản đồ số 9) và các căn nhà trên đất cùng tọa lạc tại Phường 5, thành phố A, tỉnh H có nguồn gốc do cha mẹ vợ chồng ông để lại là ông Bùi Xuân Mĩ,
bà Nguyễn Thị Rô từ năm 2002 (Riêng phần nhà cấp 3 tại phần diện tích 102,0m² thuộc thửa 51, tờ bản đồ số 9 thì do chúng tôi phá dỡ nhà cũ cấp 4 và xây lại vào năm 2011) như sau:
+ 102 m2 thuộc thửa 164 tờ bản đồ số 09 đã được Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BM 62400 ngày 11/1/2013
+ 54,7m2 trong thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Ngày 14/6/2016 ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A , diện tích 156,7 m2 trên
- Ngày 7/9/2016 chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A có thông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ của ông Hải và bà Kim Không đồng
ý với với thông báo 2728/TB-CNVPĐK ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân TP.A - Ngày 5/4/2018, Tòa án ra bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT buộc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và Bà Kim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật
- Ngày 20/4/2018, ông Hải và bà Kim nộp lại hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận
và giao trả hồ sơ thuộc UBND TP A
- Ngày 14/8/2018, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất TP.A ra văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG giải trình đã trình Hồ sơ lên Văn phòng đăng ký đất đai TP.A vào ngày 2/7/2018
- Ngày 24/8/2014 ông Hải làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 7/1/2019 ông Hải và bà Kim tiếp tục nộp đơn khiếu nại ủy ban nhân dân thành phố A chậm giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông
- Ngày 30/1/2019 UBND thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT trả lời cho ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim Nội dung: tạm trả hồ sơ của ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim trong thời gian chờ Tổng cục Đất đai hướng dẫn giải quyết - Ngày 18/3/2019 Chủ tịch UBND thành phố A ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT cho rằng việc trả hồ sơ tại Văn bản số 504 là phù hợp và sau khi có hướng dẫn của cấp trên, nếu đủ điều kiện thì sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 5- Ngày 4/4/2019, ông Hải và bà Kim khởi kiện đến Tòa án Nhân Dân Tỉnh
H yêu cầu: tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản
số 1126/UBND-TNMT và buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết
hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09
- Ngày 21/10/2019, Tòa án Nhân Dân Tỉnh H đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử
2 ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ ÁP DỤNG
a Đối tượng khởi kiện
Người khởi kiện khởi kiện hai đối tượng sau:
(1) Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 của UBND Thành phố
A
(2) Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Chủ tịch UBND Thành phố A
Văn bản số 504/UBND-TNMT đủ yếu tố là quyết định hành chính bị kiện theo khoản 1, Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015
Tuy nhiên, theo tôi văn bản số 1126/UBND-TNMT không là Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện Bởi: (i) Văn bản trên chỉ giải thích lý do UBND thành phố H trả lại hồ sơ và thông báo tới ông Hải và bà Kim sau khi có văn bản hướng dẫn sẽ xem xét cấp Giấy chứng nhận nếu đủ điều kiện (ii) Mặc dù văn bản 1126đề cập đến Đơn khiếu nại của ông Hải và bà Kim nhưng không giải quyết nội dung khiếu nại (Tại điểm h, khoản 2, Điều 31 Luật Khiếu nại 2011 quy định: Quyết định giải quyết khiếu nại phải “Giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại”) Như vậy, Văn bản 1126 không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hải và bà Kim nên không đủ yếu tố trở thành quyết định hành chính
bị kiện Trong trường hợp này, Văn bản 1126 chỉ nên chỉ được xem xét là văn bản hành chính liên quan cần xem xét trong quá trình giải quyết vụ án
Thông báo số 2728/TB-CNVPDK ngày 07//09/2016 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A (lý do phần đất diện tích 54,7m2 thuộc đất biển)
Trang 6công văn 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 (trả lời việc chậm cấp giấy CNQSD đất) và công văn 1126/UBND-TNMT ngày 18/03/2019 (tạm thời trả hồ
sơ đăng ký giấy CNQSD đất cho ông Hải và bà Kim) của UBND thành phố A
b Nội dung khởi kiện
Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT của UBND Thành phố A và Văn bản
số 1126/UBND-TNMT của Chủ tịch UBND Thành phố A ban hành - Buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 theo quy định pháp luật
Các yêu cầu trên đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử theo quy định tại khoản 2, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015
c Xác định tư cách đương sự
***Người khởi kiện: ông Bùi quang Hải sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị
Kim sinh năm 1981 Địa chỉ: 179/8/1 Trần Phú phường 5 thành phố A tỉnh H Quyết định hành chính số 504/UBND-TNMT và văn bản số 1126/UBND-TNMT ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hà và bà Kim Ông bà có quyền khởi kiện với quyết định hành chính theo khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 Đồng thời, ông bà không đồng ý với quyết định số 504/UBND-TNMT
và số 1126/UBND-TNMT nên đã tự quyết định việc khởi kiện và có đơn khởi kiện tại Tòa án Như vậy, ông Hải và bà Kim là người khởi kiện và đã đáp đứng các yêu cầu về người khởi kiện quy định tại khoản 8 Điều 3, Điều 5, Điều 8 và Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015
Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Trần Quốc Chinh sinh năm 1965, địa chỉ 64/1A Nguyễn Hới phường nguyễn An ninh thành phố A tỉnh H
***Người bị khởi kiện: UBND thành phố A.
Như đã trình bày tại phần đối tượng khởi kiện, tôi cho rằng văn bản 1126/UBNDTNMT không là quyết định hành chính nên đối tượng khởi kiện chính
để làm cơ sở xác định người bị kiện là Văn bản số 504/UBND-TNMT
Với văn bản số 504/UBND-TNMT, cơ quan ban hành là Ủy ban nhân dân Thành phố A Đồng thời, Ủy ban nhân có thẩm quyền giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo quy định tại khoản 2, Điều 105 Luật đất đai 2013, nên việc giải quyết hồ sơ của ông Hải, bà Kim hoàn toàn thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố Bởi vậy, Ủy ban nhân dân Thành phố A là người bị
Trang 7kiện được xác định tại Đơn khởi kiện và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hoàn toàn đúng theo quy định tại khoản 9, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 201
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Thành phố A: ông Nguyễn thế Khang – chuyên viên phòng TNMT thành phố A
d Các văn bản pháp luật
- Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13;
- Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13;
- Luật Đất đai 1993 số 24-L/CTN;
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13;
- Nghị định 01/2017 sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định hướng dẫn thi hành luật đất đai;
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
e Thẩm quyền giải quyết vụ án
Tòa án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm là Tòa án Nhân dân tỉnh H vì:
+ Thẩm quyền theo cấp tòa: Đối tượng khởi kiện là Văn bản số 504/UBNDTNMT của UBND Thành phố A và Văn bản số 1126/UBND-TNMT
do chủ tịch UBND Thành phố A ban hành (Quyết định, văn bản của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện) nên Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
+ Thẩm quyền theo lãnh thổ: Cơ quan ban hành quyết định hành chính bị kiện là UBND Thành phố A và chủ tịch UBND Thành phố A, thuộc tỉnh H, cùng địa giới hành chính với Tòa án nhân dân tỉnh H nên Tòa án nhân dân tỉnh
H có thẩm quyền giải quyết
Cơ sở pháp lý: khoản 4, Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015
f Thời hiệu khởi kiện:
- Theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính
- Ngày 30/01/2019, ngày 18/3/2019, UBND thành phố A ra hai công văn
số 504 và công văn 1126 Ngày 04/4/2019, ông Bùi Quang Hải nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh H Như vậy, còn thời hiệu khởi kiện
Trang 83 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ
*** Hỏi người bị kiện: UBND thành phố A
+ UBND thành phố A cho biết Văn bản số 504/UBND-TNMT sử dụng cụm từ “tạm trả hồ sơ” có văn bản pháp luật nào quy định hay không? Tại sao không phải sử dụng cụm từ “được” hoặc “không được”?
+ UBND thành phố A cho biết căn cứ vào đâu để UBND thành phố A ra thông báo tạm trả hồ sơ cấp giấy của ông Bùi Quang Hải?
+ UBND thành phố A cho biết UBND thành phố A căn cứ vào đâu cho rằng hồ sơ của ông Bùi Quang Hải không đủ điều kiện cấp giấy?
+ UBND thành phố A cho biết UBND thành phố A có nhận được Văn bản số 4174/CNVPĐKĐĐ ngày 14/8/2018 không?
+ UBND thành phố A cho biết thời hạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu là bao lâu?
+ UBND thành phố A cho biết vì sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của ông Bùi Quang Hải UBND thành phố A phải xin ý kiến của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền?
+ UBND thành phố A cho biết UBND thành phố A có nhận được văn bản hướng dẫn trả lời của Tổng cục quản lý Đất đai chưa?
+ UBND thành phố A cho biết UBND thành phố A có nhận được đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Quang Hải của UBND Phường 5 hay không?
***Hỏi người khởi kiện ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim
+ Ông Bùi Quang Hải cho biết diện đất mà ông đề nghị UBND thành phố A cấp giấy có nguồn gốc từ đâu? Ông sử dụng vào mục đích gì?
+ Ông Bùi Quang Hải cho biết diện tích đất tranh chấp ông sử dụng từ trước đến nay có phát sinh tranh chấp hay không?
+ Ông cho biết ông làm hồ sơ đề nghị UBND thành phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 54,7m² vào thời gian nào? UBND thành phố A có giải quyết hồ sơ đó cho ôngchưa?
+ Ông Hải ông cho biết ông khiếu nại UBND thành phố A về việc chậm giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông vào thời gian nào?
+ Ông Hải việc UBND thành phố A ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và Văn bản số 1126/UBND-504/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 về
Trang 9việc tạm trả hồ sơ của ông, ông có đồng ý với văn bản đó hay không? Ông có khiếu nại hai Văn bản đó hay không?
Trang 104 BẢN LUẬN CỨ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI LUẬN CỨ
“Bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim trong vụ án Khiếu kiện về việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Kính thưa Vị đại diện Viện kiểm sát!
Thưa các Luật sư đồng nghiệp
Tôi là Luật sư … – thuộc Văn phòng Luật sư …, Đoàn Luật sư thành phố
…, tham gia phiên tòa ngày hôm nay với vai trò là Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng của tôi là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim - là người khởi kiện văn bản số số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 1126/UBND-TNMT ngày 13/8/2019 và văn bản số 1126/UBND-1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019
Thưa Hội đồng xét xử!
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua phần hỏi đáp tranh tụng công khai tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ quyền lợi người khởi kiện như sau:
Thứ nhất, Về tố tụng
Văn bản số số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 1126/UBND-TNMT ngày 13/8/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A là Hành vi hành chính thuộc đối tượng khiếu kiện hành chính theo khoản 3, 4 Điều 3, khoản 1, Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 Ông Hải và
bà Kim là người bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp đối với các nội dung trả lời Hành vi hành chính của UBND thành phố không đồng ý với Hành vi hành chính đó nên có quyền khiếu kiện hành chính với tư cách là người khởi kiện UBND thành phố A là người ban hành Hành vi hành chính bị kiện nên phải tham gia phiên toà với tư cách là người bị kiện theo khoản 9, Điều 3 Luật
tố tụng hành chính 2015
Trang 11Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì thời điểm ông Hại và bà Tuyết khởi kiện vụ án hành chính trong thời hiệu khởi kiện
Căn cứ khoản 3 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh H
Từ những nội dung trên thì tôi cho rằng, việc Tòa án nhân dân tỉnh H thụ lý
vụ án và trình tự giải quyết được áp dụng theo các văn bản quy phạm pháp luật về
tố tụng hành chính là phù hợp quy định pháp luật Đề nghị Tòa án tiếp tục tiến hành xét xử
Thứ hai,Về nội dung
Ông Hải và bà Kim yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh H hủy bỏ Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 1126/UBND-TNMT ngày 13/8/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A là hoàn toàn có cơ sở bởi Quyết định này vi phạm hình thức lẫn nội dung văn bản, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND thành phố A sử dụng cụm từ “tạm trả hồ sơ” là không phù hợp với bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào đang có hiệu lực Tại thời điểm hiện nay trong hệ thống pháp luật của chúng ta khi giải quyết các vụ việc thuộc lĩnh vực thủ tục hành chính chỉ có thể tồn tại hai dạng “được” hoặc “không được” Trường hợp không được thì cơ quan giải quyết hồ sơ hành chính phải nêu rõ căn cứ pháp lý khi trả hồ sơ
Như vậy, việc sử dụng cụm từ “tạm trả” trong Văn bản số 504/UBND-TNMT là không có căn cứ
- Thứ hai,về nội dung:
+ Tại Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư ngày 21/6/2016: theo ý kiến của ông Đào Văn Nhu, bà Nguyễn Thị Nhủ đều xác định lúc về khu vực này sinh sống đã thấy nhà ông Bùi Xuân Mĩ (ba ông Hải) ở tại căn nhà phía trước (là phần đất đã được cấp giấy) còn phần phía sau nhà (là phần đất hiện nay cấp bổ sung) là sàn gỗ, ông Mĩ sử dụng để phơi cá Đến năm 1998 ông Mĩ xây bè để đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá Đến năm 2000 ông Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Đến năm 2002, ông Mĩ lập giấy tay bán toàn bộ nhà đất này cho vợ chồng con trai là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim tiếp tục sử dụng để ở
và cho thuê đến nay không có tranh chấp
* Tại khoản 3, 5, Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai về một số trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định như sau:
3 Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai