1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài thu hoạch môn quản lý kinh tế phân tích chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở việt nam thời kỳ 2006 2015 ý nghĩa lý luận, thực tiễn

19 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài thu hoạch môn quản lý kinh tế phân tích chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở việt nam thời kỳ 2006 2015 ý nghĩa lý luận, thực tiễn
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 38,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 PHẦN I CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ 3 NHIỀU THÀNH PHẦN THỜI KỲ 2006 – 2015 3 1 1 Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội X ( 2006) 3 1 2 Ch[.]

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

PHẦN I CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ 3

NHIỀU THÀNH PHẦN THỜI KỲ 2006 – 2015 3

1.1 Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội X ( 2006) 3

1.2 Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội XI ( 2011).5 1.2.1 Đa dạng hoá các hình thức sở hữu 5

1.2.2 Coi trọng mọi hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh 6

1.2.3 Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước 7

PHẦN II Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

2.1- Ý nghĩa lý luận 10

2.2 – Ý nghĩa thực tiễn 11

KẾT LUẬN 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ,luôn luôn ở tình trạng trì trệ , chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan khách quan như nền kinh tế đang gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ trong chiến tranh nhưng nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn về kinh tế và xã hội vẫn là mô hình kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan Chính những khó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ, phân tích tình hình nguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần, đây là mô hình kinh tế được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta, vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm của Lênin về “chính sách kinh tế mới” vào điều kiện lịch sử ở nước ta và thế giới ngày nay, đặc biệt là từ khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông âu sụp đổ

Thực hiện mô hình kinh tế mới nhằm mục tiêu căn bản cấp thiết là tăng nhanh lực lượng sản xuất , từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội cho việc từng bước hoá nền sản xã hội

Chính trong sự cấp thiết về tầm quan trọng của vấn đề “cơ cấu kinh tế

nhiều thành phần ở nước ta” mà em đã chọn đề tài “Phân tích chính sách

phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam thời kỳ 2006- 2015 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn”

Trang 3

NỘI DUNG PHẦN I CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ

NHIỀU THÀNH PHẦN THỜI KỲ 2006 – 2015

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã được Đảng ta nêu ra từ Đại hội VI (1986) Đây là chủ trương, chính sách nhất quán và lâu dài của Đảng

ta, cho đến nay đã trải qua 25 năm đổi mới, thực tiễn đã chứng minh rằng, đây

là một luận điểm, một chính sách hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan,

là quyết sách chiến lược đúng đắn, sáng tạo góp phần vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử”

1.1 Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội X ( 2006)

Kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội X đã làm sáng tỏ thêm nội dung

cơ bản của Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, thể hiện ở bốn tiêu chí là:

Về mục đích phát triển: Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát khỏi nghèo và từng bước khá giả hơn”

Mục tiêu trên thể hiện rõ mục đích phát triển kinh tế vì con người, giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để nâng cao đời sống cho mọi người, mọi người đều được hưởng những thành quả phát triển Ở đây thể hiện

sự khác biệt với mục đích tất cả vì lợi nhuận phục vụ lợi ích của các nhà tư bản, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa tư bản

Về phương hướng phát triển: Phát triển các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Trang 4

Phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh

tế là nhằm giải phóng mọi tiềm năng để phát triển trong mọi thành phần kinh

tế, trong mỗi cá nhân và mọi vùng miền… phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để giữ vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước phải nắm được các vị trí then chốt của nền kinh tế bằng trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao chứ không phải dựa vào bao cấp, cơ chế xin cho hay độc quyền kinh doanh Mặt khác, tiến lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu nền kinh tế phải được dựa vào nền tảng của sở hữu toàn dân các tư liệu sản xuất chủ yếu

Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người

Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội vừa đảm bảo sự phát triển bền vững, vừa thể hiện rõ định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, thực hiện mục tiêu phát triển con người Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển còn thực hiện phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác

Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự thể hiện rõ rệt định hướng xã hội chủ nghĩa

và cũng là sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự quản lý, điều tiết nền kinh

tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật đảm bảo mục đích của nền

Trang 5

kinh tế, sự vận động của chế độ sở hữu, phân phối theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi con người

Những tiêu chí trên vừa thể hiện tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta, vừa thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

1.2 Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội

XI ( 2011)

Trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta lại tiếp tục khẳng định tính khách quan của việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, coi trọng mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức kinh doanh và vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước

1.2.1 Đa dạng hoá các hình thức sở hữu

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới, Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã

có những khái quát mới về lý luận: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.”

Lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng ta nêu đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp Đây là một bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa chế độ sở hữu, hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh Mỗi chế độ sở hữu trong thực tiễn có thể có nhiều hình thức sở hữu

mà ở đó sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và biểu hiện ra là các loại hình kinh doanh có hiệu quả cao góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế Sự phát triển đa dạng của các hình thức sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất càng đa

Trang 6

dạng, trình độ xã hội càng phát triển, quan hệ sản xuất càng mở rộng thì tính

đa dạng trong quan hệ sở hữu cũng ngày càng tăng lên

Vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ nhấn mạnh “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh”, còn số lượng các hình thức sử hữu, các thành phần kinh tế và theo đó là bao nhiêu loại hình doanh nghiệp là do nhu cầu khách quan của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất

và lực lượng sản xuất quyết định Đây là một bước tiến nhằm tạo một không gian mở cho quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động, để có thể tránh giáo điều chủ quan

1.2.2 Coi trọng mọi hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã đưa ra khái quát mới về mặt lý luận:

“Tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức

sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền

và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước , quy định rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với xã hội”. 

“Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”, “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”

Có thể có ý kiến còn băn khoăn về cách tiếp cận nêu trên của Văn kiện Đại hội XI của Đảng so với lý luận của V.I Lê-nin về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chúng ta biết rằng, nhận thức về

Trang 7

thành phần kinh tế của V.I Lê-nin cũng rất uyển chuyển, linh hoạt phù hợp với các giai đoạn phát triển khác nhau: Giai đoạn áp dụng chính sách cộng sản thời chiến, thành phần kinh tế được nhấn mạnh trên cơ sở quan hệ sở hữu nhất định, nhưng khi chính sách kinh tế mới (NEP) ra đời, thành phần kinh tế lại được nhấn mạnh đến các hình thức kinh tế

Như vậy, ở các giai đoạn khác nhau thì nhận thức về thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi, đó là quá trình khách quan phù hợp với quy luật nhận thức Vì vậy, quá trình đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức về các thành phần kinh tế ở nước ta qua các kỳ đại hội của Đảng là hoàn toàn phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thời kỳ đang phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu

1.2.3 Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước

Trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các

tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”

Như chúng ta đã biết, tại Đại hội VIII (năm 1996) Đảng ta lần đầu tiên đưa ra phạm trù kinh tế nhà nước thay vì cách gọi kinh tế quốc doanh trước

đó, với nội hàm rộng hơn, bao quát được toàn bộ các hoạt động quản lý tài nguyên của đất nước; những cơ sở hạ tầng được tạo ra; các loại quỹ của quốc gia; các doanh nghiệp nhà nước bao gồm cả doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh nhờ đó đã giải quyết được vấn đề nhận thức thực tiễn cũng như lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả cao sẽ góp phần tăng cường tiềm lực và sức mạnh của kinh tế nhà nước trong sứ mệnh chủ đạo

Trang 8

trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cho nên, việc tăng hay giảm cả về quy mô, số lượng, chất lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chỉ phản ánh một bộ phận của kinh tế nhà nước nói chung, chứ không thể coi đó là toàn bộ kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Nhà nước quản lý nền kinh

tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất” Luận điểm nêu trên của Đảng ta là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn kinh tế khách quan Bài học từ các nền kinh tế lớn vừa qua cũng cho thấy, vai trò của nhà nước không chỉ thể hiện ở sự điều hành vĩ mô nền kinh tế, mà còn ở thực lực của kinh tế nhà nước

Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) hiện nay đã nói lên điều đó Mỹ là nền kinh tế mạnh nhất toàn cầu, chiếm 30% GDP của thế giới, nhưng thực lực kinh tế lại nằm trong tay các tập đoàn kinh

tế tư nhân, nên khi các “đại gia” sụp đổ thì nhà nước cũng đứng trước nguy cơ

vỡ nợ Học thuyết chủ nghĩa tự do mới, với việc hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế đã bị sụp đổ hoàn toàn Ông Ni-cô-la Xác-cô-di, Tổng thống Pháp đồng thời là Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU) đã kêu gọi phải “tái xây dựng một chủ nghĩa tư bản điều chỉnh”.  

Như vậy, để chuyển biến nhận thức từ giai đoạn phân chia các thành phần kinh tế thành hai loại: kinh tế xã hội chủ nghĩa và phi xã hội chủ nghĩa (trước đổi mới), đến thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần (trong đổi mới), và thừa nhận tất cả các thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài, phải trải qua hơn 15 năm đổi mới (đến Đại hội IX năm 2001) Ngày nay, từ kết quả 25 năm đổi mới chúng ta lại có một bước tiến quan trọng trong quá trình nhận thức bằng việc khẳng định vai trò của các thành phần kinh tế

Trang 9

qua sự đóng góp đối với sự tăng trưởng và hiệu quả kinh tế mang lại cho nền kinh tế quốc dân

Vì thế, trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh

tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa”

Trang 10

PHẦN II Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1- Ý nghĩa lý luận

Thứ nhất: Do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ lịch sử đặc biệt, còn có sư đan xen giữa các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới Nên trong lĩnh vực kinh tế, tất nhiên cũng sẽ bao gồm những thành phần kinh tế của xã hội cũ cùng với thành phần kinh tế của xã hội mới ra đời

Thứ hai: Theo yêu cầu của quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nên trong thời kỳ quá độ, qúa trình xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất

Thứ ba: Do tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của công cuộc cải biến quan hệ sản xuất cũ; xây dựng, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới đòi hỏi

Thứ tư: Trong thời kỳ quá độ, các thành phần kinh tế cũ do lịch sử để lại vẫn còn có vai trò, tác dụng tích cực để phát triển sản xuất như: giải quyết việc làm cho người lao động, duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống, tăng thu nhập cho người dân, nâng cao đời sống Do đó phải để cho kinh tế

cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân tồn tại, hơn nữa phải tạo điều kiện, môi trường cho nó tồn tại và phát triển Nhận thức và hành động như vậy mới phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với lợi ích kinh tế của các giai tầng trong xã hội, góp phần ổn định sản xuất và đời sống

Thứ năm: Do yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi: Để tăng trưởng và phát triển kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống chính trị, xã hội, nhà nước phải xây dựng hệ thống cơ sở kinh tế mới, cùng với kết quả của quá trình quốc hữu hoá, hình thành thành phần kinh tế nhà nước, đây là bộ phận giữ vai trò chủ đạo, là nền tảng thực sự của nền kinh tế quốc dân

Thứ sáu: Do đòi hỏi của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, chúng ta phải tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, phải có chính sách mở cửa nền kinh tế, phải thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi

Ngày đăng: 10/02/2023, 16:02

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w