MỤC LỤC 1MỤC LỤC 1PHẦN MỞ ĐẦU 2NỘI DUNG 2Phần I Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thời kỳ 21986 2005 21 Chủ trương và chính sách phát triển các thành phần kinh tế 92 Đánh giá vị trí,[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
Phần I Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thời kỳ 2
1986 - 2005 2
1- Chủ trương và chính sách phát triển các thành phần kinh tế 2
2- Đánh giá vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế 9
3- Xu hướng và định hướng phát triển 16
1- Ý nghĩa lý luận 20
2 – Ý nghĩa thực tiễn 22
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp bộc
lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả tập trung là cuộc cách mạngkinh tế-xã hội sâu sắc vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ năm của Đảng cộng sản Việt Nam đãđánh giá tình hình đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ,luôn luôn ởtình trạng trì trệ , chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn,tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan khách quan như nền kinh tếđang gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài, việntrợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ trong chiến tranh nhưng nguyên nhân chủyếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn về kinh tế và xã hội vẫn là môhình kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan Chính nhữngkhó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ, phân tích tình hìnhnguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cầnthiết của nền kinh tế nhiều thành phần, đây là mô hình kinh tế được xây dựngtrên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta, vận dụng một cáchsáng tạo những quan điểm của Lênin về “chính sách kinh tế mới” vào điềukiện lịch sử ở nước ta và thế giới ngày nay, đặc biệt là từ khi Liên Xô và cácnước XHCN ở Đông âu sụp đổ
Thực hiện mô hình kinh tế mới nhằm mục tiêu căn bản cấp thiết là tăngnhanh lực lượng sản xuất , từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sởvật chất và xã hội cho việc từng bước hoá nền sản xã hội
Chính trong sự cấp thiết về tầm quan trọng của vấn đề “cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta” mà em đã chọn đề tài “Phân tích chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam thời kỳ 1986- 2005.Ý nghĩa lý luận, thực tiễn ”.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG Phần I Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thời kỳ
1986 - 2005
1- Chủ trương và chính sách phát triển các thành phần kinh tế
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã thổi luồng gió mới vào đời sống kinh
tế ở nước ta Trong đại hội này, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những thiếu sóttrong nhận thức và chỉ đạo về sở hữu và các thành phần kinh tế, cũng nhưviệc vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ VI chỉrõ: Trong nhận thức và trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơcấu kinh tế nhiều thành phần, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về
sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Trên cơ sở nhận thức lại lý luận và thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã cónhững nhận thức mới đúng đắn và khoa học về vấn đề sở hữu và các thànhphần kinh tế, từng bước khơi dậy được động lực hoạt động kinh tế trong cácthành phần dân cư; nghĩa là thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hìnhthức sở hữu về tư liệu sản xuất và những thành phần kinh tế Từ đó thay đổi
cơ chế quản lý và cơ chế phân phối, cụ thể là chuyển từ cơ chế tập trung quanliêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, từ cơ chế phân phối bình quân sang cơ chế phân phốitheo lao động và tài sản đóng góp Đồng thời đã nhận thức rõ hơn về sở hữuqua các quyền năng như: quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thừa kế, quyềnchuyển nhượng, quyền định đoạt, quyền hưởng lợi, nhờ đó khắc phục đượctình trạng vô chủ trước đây
Đại hội Đảng lần thứ VII và chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000,Đảng ta khẳng định: Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong
đó có ba hình thức cơ bản đó là: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân Trên cơ sở ba hình thức sở hữu cơ bản này mà hình thành nhiều hìnhthức tổ chức và nhiều thành phần kinh tế Cụ thể có năm thành phần kinh tế:
Trang 4- Kinh tế quốc doanh;
- Kinh tế hợp tác;
- Kinh tế tư bản tư nhân;
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ;
- Kinh tế tư bản Nhà nước
Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là vấn đề có tính quy luật từ sảnxuất nhỏ lên sản xuất lớn, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược Các thành phầnkinh tế tồn tại lâu dài và nằm trong một cơ cấu kinh tế thống nhất
Tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới với những thành công và những hạnchế trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Đại hội Đảng lần thứ VIII lại có nhận thức đầy đủ thêm Để phù hợp vớithực tiễn phát triển, Đại hội đã thay cụm từ: kinh tế quốc doanh bằng cụm từkinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác xã thành kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợptác xã và đưa thành phần kinh tế tư bản nhà nước lên vị trí thứ ba
Đại hội lần thứ IX của Đảng là đại hội của “ý Đảng lòng dân” về sở hữu
và các thành phần kinh tế Đại hội đã có những bổ sung và phát triển về sởhữu và các thành phần kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của đất nước
Về sở hữu: Đây là vấn đề cơ bản và quan trọng của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Sở hữu về
Mác-tư liệu sản xuất là yếu tố hàng đầu quyết định các mối quan hệ sản xuất, quyếtđịnh chế độ quản lý và chế độ phân phối Vì thế vấn đề sở hữu tư liệu sảnxuất từ xưa đến nay luôn là vấn đề cơ bản và sâu xa của mọi cuộc cải cáchkinh tế cũng như của mọi cuộc cách mạng xã hội
Khi nói đến chế độ sở hữu là nói chung, với hàm nghĩa là cơ sở của chế
độ kinh tế Loài người đã trải qua nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất,nhưng tựu trung chỉ có hai chế độ sở hữu cơ bản Đó là sở hữu công cộng và
sở hữu tư nhân Mỗi chế độ sở hữu lại có nhiều trình độ và hình thức biểuhiện cụ thể khác nhau chế độ công hữu có các trình độ và hình thức biểu hiệnnhư: sở hữu công xã, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể… Chế độ tư hữu cũng
Trang 5có nhiều trình độ và nhiều hình thức như: sở hữu của nông dân cá thể, sở hữucủa người sản xuất hàng hóa nhỏ, sở hữu của địa chủ, sở hữu của nhà tư bản.Hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do đótất yếu còn đan xen nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất Tiếp tục pháttriển những tư tưởng của Đại hội VII và Đại hội VIII về sở hữu, Đại hội IXkhẳng định thêm một số tư tưởng:
- Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất, chủ yếu từngbước được xác lập và chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội xây dựngxong về cơ bản Xây dựng chế độ đó là một quá trình phát triển kinh tế – xãhội lâu dài qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao Phải từ thực tiễntìm tòi, thử nghiệm để xây dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan
hệ sản xuất mới nói chung với bước đi vững chắc
- Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả sản xuất, quan hệ sản xuấttheo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất,cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội
Về các thành phần kinh tế: Quy luật của sự phát triển là phát triển khôngđều Chính quy luật phát triển không đều về kinh tế, xã hội và tự nhiên đã làmxuất hiện trong nền kinh tế nhiều “kiểu cách làm ăn” với quy mô trình độkhác nhau và phù hợp với nó là những hình thức sở hữu tương ứng Thêmnữa, để phát triển kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống chính trị – xã hội,Nhà nước phải xây dựng hệ thống những cơ sở kinh tế mới, hình thành nênkhu vực Kinh tế nhà nước Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế,thông qua hợp tác và đầu tư lại hình thành nên Kinh tế tư bản nhà nước Đây
là cơ sở kinh tế của việc hình thành các thành phần kinh tế khác nhau màngày nay nhiều khi gọi đó là khu vực kinh tế hay loại hình kinh tế
Mục tiêu hàng đầu của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần làgiải phóng sức sản xuất, thực chất là tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân
có điều kiện tham gia sản xuất kinh doanh, qua đó động viên tối đa mọi nguồnlực trong nước và ngoài nước cho công cuộc phát triển kinh tế, nhằm thực
Trang 6hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Đây chính là cơ sở
xã hội của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Xuất phát từ thực tiễn những năm gần đây, Đại hội IX tái khẳng địnhquan điểm đổi mới của Đại hội VI, VII, VIII, đồng thời bổ sung một số điểmmới như sau:
- Một là, thay thành phần kinh tế hợp tác bằng thành phần kinh tế tập thể,trong đó hợp tác xã là nòng cốt
- Hai là, nhận thức rõ hơn thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ trong quátrình phát triển kinh tế xã hội, nên đưa thành phần kinh tế này lên vị trí thứ basau thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể nhằm phát huynội lực để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Ba là, bổ sung thêm một thành phần kinh tế nữa là kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài
Như vậy hiện nay ở nước ta có sáu thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước;kinh tế tập thể trong đó nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế
tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Các thành phần kinh tế có thể có các hình thức kinh doanh đan xen, hỗnhợp, vừa hợp tác vừa cạnh tranh trong cùng một nền kinh tế quốc dân thốngnhất Tất cả các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nướcchiếm vai trò chủ đạo Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càngtrở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân
- Bốn là, phương hướng phát triển các thành phần kinh tế
+ Thành phần kinh tế nhà nước Kinh tế nhà nước bao gồm các doanhnghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảohiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chuchuyển kinh tế
Kinh tế nhà nước dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất(sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước) Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Trang 7trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, làlực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nềnkinh tế.
Các doanh nghiệp nhà nước, bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhànước giữ vai trò then chốt, phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ, nêu gương về năngsuất, chất lượng, hiệu quả kinh tế –
xã hội và chấp hành pháp luật
Để làm được như vậy, trong 5 năm tới phải cơ bản hoàn thành việc củng
cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động củacác doanh nghiệp hiện có, đồng thời phát triển các doanh nghiệp nhà nướcđầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, một số lĩnh vựcthen chốt và địa bàn quan trọng Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nướcđược thực hiện theo hướng sau:
* Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sơ các công ty nhànước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế Khẩn trương cải thiện tìnhhình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiệnđại hóa một bước các tổng công ty nhà nước
* Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối vớicác doanh nghiệp nhà nước không cần 100% vốn
* Giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nướckhông cần nắm giữ
* Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động khônghiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên
* Về mặt quản lý, nhà nước phải phân biệt về quyền của chủ sở hữu vàquyền kinh doanh của doanh nghiệp Thực hiện chế độ quản lý công ty đốivới doanh nghiệp dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu lànhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước Giao cho hội đồng quản trịdoanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu với quyền tự chủ sản xuất
Trang 8kinh doanh; quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lýnhà nước đối với doanh nghiệp.
* Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước đểtạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng xóa bao cấp, thựchiện cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuấtkinh doanh, nộp đủ thuế và có lãi Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanhnghiệp, có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, thanh tra của nhà nước đối với doanhnghiệp
+ Thành phần kinh tế tập thể Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hìnhthức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt, có thể dựa trên sở hữutập thể, cũng có thể quyền sở hữu hợp pháp vẫn thuộc về các thành viên,nhưng quyền sử dụng lại mang tính chất tập thể
Kinh tế tập thể là hình thức liên kết tự nguyện, rộng rãi của người laođộng, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa không giớihạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn, có thể kinh doanh tổng hợp đa ngànhhoặc chuyên ngành
Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học, côngnghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ phát triển hỗ trợ hợptác, giải quyết nợ tồn đọng
Khuyến khích việc tích lũy, phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợptác xã
+ Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nôngthôn và thành thị hoạt động kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động củangười sở hữu là chủ yếu Thế mạnh của thành phần kinh tế này là phát huynhanh có hiệu quả tiền vốn, sức lao động, tay nghề, sản phẩm truyền thống…
vì thế nó có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển Do những ưu thế đó,Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, tiêuthụ sản phẩm… để nó phát triển Khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác
tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn
Trang 9+ Thành phần kinh tế tư bản tư nhân Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm cácđơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nước đầu
tư để sản xuất kinh doanh Nét nổi bật của thành phần kinh tế này là sở hữu tưnhân hoặc sở hữu hỗn hợp và lao động làm thuê, nó được tổ chức dưới hìnhthức doanh nghiệp tư nhân, công ty đối nhân, công ty đối vốn Tính đến cuốinăm 2001 nền kinh tế nước ta có 24.387 doanh nghiệp tư nhân Các doanhnghiệp kinh tế tư bản tư nhân không những đóng góp và huy động ngày càngnhiều các nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất, kinh doanh mà còn qua
đó giữ vai trò quan trọng trong việc tạo thêm việc làm, xóa đói giảm nghèo,cải thiện đời sống và hoạt động nhân đạo Với vị thế ấy, Đảng ta chủ trươngkhuyến khích phát triển rộng rãi kinh tế tư bản tư nhân trong các ngành nghềsản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh vềchính sách, pháp lý để phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước,
kể cả đầu tư ra nước ngoài Khuyến khích tư bản tư nhân chuyển thành doanhnghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động Đẩy mạnh liên doanh liênkết với các thành phần kinh tế khác
+ Thành phần kinh tế tư bản nhà nước Kinh tế tư bản nhà nước bao gồmtất cả các hình thức hợp tác, liên doanh giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tưbản trong nước cũng như nước ngoài, nhằm khai thác các nguồn lực cho pháttriển và đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam Kinh tế tư bản nhànước là sản phẩm từ sự can thiệp thông minh của Nhà nước vào hoạt độngcủa các tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy,kinh tế tư bản nhà nước thực sự là cầu nối giữa sản xuất nhỏ và sản xuất lớn,
là “nhịp cầu trung gian” đi lên xã hội chủ nghĩa Nó có vai trò quan trọngtrong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chứcquản lý của các nhà tư bản, vì lợi ích của bản thân họ cũng như của công cuộcxây dựng và phát triển của đất nước ta Do đó, Đảng ta chủ trương phát triển
đa dạng các hình thức tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kếtgiữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước
Trang 10+ Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đây là thành phần kinh
tế mới được bổ sung Sở dĩ như vậy là vì thực tế trong những năm gần đây bộphận đầu tư kinh doanh của nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, có vịtrí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Trong 10 năm (1991 – 2001) cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá nhanh Giá trị sản xuấtbình quân tăng 22%/năm Trong năm năm (1996 – 2000) vốn đầu tư nướcngoài thực hiện khoảng 10 tỷ USD chiếm 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 34% giá trị sản xuất toànngành công nghiệp, trên 22% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 10%GDP Từ thực tiễn đó, Đảng ta chủ trương tạo điều kiện để thành phần kinh tếnày phát triển thuận lợi, hướng mạnh vào khâu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm Cảithiện môi trường kinh doanh và pháp lý để thu hút ngày một nhiều hơn vốnđầu tư nước ngoài
Nhìn lại gần 20 năm cải cách, chúng ta đã có được nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu tương ứng Các thành phần kinh
tế tồn tại trong cùng một nền kinh tế quốc dân thống nhất, vừa hợp tác vừacạnh tranh với nhau để phát triển Để huy động mọi nguồn lực tăng trưởng,trong những năm tới Đảng ta cho rằng cần chú trọng phát triển các hình thức
tổ chức kinh doanh đan xen hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, phát triển mạnhhình thức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xãhội Nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanhnghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông dân
2- Đánh giá vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua đều có nhữngđóng góp nhất định vào kết quả tăng trưởng của nền kinh tế (xem Bảng 1)
Trang 11Bảng 1: Cơ cấu GDP (giá thực tế) phân theo thành phần kinh tế, %
Chú thích: (*) Tương đương với khái niệm về kinh tế tư bản nhà nước;
**: tổng của 3 khu vực kinh tế: tư nhân, cá thể, hỗn hợp
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 1 cho thấy kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan trọng và có ảnhhưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Khu vực kinh tế nhà nước chiếmgiữ phần lớn các nguồn lực từ tài sản, đất đai đến nguồn vốn tài chính, vốncon người đồng thời có những đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế.Trong năm 2003, khu vực kinh tế nhà nước hiện có khoảng 5175 doanhnghiệp chiếm giữ 56,5% tổng vốn đầu tư phát triển và đóng góp hơn 38%GDP (xem bảng 2) Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo, thậm chíđộc quyền trong nhiều ngành kinh tế, nhất là những ngành có vị trí then chốtnhư bưu chính viễn thông, hàng không, v.v Doanh nghiệp nhà nước góp phầnđẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá đất nước theo hướng xuất khẩu Khu vựcnày đã sản xuất ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạchxuất khẩu và 23,7% tổng thu ngân sách nhà nước Hầu hết các hoạt động sảnxuất và dịch vụ công ích đều do doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm (PhươngNgọc Thạch, 2003)
Bảng 2: Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
Trang 12Một số tiêu chí 2001 2002 200
3 ư
22Đóng góp cho tổng vốn đầu tư phát triển
(giá thực tế, %)
5Đóng góp cho tổng thu ngân sách (DNNN,
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước thấpkém, nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả Nợ của khu vực doanhnghiệp nhà nước quá lớn, nợ quá hạn, nợ khó đòi ngày càng tăng (chiếm tới74,8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thương mại quốc doanh) So vớicác doanh nghiệp trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước Việt Nam có quy mônhỏ bé; công nghệ lạc hậu, tạo ra giá trị gia tăng thấp, sản xuất ra những hànghoá và dịch vụ ít có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới,
Thứ hai, so với các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nướcđược nhận nhiều sự hỗ trợ và hưởng những đặc quyền mà các doanh nghiệpkhác không thể có được Doanh nghiệp nhà nước được vay vốn không cần thế
Trang 13chấp (khi kinh doanh thua lỗ, vẫn được khoanh nợ, giảm nợ, dãn nợ); đượcgiao đất mà không phải thuế đất, được giao thực hiện các dự án lớn của Nhànước mà nắm chắc là thu lãi lớn, v.v… Trong 4 năm 1997-2000, ngân sáchnhà nước đã đầu tư gần 8.200 tỉ đồng cho doanh nghiệp nhà nước (trong đó2.216 tỉ đồng cấp bổ sung vốn lưu động, 1.464 tỉ đồng bù lỗ, giúp donhnghiệp giảm bớt khó khăn về tài chính), miễn giảm thuế 1.351 tỉ đồng, xoá nợ1.088 tỉ đồng, khoanh nợ 3.392 tỉ đồng, giãn nợ 540 tỉ đồng, giảm trích khấuhao 200 tỉ đồng Hiện Nhà nước vẫn đang tiếp tục cấp thêm nhiều tỉ đồng bổsung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, để trong 5 năm 2001-2005, cơ bảntạo đủ vốn cho doanh nghiệp (Đinh Văn Ân, 2003),
Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả hoạtđộng của hệ thống ngân hàng nhà nước và các dịch vụ công khác, kể cả cácdịch vụ công ích, cũng thấp Hệ thống ngân hàng chưa bảo đảm cung cấpnguồn vốn đầy đủ và thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần Cácdịch vụ công, nhất là những dịch vụ phục vụ khu vực doanh nghiệp còn yếukém, chi phí cao, chất lượng thấp
Khác với khu vực kinh tế nhà nước, vai trò của khu vực kinh tế tập thể đãgiảm đi rất nhiều so với thời kỳ trước đổi mới Trong 3 năm gần đây, khu vựckinh tế này trung bình chỉ tạo ra khoảng 7,8% GDP, đóng góp không đáng kểcho ngân sách nhà nước Hiện nay, cả nước có khoảng 17.500 HTX, chỉ bằng20% số doanh nghiệp thuộc khu vực tư bản tư nhân, với qui mô nhỏ, lượngvốn ít Các HTX thu hút hơn 7 triệu xã viên và tạo việc làm cho khoảng 10triệu lao động (Trương Tấn Sang, 2003) Trong quá trình công nghiệp hoáhiện nay, khu vực kinh tế tập thể đã có những dấu hiệu chuyển dịch theohướng gia tăng dần tỉ trọng các HTX phi nông nghiệp Hiện nay, HTX nôngnghiệp chiếm khoảng 31%, công nghiệp chiếm 23,6%, thuỷ sản 12,7%, giaothông vận tải 11%, xây dựng 9%, thương mại chưa đầy 3%
Về mô hình hoạt động, sau nhiều nỗ lực cải cách của Nhà nước, so với trướcđây, khu vực kinh tế tập thể đã xuất hiện nhiều mô hình HTX kiểu mới có cơ chếhoạt động và quản lý năng động hơn, loại hình đa dạng hơn (kể cả hình thức và lĩnh