1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học môn chính sách công một số giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách công

15 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách công
Trường học Học Viện Chính Sách & Phát Triển, [Trang Web Chính Thức](https://www.hvcpd.edu.vn)
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại Tiểu luận cao học
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 36,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Giai đoạn đánh giá chính sách công có vị trí quan trọng trong chu trình chính sách Đánh giá chính sách được tiến hành trên cơ sở một chính sách đã được hoạch định và thực thi phản ánh kết quả c[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

Giai đoạn đánh giá chính sách công có vị trí quan trọng trong chu trình chính sách Đánh giá chính sách được tiến hành trên cơ sở một chính sách đã được hoạch định và thực thi phản ánh kết quả của giai đoạn hoạch định và thực thi, có mối nhân quả với hai giai đoạn này, đồng thời nó chịu tác động trở lại hai giai đoạn trên

Các thông tin về thực thi chính sách không hoàn hảo có thể đóng góp vào việc cơ cấu lại vấn đề, chẳng hạn, sau khi chính sách được đánh giá, người ta có thể nhận thức lại được vấn đề chính sách và có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ trong chính sách, những cũng có thể đòi hỏi đặt lại vấn đề chính sách, trong trường hợp đó quy trình chính sách có thể phải quay lại từ đầu hoặc chính sách

có thể bị chấm dứt hoàn toàn

Đánh giá chính sách cũng cho phép nhận định lại mục tiêu của chính sách

Ở giai đoạn đánh giá chính sách người ta có thể căn cứ vào thực tiễn để xác định xem lý do tồn tại chính sách có hợp lý hay không

Đánh giá chính sách có thể tham gia vào việc xác định lại hay đưa ra phương án chính sách mới bằng cách chỉ ra những phương án chính sách cũ là không còn phù hợp và cần được thay thế Việc không hoàn thành chính sách theo những giá trị mong muốn đòi hỏi các nhà quản lý phải xem xét lại việc tổ chức và quản lý thực thi chính sách Cuối cùng, các kết quả thực thi chính sách cũng là căn cứ có giá trị định hướng cho việc phân tích chính sách

Như vậy thông qua đánh giá chính sách các nhà hoạch định có thể xác định lại vấn đề chính sách, sửa đổi chính sách và hoàn chỉnh chính sách

Để làm rõ vị trí, vai trò và một số giải pháp về đánh giá chính sách công,

em chọn chủ đề: “Một số giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách công” để làm tiểu luận môn Hoạch định và thực thi chính sách công.

Trang 2

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH CÔNG

1.1 Chính sách công là gì?

Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Dưới đây là một

số định nghĩa chính sách công khá tiêu biểu của các học giả nước ngoài và trong nước để cùng tham khảo trước khi đi đến một định nghĩa thích hợp

William Jenkin cho rằng: "Chính sách công là một tập hợp các quyết định

có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó"(William Jenkin, 1978)

Định nghĩa này nhấn mạnh các mặt sau:

- Chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó, mà là một tập hợp các quyết định, có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài

- Chính sách công do các nhà chính trị trong bộ máy nhà nước ban hành Nói cách khác, các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công

- Chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của nhà nước và bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã lựa chọn

Thomas R Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và được nhiều học giả tán thành Theo ông, "Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm"(Thomas R Dye, 1984) Ba mặt quan trọng của định nghĩa này là:

Thứ nhất, không giống như các định nghĩa khác, nó không bàn luận về

"mục tiêu" hay "mục đích" của chính sách Các chính sách là các chương trình hành động riêng biệt; việc áp dụng các chính sách không có nghĩa là tất cả những ai đồng tình với chính sách sẽ có cùng một mục đích như nhau Trên thực

tế, một số chính sách ra đời không phải vì sự nhất trí về mục tiêu, mà bởi vì nhiều nhóm người khác nhau đồng tình với chính sách đó với nhiều nguyên do khác nhau

Thứ hai, định nghĩa của Dye thừa nhận rằng, các chính sách phản ánh sự

Trang 3

lựa chọn làm hay không làm Việc quyết định không làm có thể cũng quan trọng như việc quyết định làm Điều này hoàn toàn hợp lý trong trường hợp chính phủ

ra quyết định không can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước

Thứ ba, một điểm được nhấn mạnh ở đây là các chính sách không chỉ là

những đề xuất của chính phủ về một vấn đề nào đó, mà cũng là cái được thực hiện trên thực tế Nói cách khác, định nghĩa của Dye về những cái mà chính phủ làm hoặc không làm, chứ không phải là cái mà họ muốn làm hoặc lập kế hoạch

để làm

Theo Charles O Jones (1984), chính sách công là một tập hợp các yếu tố, bao gồm:

Dự định (intentions): Trình bày những mong muốn của chính quyền; Mục tiêu (goals): Trình bày những dự định được tuyên bố một cách cụ thể hoặc cụ thể hóa những dự định bằng các mục tiêu về số lượng;

Đề xuất (proposals): Trình bày các cách thức để đạt được mục tiêu;

Các quyết định hay các lựa chọn (decisions or choices): Trình bày những quyết định hoặc những phương hướng cần lựa chọn;

Hiệu lực (effects): Trình bày những hiệu lực của chính sách

B Guy Peter đưa ra định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân" Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng (B Guy Peters, 1999)

Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)

Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng chính sách được hiểu là đường lối cụ thể của một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định trong một giai đoạn xác định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy

Tuy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công như đă nêu trên, song điều đó không có nghĩa là chính sách công mang những bản chất

Trang 4

khác nhau Thực ra, tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa

ra nhấn mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công Những đặc trưng này phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công

Từ những phân tích trên, thuật ngữ chính sách có thể hiểu như sau:

"Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh

tế – xã hội theo mục tiêu xác định"

1.2 Những đặc trưng cơ bản của chính sách công

Thứ nhất, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra

trong đời sống kinh tế – xã hội theo những mục tiêu xác định

Thứ hai, chủ thể hoạch định chính sách cũng là chủ thể nắm quyền lực

công – đó là nhà nước, và vì vậy chính sách công được đảm bảo thực thi bởi khả

Thứ ba, chính sách công không phải các quyết định nhất thời (mang tính tình thế) của nhà nước, mà là chương trình hoạt động được suy tính một cách

khoa học, liên quan với nhau một cách hữu cơ và nhằm những mục đích tương đối cụ thể

Thứ tư, chính sách công bao gồm những gì được thực sự thi hành chứ

II ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG

Đánh giá chính sách ngày càng được coi trọng trong chu trình chính sách, bởi vì đây là khâu thường bị quên lãng, hoặc không được tiến hành một cách nghiêm túc

Giai đoạn đánh giá bao gồm đánh giá kết quả thực tê của việc triển khai chính sách cũng như việc đánh giá bản thân quá trình xây dựng và triển khai để

tổng kết các kinh nghiệm Tuy nhiên, để đánh giá được một cách khoa học thì

khả năng đo lường được chính xác các chi phí và kết quả, cũng như khả năng quy được trách nhiệm là rất quan trọng Và đây cũng là hai vấn đề trung tâm

của nhiều cải cách hành chính hiện nay trên thế giới cũng như tại nước ta

Việc đánh giá chính sách được tiến hành ngay cả trước khi triển khai, trong quá trình xây dựng chính sách, và có ảnh hưởng sống còn với chính sách

Trang 5

Đánh giá chính sách không đơn thuần là các đòi hỏi kỹ thuật khách quan để hiểu

thấu đáo tác động của chính sách đó, mà còn mang tính chính trị ngay từ khởi

đầu và trong suốt mọi khâu từ thông qua kế hoạch, xác định hệ tiêu chí, kết luận đánh giá về một chính sách giữa các chủ thể chính trị có liên quan

Theo tính chất và mức độ khái quát có thể chia ra ba loại đánh giá chính sách chính: Đánh giá chính trị; đánh giá kỹ thuật; và đánh giá toàn diện

2.1 Đánh giá chính trị

Kiểu đánh giá này xem xét khía cạnh khả thi chính trị của một chính

sách, đặc biệt trong những giai đoạn đầu của quá tŕnh, khi chính sách chưa được thông qua, mới đang trong giai đọan hính thành những ý tưởng căn bản Những người xây dựng chính sách, không những chỉ quan tâm đến nội dung cụ

thể của một chính sách mà trước hết là tính khả thi về mặt chính trị của nó Đánh giá tính khả thi chính trị bao gồm cả đánh giá về cơ chế hành chính và các mâu thuẫn về lợi ích trong triển khai, tức cung cách xây dựng và triển khai

một chính sách

Các chính sách mang tính tiệm tiến luôn có lợi thế nếu đánh giá từ góc độ này bởi vì những gì đã quen thuộc dễ nhận được sự ủng hộ và ít rủi ro chính trị hơn Ngoài ra, các cơ chế, thủ tục hiện có cũng chưa cần phải thay đổi nhiều để đáp ứng chính sách

2.2 Đánh giá kỹ thuật

Kiểu đánh giá này tập trung vào đánh giá các kết quả theo các tiêu chí đặt

ra ban đầu Trong đó chủ yếu là đánh giá các tác động trực tiếp, các chi phí và lợi nhuận trực tiếp của chính sách Các đánh giá như vậy có thể cho thấy là

chính sách đã được triển khai theo đúng ý định chưa, có hiệu quả nhất chưa, các nguồn lực được phân bổ cho chính sách đã thích hợp chưa, các tiêu chí định lượng đã đạt được ở mức độ nào

Các đánh giá trên mang phạm vi khá hẹp và thường không cho chúng ta thấy được hết các tác động gián tiếp lên toàn bộ xã hội, do đó cũng chưa đưa ra được kết luận về việc liệu mục tiêu tổng thể của chính sách đó đã đạt được chưa Tuy nhiên, trong những điều kiện hạn hẹp (về ngân sách, thời gian v.v.)

Trang 6

việc đánh giá kỹ thuật như vậy vẫn là nội dung chính, đồng thời là cơ sở quan trọng cho sự đánh giá tòan diện Có nhiều hình thức đánh giá tùy thuộc vào các chính sách cũng như mục tiêu của đánh giá: như đánh giá nhanh (chỉ xem xét các tiêu chí căn bản nhất, nhằm phát hiện các vấn đề đẻ có điều chỉnh, hoặc do điều kiện tài chính và thời gian hạn hẹp), đánh giá chi phí (chỉ xem xét các chi phí mà không xem xét cụ thể các lợi ích Thích hợp cho các chính sách xã hội, trong đó các tác động của chính sách là rất rộng và chắc chắn có lợi cho tòan bộ

xã hội nhưng khó có thể lượng hóa), đánh giá lợi ích (không xem xét chi phí Kiểu này ít được áp dụng hơn và thường được dùng trong giai đọan đầu, đánh giá sơ bộ) v.v

2.3 Đánh giá toàn diện

Kiểu đánh giá này đòi hỏi sự khảo sát toàn diện, có hệ thống, khách quan,

và nghiêm ngặt nhằm đưa ra đánh giá về sự thành công trong mục tiêu tổng thể của chính sách Nó cũng làm sáng tỏ các tác động gián tiếp khác (về xã hội, môi trường, cũng như các tác động chính trị khác không thể qui ra tiền) và vì vậy có thể so sánh được chi phí - lợi ích một cách thuyết phục hơn Trên cơ sở đó, các đánh giá về tính tối ưu được đưa ra Quá trình đánh giá này là kênh phản hồi chính sách chủ đạo Khuynh hướng hiên nay ở các nước trên thế giới cho thấy càng ngày người ta càng chú trọng vào kiểu đánh giá này Trong nhiều nước, các

uỷ ban độc lập được lập ra để đánh giá các chính sách Các cơ quan chính phủ cũng thành lập các bộ phận chuyên đánh giá toàn diện ngày càng nhiều

Kỹ thuật chủ yếu được dùng ở đây là Phân tích chi phí – lợi ích xã hội Kỹ thuật phân tích như vậy sẽ bao gồm cả các hiệu ứng khác mà trong đánh giá trực tiếp không có đièu kiện tiến hành Các chính sách lớn như về năng lượng, môi trường, giáo dục v.v thông thường đều đòi hỏi sự đánh giá toàn diện vì một chính sách như giáo dục chẳng hạn, ngoài việc có lợi cho những người thụ hưởng cũng có thể có lợi về mặt xã hội (văn minh hơn, ổn định hơn), mặt kinh

tế (ví dụ : thu hút nhiều khách du lịch hơn), an ninh quốc phòng hay quan hệ quốc tế

Phân tích chi phí – lợi ích xã hội cũng đòi hỏi các phương pháp luận khoa

Trang 7

học và các khóa đào tạo căn bản và có tính đặc thù rất khác so với phân tích chi phí lợi ích thông thường của cá nhân hay một tổ chức

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG

3.1 Thực trạng về đánh giá chính sách công ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lâu nay Nhà nước đã chú trọng nhiều đến khâu hoạch định

và thực thi chính sách, song việc đánh giá chính sách thì dường như bị bỏ qua hoặc rất ít được quan tâm

Khi chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội Việc ban hành hàng loạt văn bản pháp luật trong không ít trường hợp dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp, thậm chí mâu thuẫn nhau giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau, khiến cho những hoạt động này không đạt được mục tiêu mong muốn Nói cách khác, hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc chính sách đó có hiệu lực thực tế như thế nào và đáp ứng mục tiêu đặt

ra đến đâu thì dường như không được quan tâm Đôi khi chính sách được ban hành chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng phụ làm phức tạp thêm vấn đề Chẳng hạn, chính sách hạn chế ùn tắc giao thông trong các thành phố lớn đã được triển khai với nhiều giải pháp khác nhau, song thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề ùn tắc, trong khi đó một số giải pháp đưa ra, như chặn các ngã tư, thu phí chống ùn tắc lại gây ra các hiệu ứng phụ làm rắc rối thêm hiện trạng Hơn thế, việc hoạch định chính sách (thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít người, song nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích

Trang 8

tương xứng với chi phí đã bỏ ra Do đó, đã đến lúc cần coi đánh giá chính sách như một khâu không thể thiếu trong quy trình chính sách

3.2 Một số trở ngại trong đánh giá chính sách công hiện nay

Mặc dù là một khâu quan trọng trong quy trình chính sách, song ở nước

ta, nhiều chính sách không được quan tâm đánh giá Tình trạng đó xuất phát từ các lý do sau đây:

Thứ nhất, nhận thức về đánh giá chính sách còn đơn giản Điều đó được

biểu hiện:

- Đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ Mặc dù chính sách được thể chế hóa trong văn bản pháp luật, song không thể đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ Thậm chí có những chính sách lớn lại là tập hợp của những chính sách bộ phận Chẳng hạn, chính sách xóa đói, giảm nghèo bao gồm chính sách hỗ trợ người nghèo thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách miễn giảm học phí cho người nghèo, chính sách khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo Do đó, việc đánh giá chính sách thường khá phức tạp, đòi hỏi

có cách nhìn tổng thể

- Coi đánh giá chính sách là việc của cơ quan ban hành chính sách, nên chờ đợi khi cơ quan này có chủ trương hoặc yêu cầu cụ thể mới tổ chức triển khai đánh giá. 

- Tách biệt giữa đánh giá nội dung chính sách (thể hiện qua văn bản) với đánh giá việc thực thi chính sách Đôi khi, chúng ta rơi vào các nhận xét phiến diện: hoặc cho rằng các chính sách ban hành là đúng đắn, thường chỉ sai phạm trong khâu thực thi; nhưng có lúc lại che lấp các hạn chế trong thực thi chính sách bằng cách đổ lỗi cho sự không phù hợp của các quy định pháp luật

Thứ hai, các cơ quan chức năng thường không quan tâm tổ chức đánh giá

chính sách Trên thực tế, rất ít chính sách được tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc, bài bản Nhiều cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ban hành chính sách hoặc chủ trì tổ chức thực hiện chính sách) không đưa việc đánh giá chính sách vào chương trình hoạt động của mình Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân của tình trạng này: do không có đủ nhân lực, không có nguồn lực tài chính để

Trang 9

đánh giá, do chính sách được thực hiện rất “bình lặng” không gây ra vấn đề gì,

do bản thân các cơ quan này không muốn “tự phán xét” các chính sách do mình ban hành và thực thi Đương nhiên, việc đánh giá chính sách không chỉ do các

cơ quan nhà nước tiến hành Các đánh giá chính sách có thể được phản ánh qua công luận, qua ý kiến của nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội Song sự đánh giá từ bên ngoài nhà nước sẽ chỉ có giá trị thực sự nếu được các cơ quan nhà nước tiếp nhận, tổng hợp và rút kinh nghiệm Trong không ít trường hợp, sự đánh giá lẻ tẻ, tự phát của nhân dân bị bỏ qua Nếu thiếu sự chủ tŕ của các cơ quan chức năng, thì việc đánh giá cũng ít có tác động đến các nhà hoạch định và thực thi chính sách

Thứ ba, việc xem xét lại chính sách đôi khi chỉ được thực hiện khi xuất

hiện “vấn đề” Trong một số trường hợp, các chính sách vẫn “bình yên” trong một thời gian dài, chỉ đến khi “vấp váp” trong thực tiễn, người ta mới nhận ra được những “lỗ hổng”  của chính sách. 

Thứ tư, thiếu các tiêu chí để đánh giá chính sách một cách khoa học Khi

đánh giá chính sách, người ta thường so sánh các kết quả đạt được với mục tiêu chính sách ban đầu Việc đánh giá chính sách sẽ dễ dàng nếu các mục tiêu chính sách được thể hiện dưới dạng định lượng, chẳng hạn như tốc độ gia tăng dân số,

tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường Song, trên thực tế đa số các mục tiêu chính sách được thể hiện dưới dạng định tính, nhiều khi mục tiêu không rõ ràng, trong trường hợp đó việc đánh giá chính sách theo mục tiêu đề ra

có thể không phản ánh hết các giá trị của chính sách Để đánh giá chính sách, về nguyên tắc, phải có các bộ tiêu chí đánh giá được thiết kế đối với từng loại chính sách Việc thiếu các tiêu chí đánh giá khiến cho việc đánh giá không toàn diện, đầy đủ, mang tính phiến diện

Thứ năm, đánh giá chính sách công đôi khi mang tính một chiều, chỉ phản

ánh nhận xét của các cơ quan nhà nước mà không quan tâm đủ mức đến sự phản hồi từ xã hội, từ những đối tượng mà chính sách hướng vào Mặc dù đánh giá của các cơ quan nhà nước về chính sách có thuận lợi do họ nắm rất rõ về chính sách và quá trình thực hiện chính sách, nhưng cách làm này có thể dẫn đến chỗ

Trang 10

các kết quả đánh giá chịu sự chi phối của chính những người làm ra và vận hành chính sách đó, việc chỉ ra các sai sót của bản thân họ sẽ gặp phải rào cản tâm lý mạnh mẽ và nhiều khi bị bóp méo theo ý muốn chủ quan Vì vậy, khi đánh giá chính sách công, ít cơ quan tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến phản hồi từ nhân dân hay các đối tượng hưởng lợi một cách rộng rãi, công khai Trong một

số trường hợp các cơ quan chức năng đã tổ chức thu thập ý kiến phản hồi từ các phương tiện truyền thông, hay tổ chức các buổi đóng góp ý kiến thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội Tuy nhiên, không phải lúc nào các ý kiến này cũng phản ánh đầy đủ và chính xác những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra liên quan đến chính sách được đánh giá. 

Thứ sáu, thiếu kinh phí dành cho việc đánh giá chính sách Các cơ quan

thường dành nguồn kinh phí có hạn của mình để triển khai các công việc mới (nhằm tạo ra những kết quả mới) hơn là dùng kinh phí đó để xem xét lại những

gì đã làm

3.3 Một số giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách công

Một là, đưa việc đánh giá chính sách thành một nội dung bắt buộc đối với

một số chính sách quan trọng của Nhà nước Cần nhận thức rõ, những chính sách quan trọng, liên quan đến những vấn đề cấp thiết nhất của đời sống, đến lợi ích của nhiều người thì việc đánh giá chính sách là rất cần thiết để hoàn thiện chính sách, tránh các rủi ro hay lãng phí xảy ra, đặc biệt là tránh những phản ứng ngược lại với mong muốn của Chính phủ Cần có kế hoạch đánh giá chính sách và xây dựng lịch trình đánh giá cụ thể Trong kế hoạch đánh giá cần xác định rõ mục tiêu, phạm vi, chủ thể tham gia, các đối tượng, nội dung, các phương pháp và tiêu chí đánh giá Cần tổng kết việc đánh giá, công bố công khai kết quả đánh giá ở phạm vi cần thiết Tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc đối với những sai sót về nội dung chính sách và những hạn chế, vướng mắc trong thực thi chính sách.  

Hai là, xây dựng các tiêu chí đánh giá chính sách một cách đầy đủ và

đúng đắn Tùy theo từng lĩnh vực, sẽ có các tiêu chí đánh giá chính sách khác

Ngày đăng: 10/02/2023, 15:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w