BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ HẬU THỰC TRẠNG KIẾN THỨC PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội ngườ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ HẬU
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ HẬU
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS.BS NGÔ HUY HOÀNG
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Điều dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang nơi tôi công tác đã ủng hộ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện chuyên
đề này
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TTND.TS.BS Ngô Huy Hoàng
là người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này
Qua đây, một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, đặc biệt là các Điều dưỡng các khoa Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang đã đồng hành, ủng hộ và chia
sẻ với tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề
Trong quá trình thực hiện chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ quý Thầy Cô và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Nam Định, ngày 15 tháng 7 năm 2022 Học viên
Nguyễn Thị Hậu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Hậu, Học viên lớp Điều dưỡng CK1 khóa 9, chuyên ngành Điều dưỡng nội người lớn, Trường Đại Học Điều dưỡng Nam Định, xin cam đoan:
1 Đây là chuyên đề do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.BS Ngô Huy Hoàng
2 Chuyên đề này không trùng lặp với bất kỳ chuyên đề nào khác đã được công
bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong chuyên đề là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi thực hiện chuyên đề
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Nam Định, ngày 15 tháng 7 năm 2022 Học viên
Nguyễn Thị Hậu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG/BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ/HÌNH ẢNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến phản vệ 4
1.1.2 Nguyên nhân phản vệ 4
1.1.3 Cơ chế bệnh sinh 4
1.1.4 Phân loại mức độ [1] 6
1.1.5 Chẩn đoán phản vệ: [1] 7
1.1.6 Phòng ngừa phản vệ [2] 8
1.1.7 Xử trí phản vệ [1] 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Vai trò của điều dưỡng trong phòng và phát hiện phản vệ: 10
1.2.2 Vai trò của điều dưỡng trong xử trí, theo dõi, chăm sóc người bệnh phản vệ 11
1.2.3 Một số nghiên cứu về vấn đề phản vệ: 12
Chương 2 15
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 15
2.1 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang 15
2.2 Thực trạng kiến thức của điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang về phòng và xử trí phản vệ 18
2.2.1 Thông tin chung về điều dưỡng 19
2.2.2 Kiến thức của điều dưỡng về phòng và xử trí phản vệ 21
A KIẾN THỨC CHUNG VỀ PHẢN VỆ 21
B KIẾN THỨC VỀ DỰ PHÒNG PHẢN VỆ 22
C.KIẾN THỨC VỀ XỬ TRÍ VÀ THEO DÕI PHẢN VỆ 23
Trang 62.2.3 Đánh giá chung kiến thức của điều dưỡng 24
Chương 3 25
BÀN LUẬN Error! Bookmark not defined 3.1 Phân tích ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân 25
3.1.1 Về ưu điểm: 25
3.1.2 Về tồn tại: 26
3.1.3 Nguyên nhân của tồn tại: 26
3.2 Đề xuất giải pháp 27
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Phụ lục
Trang 8DANH MỤC BẢNG/BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu………
Error! Bookmark not defined Biểu đồ 2.2 Đặc điểm về thâm niên công tác… ……… 20
Biểu đồ 2.3 Đặc điểm về trình độ học vấn…… ………20
Bảng 2.1 Đặc điểm liên quan đến kiến thức về phản vệ……… 21
Bảng 2.2:Kiến thức chung về phản vệ (n=398)……… 21
Bảng 2.3: Kiến thức của điều dưỡng về phòng phản vệ (n=398)……… 22
Bảng 2.4: Kiến thức của điều dưỡng về xử trí, theo dõi phản vệ (n=398)………… 23
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ điều dưỡng trả lời đúng tất cả các câu hỏi 3 phần kiến thức…… 24
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ/HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh phản vệ……… 5 Hình 2.1: Khuôn viên Bệnh viện……… 16 Hình 2.2 BSCK II Phạm Tùng Sơn-Trưởng khoa cấp cứu: Tập huấn Thông tư 51/2017/TT – BYT về hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ……… 16 Hình 2.3 Một trường hợp phản vệ nguy kịch được điều trị thành công bằng kỹ thuật lọc
Hình 2.4 Hội thi tay nghề Điều dưỡng năm 2022……… 18
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng [1] Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút [1]
Những năm gần đây, vấn đề sốc phản vệ ngày càng được quan tâm nhiều hơn và người ta cũng nhận thấy tỷ lệ sốc phản vệ ngày càng gia tăng Có nhiều nguyên nhân gây ra sốc phản vệ nhưng hay gặp là thuốc, thức ăn và nọc côn trùng Phản ứng phản vệ biểu hiện ở nhiều cơ quan như: da và niêm mạc (mẩn đỏ, ngứa, nổi mề đay, phù…), đường tiêu hóa (nôn, đau bụng, ỉa chảy…), đường hô hấp (khó thở do phù nề thanh quản hoặc khó thở kiểu hen…), hệ tim mạch (mạch nhanh, tụt huyết áp, loạn nhịp [1] Do đó, nhân viên y tế cấp cứu phản vệ phải khẩn trương để đảm bảo đường thở, hô hấp và tuần hoàn cho người bệnh
Hiện nay công nghiệp hoá chất, dược phẩm và thực phẩm ngày càng phát triển Các phản ứng miễn dịch và dị ứng ngày càng nhiều, đặc biệt là sốc phản vệ đã gây nhiều trường hợp từ vong đáng tiếc Trong lĩnh vực y tế, nhiều loại thuốc đưa vào cơ thể bằng bất cứ đường nào đều có thể gây sốc phản vệ và dẫn đến tử vong, đặc biệt một số thuốc thường gặp như: Penicillin, streptomycin, thuốc cản quang có iod và một số thuốc gây
tê, gây mê Ở người có cơ địa dị ứng, sốc phản vệ có thể xảy ra ngay sau khi mới dùng thuốc lần đầu, hoặc sau khi dùng thuốc vài ba lần Một người đã làm test nội bì với kết quả âm tính vẫn có thể bị sốc phản vệ khi dùng thuốc đó trong những lần dùng tiếp theo
Đó là những khó khăn của y học mà thầy thuốc, người bệnh, gia đình và mọi người cần biết [2]
Người ta ước tính rằng cứ 3000 bệnh nhân nội trú tại các bệnh viện ở Mỹ thì có
1 người bị phản ứng phản vệ Hơn nữa, nguy cơ tử vong ở những người bị phản ứng được ước tính là khoảng 1%, với khoảng 500 đến 1000 ca tử vong hàng năm [11]
Ở nước ta, theo Giáo sư Nguyễn Năng An, Chủ tịch Hội Dị ứng miễn dịch lâm sàng, có khoảng 8,5% dân số từng bị dị ứng thuốc, trong số này có 10% bị SPV Ngoài ra SPVcòn
có thể do ăn (tôm, cua, cá, đậu phộng, dứa, trứng, phấn hoa), tiếp xúc với vật lạ (bị côn trùng đốt, hóa chất, chất silicon lỏng trong phẫu thuật thẩm mỹ) [3]
Trang 11Để phòng ngừa và giảm thiểu các tai biến tử vong do SPV gây ra, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 08/1999/TT-BYT ngày 04/5/1999 hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản
vệ cho tất cả các cơ sở y tế [2] Sau hơn 18 năm thực hiện theo hướng dẫn thông tư 08/1999/TT – BYT, nhận thấy có vấn đề cần thay đổi và bổ sung, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 51/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 về hướng dẫn phòng, chẩn đoán, xử trí phản vệ [1]thay thế Thông tư 08/1999/TT – BYT Thông tư này có một số thay đổi trong quy định phòng và xử trí phản vệ với việc khẳng định: Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, luôn phải sẵn sàng để sử dụng cho cấp cứu phản vệ, phân biệt rõ sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút Điều dưỡng được thực hiện theo các nguyên tắc này trong công tác dự phòng và cấp cứu phản vệ để có thể giảm nhẹ các tai biến trên người bệnh [1]
Nhận thấy sự quan trọng trong việc phát hiện và xử trí sớm phản vệ của cán bộ y
tế nói chung và điều dưỡng chăm sóc nói riêng, Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang đã tập huấn thường xuyên về kiến thức và kỹ năng xử trí phản vệ Tháng 3/2018, BVĐKT Bắc Giang đã tiến hành tập huấn theo chỉ đạo của Sở y tế về triển khai thông tư số 51/2017/TT-BYT về hướng dẫn phòng, chẩn đoán, xử trí phản vệ để cập nhật một số nội dung mới bổ sung và đã thay đổi cho toàn thể cán bộ, nhân viên y tế trong toàn bệnh viện Trong thực tiễn chăm sóc và điều trị người bệnh, mặc dù không mong muốn, những luôn có nguy cơ xảy ra phản vệ đặc biệt là diễn biễn nặng của nó như sốc phản vệ Câu hỏi đặt ra là liệu người điều dưỡng đang chăm sóc người bệnh hàng ngày có nắm vững kiến thức về phòng và xử trí phản vệ? Với mục đích này, tôi thực hiện chuyên đề : “Thực trạng kiến thức phòng và xử trí phản vệ của điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc giang” với mục tiêu như sau:
Trang 121 Mô tả thực trạng kiến thức phòng và xử trí phản vệ của điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp tăng cường kiến thức phòng và xử trí phản vệ của điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến phản vệ
Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng [1]
Dị nguyên là yếu tố lạ khi tiếp xúc có khả năng gây phản ứng dị ứng cho cơ thể, bao gồm thức ăn, thuốc và các yếu tố khác [1]
Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút [1]
Cấp cứu sốc phản vệ là một cấp cứu nội khoa dễ dẫn đến tử vong nhanh bởi suy
hô hấp cấp và sốc giảm thể tích Cấp cứu SPV phải khẩn trương như một cấp cứu ngừng tuần hoàn, đó là phải được tiến hành ngay tại chỗ cho đến khi đảm bảo được hô hấp, tuần hoàn bằng Adrenalin, truyền dịch rồi mới được chuyển đi nơi khác [4]
1.1.2 Nguyên nhân phản vệ
Có rất nhiều nguyên nhân gây SPV nhưng hay gặp là thuốc, thức ăn, nọc côn trùng và các nguyên nhân khác ít gặp hơn:
- Do thuốc: là nguyên nhân hàng đầu Nhiều loại thuốc đưa vào cơ thể bằng bất
cứ đường nào đều có thể gây phản vệ và dẫn đến tử vong, đặc biệt một số thuốc thường gặp như: Kháng sinh (Penicillin, streptomycin…), Các loại dịch truyền (Alvesin, Albumin…), Các vitamin (Vitamim C tiêm tĩnh mạch, B1, B12 dạng tiêm thuốc…), thuốc cản quang có iod và một số thuốc gây tê (Procain, Novocain, Lidocain ), thuốc gây mê; Các loại vaccin, huyết thanh (vaccin phòng dại, phòng uốn ván, huyết thanh kháng bạch cầu ); máu và các chế phẩm máu
- Thức ăn: nhộng, trứng, dứa, thủy hải sản
Trang 14Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh phản vệ [Nguồn: Hội nghị Tim mạch Toàn quốc, 2016]
Dị nguyên là những chất có bản chất kháng nguyên hoặc không kháng nguyên có khả năng gây nên trạng thái dị ứng (kích thích tạo kháng thể đặc hiệu IgE)
Kết quả của phản ứng dị ứng nêu trên là hàng loạt các chất trung gian hoá học (mediator) được thoát ra từ dưỡng bào và bạch cầu ưa base như histamin, serotonin, bradykinin, leucotrien, chất tác dụng chậm của phản vệ (SRS-A: slow reacting substances of anaphylaxis), các prostaglandin, yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF - platelet activating factor)…các chất này làm giãn mạch, co thắt cơ trơn phế quản, mày đay, phù Quincke…tạo ra bệnh cảnh lâm sàng của sốc phản vệ
Sau đây là tác dụng sinh lý của một số chất trung gian hoá học từ tế bào mast và basophil trong SPV:
Trang 15- Serotonin: Có vai trò quan trọng trong phản ứng SPVcủa người và động vật Chất này gây co thắt cơ trơn phế quản, tăng tính thấm thành mạch, co thắt các mạch máu tim, phổi, não, thận, kích thích các đầu mút thần kinh gây ngứa
- Bradykinin: Co cơ trơn chậm hơn histamin, giãn mạch, hạ huyết áp, tăng tính thấm thành mạch
- Các prostaglandin: Co thắt cơ trơn phế quản, tăng tính phản ứng phế quản (PGD2 gây co phế quản)
- PAF (yếu tố hoạt hoá tiểu cầu):Ngưng kết tiểu cầu, kích thích tiểu cầu giải phóng histamin và các mediator khác, làm tăng tính thấm thành mạch, co thắt cơ trơn và phế quản
- SRS.A:Tăng tính thấm thành mạch và sản sinh IL1, co thắt phế quản
- Leucotrien: Co cơ trơn phế quản; tăng tác dụng của histamin
Sốc phản vệ xảy ra ở nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể do sự tác động của các chất trung gian hoá học trên:
+ Trên hệ tim mạch: làm giãn mạch, tụt HA, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp
+ Trên hệ hô hấp: co thắt phế quản gây nghẹt thở; khó thở thanh quản
+ Trên hệ thần kinh: co mạch não gây đau đầu, hôn mê
+ Trên hệ tiêu hoá: tăng tiết dịch, tăng nhu động ruột gây ra ỉa chảy, đau bụng
+ Làm rối loạn vận động cơ tròn bàng quang, hậu môn gây đái ỉa không tự chủ
+ Trên da: gây mày đay, phù Quincke, mẩn ngứa
- Nặng (độ II): có từ 2 biểu hiện ở nhiều cơ quan:
+ Mày đay, phù mạch xuất hiện nhanh
+ Khó thở nhanh nông, tức ngực, khàn tiếng, chảy nước mũi
+ Đau bụng, nôn, ỉa chảy
+ Huyết áp chưa tụt hoặc tăng, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp
- Nguy kịch (độ III): biểu hiện ở nhiều cơ quan với mức độ nặng hơn như sau: + Đường thở: tiếng rít thanh quản, phù thanh quản
Trang 16+ Thở: thở nhanh, khò khè, tím tái, rối loạn nhịp thở
+ Rối loạn ý thức: vật vã, hôn mê, co giật, rối loạn cơ tròn
+ Tuần hoàn: sốc, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp
- Ngừng tuần hoàn (độ IV): Biểu hiện ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn
Bệnh cảnh lâm sàng 1: Các triệu chứng xuất hiện trong vài giây đến vài giờ ở
da, niêm mạc (mày đay, phù mạch, ngứa ) và có ít nhất 1 trong 2 triệu chứng sau: Các triệu chứng hô hấp (khó thở, thở rít, ran rít)
Tụt huyết áp (HA) hay các hậu quả của tụt HA (rối loạn ý thức, đại tiện, tiểu tiện không
tự chủ )
Bệnh cảnh lâm sàng 2: Ít nhất 2 trong 4 triệu chứng sau xuất hiện trong vài giây đến vài giờ sau khi người bệnh tiếp xúc với yếu tố nghi ngờ:
Biểu hiện ở da, niêm mạc: mày đay, phù mạch, ngứa
Các triệu chứng hô hấp (khó thở, thở rít, ran rít)
- Tụt huyết áp hoặc các hậu quả của tụt huyết áp (rối loạn ý thức, đại tiện, tiểu tiện không
tự chủ )
Các triệu chứng tiêu hóa (nôn, đau bụng )
Bệnh cảnh lâm sàng 3: Tụt huyết áp xuất hiện trong vài giây đến vài giờ sau khi tiếp xúc với yếu tố nghi ngờ mà người bệnh đã từng bị dị ứng:
Trẻ em: giảm ít nhất 30% huyết áp tâm thu (HA tối đa) hoặc tụt huyết áp tâm thu so với tuổi (huyết áp tâm thu < 70mmHg)
Người lớn: Huyết áp tâm thu < 90mmHg hoặc giảm 30% giá trị huyết áp tâm thu nền Chẩn đoán phân biệt:
Các trường hợp sốc: sốc tim, sốc giảm thể tích, sốc nhiễm khuẩn
Trang 17Tai biến mạch máu não
Các nguyên nhân đường hô hấp: COPD, cơn hen phế quản, khó thở thanh quản (do dị vật, viêm)
Các bệnh lý ở da: mày đay, phù mạch
Các bệnh lý nội tiết: cơn bão giáp trạng, hội chứng carcinoid, hạ đường máu
Các ngộ độc: rượu, opiat, histamin
1.1.6 Phòng ngừa phản vệ [2]
Để phòng ngừa và giảm tối thiểu các tai biến, tử vong do sốc phản vệ gây ra, Bộ
Y tế hướng dẫn các thầy thuốc, các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước, tư nhân, các
cơ sở khám chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện các yêu cầu sau:
Khi khám bệnh, thầy thuốc phải khai thác kỹ tiền sử dị ứng của người bệnh như: hen phế quản, chàm, mẩn ngứa, phù Quincke các dị nguyên như thuốc, thức ăn, côn trùng gây ra dị ứng và phải hết sức thận trọng khi dùng thuốc tất cả các đường dùng Thầy thuốc phải khai thác triệt để tiền sử dị ứng, ghi vào bệnh án hoặc sổ khám bệnh những thông tin khai thác được về tiền sử dị ứng của người bệnh Khi phát hiện người bệnh có tiền sử dị ứng hoặc phản vệ với một loại thuốc gì, thì thầy thuốc phải cấp cho người bệnh một phiếu ghi rõ các thuốc gây dị ứng và nhắc người bệnh đưa phiếu này cho thầy thuốc mỗi khi khám chữa bệnh
Với các thuốc thông thường như Vitamin B1, Vitamin B6, Vitamin C thì nên cho uống, trừ trường hợp thật cần thiết phải tiêm Thí dụ: trong suy tim cấp do thiếu vitamin B1 thì phải tiêm Vitamin B1
Không được dùng các thuốc đã gây dị ứng và SPV cho người bệnh Nếu người bệnh có tiền sử dị ứng thuốc hoặc dị nguyên có liên quan (thuốc, dị nguyên cùng nhóm hoặc có phản ứng chéo) và người bệnh có tiền sử phản vệ với nhiều dị nguyên khác nhau phải tiến hành Test da trước khi sử dụng thuốc hoặc dị nguyên Trường hợp đặc biệt cần dùng các thuốc này thì phải hội chẩn để thống nhất chỉ định và được sự đồng ý của người bệnh, gia đình người bệnh bằng văn bản, có biện pháp tích cực để phòng ngừa phản vệ
Phải chú ý theo dõi người bệnh khi sử dụng các thuốc dễ gây dị ứng Khi thực hiện y lệnh thuốc cho người bệnh phải có sẵn hộp thuốc chống phản vệ, theo dõi sát người bệnh sau khi sử dụng thuốc để kịp thời phát hiện dấu hiệu của phản vệ
Các cơ sở y tế phải có đầy đủ trang thiết bị y tế và thuốc tối thiểu để cấp cứu phản
vệ như: Oxy, dịch truyền: Natriclorid 0,9 %; Bóng AMBU và mặt nạ người lớn và trẻ
Trang 18nhỏ; Bộ đặt nội khí quản và/hoặc bộ mở khí quản hoặc mask thanh quản….để sẵn sàng cấp cứu
Tại các phòng khám, buồng điều trị và nơi có dùng thuốc phải có sẵn hộp thuốc chống SPV
Nhân viên y tế phải nắm vững kiến thức và có kỹ năng thành thạo xử trí cấp cứu SPV theo đúng phác đồ
1.1.7 Xử trí phản vệ [1]
Xử trí phản vệ tùy thuộc vào mức độ phản vệ, cụ thể như sau:
- Xử trí phản vệ mức độ I: dị ứng nhưng có thể chuyển thành nặng hoặc nguy kịch Sử dụng thuốc Methylpretnisolon hoặc Diphenhydramin uống hoặc tiêm tùy tình trạng người bệnh Tiếp tục theo dõi ít nhất 24h để xử trí kịp thời
- Xử trí phản vệ mức độ II, III : Phản vệ độ II có thể nhanh chóng chuyển sang độ III,
độ IV Vì vậy, phải khẩn trương, xử trí đồng thời theo diễn biến bệnh:
Ngừng ngay đường tiếp xúc với thuốc hoặc dị nguyên (nếu có)
Tiêm hoặc truyền adrealin:
+ Thuốc Adrenalin 1mg=1ml= 1 ống, tiêm bắp:
Trẻ sơ sinh hoặc trẻ < 10kg: 0,2 ml (tương đương 1/5 ống)
Trẻ khoảng 10 kg: 0,25 ml (tương đương 1/4 ống)
Trẻ khoảng 20 kg: 0,3 ml (tương đương 1/3 ống)
Trẻ > 30kg: 0,5 ml (tương đương 1/2 ống)
Người lớn: 0,5 - 1 ml ( tương đương 1/2- 1 ống)
+ Theo dõi huyết áp 3-5 phút/lần
+ Tiêm nhắc lại Adrenalin liều như trên 3-5 phút /lần cho đến khi mạch và huyết
áp ổn định
+ Nếu mạch không bắt được và huyết áp không đo được, các dấu hiệu hô hấp và tiêu hóa nặng lên sau 2-3 lần tiêm bắp như trên hoặc có nguy cơ ngừng tuần hoàn phải:
Nếu chưa có đường truyền tĩnh mạch: Tiêm tĩnh mạch chậm dung dịch adrenalin 1/10.000 (1 ống adrenalin 1mg pha với 9ml nước cất = pha loãng 1/10) Liều adrenalin tiêm tĩnh mạch chậm trong cấp cứu phản vệ chỉ bằng 1/10 liều adrenalin tiêm tĩnh mạch trong cấp cứu sốc phản vệ Liều dùng:
Trang 19Người lớn: 0,5 - 1ml (dung dịch pha loãng 1/10.000 = 50 - 100 microgam) tiêm trong 1 - 3 phút, sau 3 phút có thể tiêm tiếp lần 2 hoặc lần 3 nếu mạch và huyết
áp chưa lên Chuyển sang truyền tĩnh mạch liên tục khi đã thiết lập được đường truyền
Trẻ em: không áp dụng tiêm tĩnh mạch chậm
Nếu đã có đường truyền tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch liên tục Adrenalin (pha Adreanin với dung dịch Natriclorua 0,9 %) cho người bệnh kém đáp ứng với Adrenalin tiêm bắp và đã được truyền đủ dịch Bắt đầu là liều 0,1 microgam/kg/phút, cứ 3 - 5 phút điều chỉnh liều Adrenalin tùy theo đáp ứng của người bệnh
Đồng thời với việc dùng Adrenalin truyền tĩnh mạch liên tục, truyền nhanh dung dịch Natriclorua 0,9 % 1000 - 2000 ml ở người lớn, 10 - 20ml/kg trong 10 - 20 phút ở trẻ em và có thể nhắc lại khi cần thiết
Khi đã có đường truyền tĩnh mạch Adrenalin với liều duy trì huyết áp ổn định thì
có thể theo dõi mạch và huyết áp 1h/lần đến 24 h
- Xử trí phản vệ mức độ IV: như Cấp cứu ngừng tuần hoàn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vai trò của điều dưỡng trong phòng và phát hiện phản vệ:
Phòng ngừa phản vệ là mục tiêu quan trọng nhất Điều dưỡng là người tiếp xúc nhiều với người bệnh, là người thực hiện y lệnh, sử dụng thuốc cho người bệnh và theo dõi tác dụng của thuốc sau khi sử dụng thuốc nên ĐD là người có cơ hội phát hiện được sớm hiện tượng phản vệ của người bệnh [5]
Trước khi sử dụng thuốc bất cứ đường dùng nào ĐD cần thận trọng và khai thác
kỹ tiền sử dị ứng của người bệnh, cần sẵn sàng hộp chống sốc Bệnh nhân có tiền căn dị ứng nên tìm nguyên nhân để phòng tránh Khi xảy ra phản vệ, việc được phát hiện sớm, nhận định và xử trí đúng phác đồ của điều dưỡng sẽ góp phần không nhỏ đến kết quả thành công của việc cấp cứu
Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng rất nguy hiểm đến tính mạng người bệnh Vì vậy đòi hỏi ĐD khi thực hành chuyên môn cần nắm chắc kiến thức phòng và xử trí phản vệ
Trang 20Thông tư 23/2011/TT – BYT, ngày 10/6/2011 về hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh [5], tại Điều 6 quy định trách nhiệm của ĐD phải chứng kiến người bệnh dùng thuốc, theo dõi và phát hiện kịp thời tác dụng không mong muốn
Ngày 28/12/2021 Bộ Y Tế ban hành thông tư số 31/2021/TT-BYT quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện Thông tư này có hiệu lực thi hành kê từ ngày 27/02/2022 Thông tư này thay thế Thông tư 07/2011/TT- BYT ngày 26/01/2011 của
Bộ Y Tế[6], tại Điều 06 quy định thực hiện thuốc và các can thiệp điều dưỡng theo chỉ định của bác sỹ và trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng trên nguyên tắc tuân thủ đúng các quy định, quy trình chuyên môn kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng
1.2.2 Vai trò của điều dưỡng trong xử trí, theo dõi, chăm sóc người bệnh phản vệ
Sau khi sử dụng thuốc phải theo dõi sát người bệnh để phát hiện sớm, kịp thời các dấu hiệu phản vệ của người bệnh
- Nguy cơ suy tuần hoàn
- Nguy cơ suy hô hấp
- Nguy cơ suy thận
- Rối loạn chức năng hoạt động của não
- Chăm sóc tinh thần
- Chăm sóc cơ bản
* Theo dõi, chăm sóc [7]
- Ngừng ngay tiếp xúc với dị nguyên
- Tăng cường tuần hoàn tới các cơ quan:
+ Cho nằm đầu thấp đảm bảo tuần hoàn não
+ Đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại biên hoặc phụ giúp bác sĩ đặt catheter tĩnh mạch trung tâm để hồi phục tuần hoàn, đánh giá tiến triển của sốc
- Làm thông thoáng đường hô hấp:
Trang 21+ Cho người bệnh nằm đầu nghiêng về 1 bên tránh chất nôn vào đường hô hấp + Cho thở oxy theo y lệnh
+ Theo dõi da niêm mạc, tần số thở, kiểu thở
+ Phụ giúp bác sĩ đặt nội khí quản, mở khí quản nếu cần
Tại Châu Âu, nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh dựa trên dân số thực hiện tại Rochester từ năm 1990 đến 2000, ghi nhận tỷ lệ mắc sốc phản vệ là 49,8/100.000 dân Trong đó tỷ lệ sốc phản vệ do thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất 33,2% (70 trường hợp), còn
Trang 22các nguyên nhân khác có thể kể đến như do côn trùng đốt chiếm 18,5%, do thuốc chiếm 13,7% [13]
Tại Úc, theo một nghiên cứu của Liew WK.năm 2009 cho thấy thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây ra phản vệ (trong 105 ca không do thức ăn thì 64 trường hợp do thuốc); nhóm tuổi tử vong cao nhất là từ 55 tuổi trở lên, với số lượng tương tự ở cả nam
và nữ; Penicilin là nguyên nhân gây tử vong chủ yếu ở các nhóm tuổi 60 – 74; tử vong
do Cephalosporin hay gặp ở nhóm tuổi từ 35 –74 [14]
1.2.3.2 Tại Việt Nam:
Ở nước ta cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến SPV, đặc biệt là trong lĩnh vực điều dưỡng, có nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến vai trò, kiến thức của người ĐD trong xử trí và chăm sóc người bệnh SPV.Cụ thể:
Năm 2010, nghiên cứu của Tạ Thị Anh Thơ về đánh giá kiến thức của ĐD trong
xử trí và CSNB sốc phản vệ tại các khoa lâm sàng bệnh viện K cũng chỉ ra rằng 100% nhận thức được đúng nguyên nhân là thuốc, nhưng vẫn còn đến 17% nhận thức không đúng khi coi các chế phẩm máu không nằm trong nguyên nhân SPV; trên 60% trả lời sai về các biểu hiện tuần hoàn, hô hấp của sốc phản vệ; 25% trả lời sai về các nguyên tắc ngừng tiếp xúc dị nguyên và cho người bệnh nằm tại chỗ trong xử trí SPV, 36,4% không trả lời đúng về thời gian theo dõi huyết áp [8]
Trong nghiên cứu của Hoàng Văn Sáng về kiến thức ĐD Bệnh viện 354 về phòng
và cấp cứu sốc phản vệ (2012) cho thấy: 100% ĐD đã nhận thức đúng nguyên nhân SPV
là do thuốc; 100% ĐD biết được triệu chứng sốc (có cảm giác khác thường, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt, khó bắt mạch); 99% ĐD biết cách xử trí khi sốc phản vệ xảy ra là ngừng ngay đường tiếp xúc với dị nguyên và cho bệnh nhân nằm tại chỗ; 100% ĐD nhận thức được khi thực hiện kỹ thuật phải khai thác tiền sử dị ứng và mang hộp chống sốc; 78% ĐD ý thức được rằng cần tiêm Adrenaline để cấp cứu kịp thời người bệnh khi bác sĩ không có mặt; 83% ĐD cho rằng sốc phản vệ không phải nguyên nhân là do hóa chất và thức ăn; 68% ĐD chưa nắm được đường tiêm Adrenaline để cấp cứu người bệnh; 65% ĐDkhông nhớ thời gian tiêm Adrenaline; 64% ĐD không nhớ thời gian theo dõi huyết áp [9]
Một nghiên cứu khác tại bệnh viện Bắc Thăng Long của Nguyễn Thị Thanh Vân (2013) về đánh giá kiến thức phòng và cấp cứu sốc phản vệ của ĐD cũng 100% biết thuốc là một nguyên nhân SPV, nhưng có 10.2% ĐD cho rằng máu và sản phẩm của
Trang 23máu không phải là nguyên nhân gây SPV; 56.2% có hiểu biết đúng về thời gian xuất hiện triệu chứng đầu tiên của SPV; còn 5.1% hiểu biết sai về biểu hiện hô hấp của sốc phản vệ; 85.4% có hiểu biết đúng về cách xử trí ngay tại chỗ với sốc phản vệ; 4.4% không biết ĐD được tiêm Adrenaline theo phác đồ khi bác sỹ không có mặt; 8.8% hiểu biết sai về vấn đề phải khai thác tiền sử dị ứng khi dùng thuốc; 11.7% hiểu biết sai về vấn đề phải mang hộp chống sốc khi tiêm truyền; 1.5% không nhớ các khoản cần thiết phải có trong hộp thuốc cấp cứu SPV [10]
Những đề tài này đã nêu ra được những vấn đề bất cập về kiến thức của ĐD trong phòng và xử trí phản vệ từ đó kiến nghị những biện pháp nhằm giảm tối đa tỷ lệ tử vong
và những biến chứng do phản vệ gây ra