BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ THỊ XUÂN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHOA TIM MẠCH BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và phân loại tăng huyết áp
1.1.2.1 Khái niệm tăng huyết áp
Theo WHO, một người được xem là bị tăng huyết áp khi có một trong hai trị số sau hoặc cả hai: huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) ≥ 90mmHg Trị số huyết áp được tính trung bình cộng của ít nhất hai lần đo liên tiếp theo phương pháp đo chuẩn Khái niệm này hiện đang được Bộ Y tế và các chương trình y tế tại Việt Nam sử dụng để xác định mức độ tăng huyết áp.
1.1.2.2 Phân loại tăng huyết áp
Phân loại theo nguyên nhân tìm được: thường được sử dụng trong lâm sàng gồm 2 nhóm: THA nguyên phát (hay THA vô căn) và THA thứ phát
Nhóm THA nguyên phát được phân độ dựa trên mức chỉ số huyết áp, chia thành 3 cấp độ: độ 1 từ 140-159mmHg/90-99mmHg, độ 2 từ 160-179mmHg/100-109mmHg, và độ 3 từ ≥ 180mmHg/≥ 110mmHg Bên cạnh đó, còn tồn tại nhóm THA tâm thu đơn độc, mô tả những trường hợp có chỉ số huyết áp tâm thu từ 140mmHg trở lên trong khi huyết áp tâm trương dưới 90mmHg.
Bảng 1.1 Phân độ huyết áp theo WHO (2003) Phân loại Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm trương (mmHg)
Huyết áp bình thường cao 130-139 85-89
THA tâm thu đơn độc ≥140 ≤90
Nguồn: Theo World Health Organization (2003), [24]
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh, biến chứng và một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp
Huyết áp động mạch được điều hòa bởi hai cơ chế chính là thần kinh và thể dịch, nhằm duy trì sự cân bằng tuần hoàn trong cơ thể Sự thay đổi và tác động của các cơ chế này có ảnh hưởng trực tiếp đến mức huyết áp, giúp đảm bảo cung cấp máu đủ cho các tổ chức và cơ quan Hiểu rõ cách thức điều chỉnh huyết áp này là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa và điều trị các bệnh về tim mạch.
Tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm dẫn đến việc tăng hoạt động tim và thể tích tim trong một phút, gây ra phản ứng co thắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận Điều này làm tăng sức kháng ngoại vi, từ đó dẫn đến tình trạng tăng huyết áp động mạch.
- Vai trò của hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron (RAA)
Chất điều hòa huyết áp trong thận bao gồm prostaglandin E2 và kaliklein, có vai trò chính trong việc điều chỉnh huyết áp, hạ can-xi trong máu và tăng can-xi niệu Khi cơ thể thiếu hoặc ức chế các chất này, chức năng điều hòa huyết áp bị ảnh hưởng, dẫn đến tăng huyết áp (THA) Việc duy trì cân bằng của prostaglandin E2 và kaliklein là rất quan trọng để đảm bảo huyết áp ổn định và sức khỏe tổng thể.
- Quá trình tự xơ vữa động mạch làm giảm đàn hồi thành mạch, gây THA 1.1.2.2 Biến chứng hoặc các tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp
Bệnh Thái bị cao huyết áp có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể từ nhẹ đến nặng, thậm chí đe dọa tính mạng Các biến chứng phổ biến của cao huyết áp bao gồm tổn thương tim, suy thận và đột quỵ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Vì vậy, việc kiểm soát huyết áp và phòng ngừa biến chứng là vô cùng quan trọng để bảo vệ sức khỏe lâu dài.
- Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực
- Phì đại thất trái, suy tim
- Bệnh mạch máu ngoại vi
- Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị
- Protein niệu, tăng creatinin huyết thanh, suy thận
- Đột quỵ, thiếu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ, hẹp động mạch cảnh
1.1.2.3 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp
Tuổi càng cao thì nguy cơ tăng huyết áp càng cao:
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA tăng theo tuổi
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến (2012) cho thấy tỷ lệ THA là 23,1% ở lứa tuổi dưới 60 tuổi và 76,9% ở lứa tuổi trên 60 [17]
Những người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao mắc bệnh tăng huyết áp (THA) Nghiên cứu của Lý Huy Khanh cho thấy, tỉ số vòng eo/vòng mông (WHR) có mối liên hệ thuận với phì đại thất trái ở người bệnh THA Nam giới có WHR lớn hơn 0,9 và nữ giới có WHR lớn hơn 0,8 có nguy cơ bị phì đại thất trái gấp 2,51 lần, với khoảng tin cậy 95% (OR = 2,51; CI 95%: 1,26 – 4,99).
Một số nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ cao huyết áp giữa giới tính, trong đó nam giới trưởng thành có tỷ lệ mắc cao huyết áp cao hơn nữ giới [12].
Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ quan trọng, khiến những người có bố, mẹ hoặc anh, chị, em bị THA dễ mắc bệnh hơn so với người khác Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm 2011 cho thấy có đến 17,2% người mắc THA có tiền sử gia đình bị bệnh này, nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của yếu tố di truyền trong việc phát triển bệnh tăng huyết áp.
Căng thẳng thần kinh, sang chấn tâm lý:
Khi bị căng thẳng tâm thần kinh, hệ thần kinh giao cảm hoạt động mạnh mẽ hơn, giải phóng adrenaline và noradrenaline gây tăng co bóp tim, nhịp tim nhanh hơn, động mạch co nhỏ lại và làm tăng huyết áp Tuy nhiên, hiện chưa có bằng chứng rõ ràng rằng các cơn tăng huyết áp ngắn do kích thích tâm lý nặng có thể dẫn đến bệnh tăng huyết áp mãn tính sau này.
Ăn nhiều muối (ăn mặn) làm tăng nguy cơ cao huyết áp (THA) và đột quỵ ở người bị THA Nhu cầu tiêu thụ NaCl trung bình hàng ngày của cơ thể khoảng 4g NaCl, tương đương 1,6g Natri Những người tiêu thụ ít muối hơn (