13 MỞ ĐẦU Phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn m[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại dựa trên lập trường giữ vững nguyên tắc đối ngoại cơ bản, bao trùm là vì hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu Để cụ thể hóa, thực hiện nguyên tắc này, Đảng và Nhà nước Việt Nam nêu 4 nguyên tắc đối ngoại chủ yếu: (i) Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau (ii) Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế (iii) Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình (iiii) Tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi Trên cơ sở đường lối đối ngoại đó, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, trong đó ưu tiên cho việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, với các nước và trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc Trong quan hệ quốc tế, hiện nay Việt Nam đã tham gia sâu rộng, ngày càng hiệu quả ở các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Á - Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Những đóng góp của Việt Nam vào các hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Sự tham gia và hoạt động tích cực của Việt Nam ở Liên Hợp Quốc cũng được các nước đánh giá tích cực và đó là cơ sở
để Việt Nam là Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
Trang 2nhiệm kỳ 2008-2009 và sẽ ứng cử lần thứ 2 vào ghế Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021
Với nhận thức sâu sắc rằng thế giới hiện nay đang phải đối phó với những vấn đề toàn cầu mà không một nước nào có thể tự đứng ra giải quyết được, Việt Nam đã và đang hợp tác chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế
và khu vực để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy Những nỗ lực này của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm đối với các nước trong khu vực và quốc tế
Với mục đích, nghiên cứu những nội dung về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, bài thu hoạch môn học
Quan hệ quốc tế với đề tài “Vai trò và vị thế của Việt Nam trong ASEAN” sẽ
làm rõ thêm về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, qua đó, khẳng định những nỗ lực của Việt Nam trong quan hệ với bạn bè ở khu vực
và quốc tế Việt Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hợp tác quốc tế, độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc…
Trang 3NỘI DUNG
Ngày 08/8/1967 tại Bangkok – Thái Lan, ASEAN được thành lập với mục tiêu tập hợp lực lượng chính trị nhằm xây dựng, duy trì hợp tác phát triển kinh tế, chia sẻ thịnh vượng chung và đảm bảo hòa bình, ổn định trong vấn đề
an ninh và nền kinh tế của khu vực Đông Nam Á
ASEAN được sáng lập bởi 5 nước là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore, thông qua việc ký kết Tuyên bố ASEAN Trong quá trình phát triển, các nước trong khu vực tiếp tục gia nhập ASEAN, cụ thể: Brunei (08/01/1984), Việt Nam (28/7/1995), Lào và Myanmar (23/7/1997) và Campuchia (30/4/1999)
Hơn 50 năm thành lập, hợp tác và không ngừng phát triển, ASEAN bao gồm 10 thành viên trong khu vực Đông Nam Á Ngoài hợp tác nội khối, ASEAN cũng tăng cường liên kết, hợp tác với nhiều đối tác ngoại khối quan trọng như ASEAN+3, ASEAN+6 trong nhiều lĩnh vực về cơ sở hạ tầng, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, công nghệ 4.0, chuỗi giá trị và tăng cường kết nối toàn diện về thể chế, hạ tầng và con người
Những thành tựu to lớn mà ASEAN đạt được, hình ảnh và vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định, được cộng đồng quốc tế công nhận là một trong những tổ chức đa phương thành công nhất, được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
(1) ASEAN là đối tác không thể thiếu trong cơ chế hợp tác của các nước
lớn cũng như các tổ chức kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Trong quan hệ với các nước lớn, ASEAN là đối tác quan trọng hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là khu vực phát triển năng động, trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XXI
Trong cơ chế hợp tác Đông Á, do trọng tâm của nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển dần về châu Á - Thái Bình Dương nên vai trò và ý nghĩa của Cộng đồng Đông Á ngày càng gia tăng Được hình thành vào năm 2012,
Trang 4Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) với sự tham gia của 10 nước thành viên ASEAN và 6 quốc gia mà ASEAN đã ký kết (Ôxtrâylia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Niu Di-lân), nhằm hướng tới mục tiêu hình thành FTA Đông Á (EAFTA) và khởi đầu cho Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) Trọng tâm của RCEP là sự tham gia sâu rộng của ASEAN và các đối tác đối thoại dựa trên sự cải thiện đáng kể các FTA hiện có giữa các bên Cách tiếp cận
“Con đường ASEAN” trong RCEP đã chứng minh đây là cơ chế xây dựng sự đồng thuận tốt nhất ở Đông Á
Một số quốc gia ASEAN cũng là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đây là diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện ASEAN được coi là “hạt nhân” xây dựng APEC - một cơ chế quan trọng của cấu trúc châu Á - Thái Bình Dương
(2) Hầu hết các nước lớn ở châu Á - Thái Bình Dương đều tham gia các
cơ chế của ASEAN, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị ASEAN với các đối tác (ASEAN+), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (Đối thoại Sangri La) được coi là “bộ khung” để xây dựng cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Cơ chế hợp tác ASEAN+1 với 10 đối tác đối thoại chính thức là cơ chế lâu đời, đầy đủ, quan trọng và hiệu quả nhất của ASEAN trong việc xử lý quan hệ với từng nước lớn, từng đối tác Thông qua cơ chế này, các nước ASEAN - một tập hợp của các nước vừa và nhỏ không chỉ đối thoại một cách bình đẳng, ngang hàng với các nước lớn, mà còn tranh thủ được nhiều nguồn lực cho phát triển trên các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, giáo dục, hỗ trợ kỹ thuật, chống khủng bố
Trang 5(3) Về khả năng giải quyết những vấn đề xuyên quốc gia của ASEAN,
Tuyên bố Bangkok (năm 1967) và Tuyên bố Ba-li (năm 1976) đã xác lập các nguyên tắc nền tảng cho quan hệ hợp tác bền vững của ASEAN Đặc biệt, Tuyên bố Ba-li đã dành riêng chương IV quy định sự ra đời một cơ chế chung nhằm giải quyết các tranh chấp trên mọi lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế,
xã hội của ASEAN Trên cơ sở các Tuyên bố của ASEAN, năm 2010, ASEAN đã ký Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN phù hợp với bối cảnh mới Đây là một văn kiện quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý theo quy định của Hiến chương ASEAN ASEAN đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông hoặc xây dựng lòng tin giữa các bên nhằm kiềm chế xung đột tiềm tàng, ngăn chặn đụng độ quân sự làm phức tạp thêm tình hình, chủ yếu thông qua thương lượng, đàm phán Một số văn bản điều chỉnh hành vi của các quốc gia trên Biển Đông đã được xây dựng, như: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC, năm 1976), Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ, năm 1995) và Tuyên bố Manila năm 1992 (tuyên bố đầu tiên thể hiện lập trường chung của các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông) Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC, ngày 04-11-2002) được coi là bước đột phá trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc về vấn
đề Biển Đông, đồng thời cho thấy vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp trong khu vực Hiện nay, ASEAN đang nỗ lực cùng Trung Quốc sớm hoàn thành COC Biển Đông trở thành vấn đề an ninh thiết thực của khu vực, luôn được ưu tiên trong chương trình nghị sự của ARF, ADMM+ hoặc các thể chế an ninh đa phương khác ở châu Á - Thái Bình Dương
Trong bối cảnh hiện nay, ASEAN có khả năng giải quyết những vấn đề xuyên quốc gia của khu vực mà một nước đơn lẻ không làm được
(4) ASEAN được lựa chọn là cơ chế trung gian trong giải quyết các vấn
đề mang tính khu vực Nhận thức rõ tầm quan trọng không thể thiếu đối với
Trang 6các nước lớn cũng như các đối tác trong và ngoài khu vực, ASEAN đã nỗ lực đẩy mạnh quan hệ với các nước lớn và các đối tác dưới nhiều hình thức khác nhau, đồng thời tìm cách “chèo lái” quan hệ với các nước lớn theo hướng có lợi nhất cho ASEAN nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung
Trong quá trình phát triển của ASEAN cho thấy, ASEAN không ngừng hoàn thiện cơ chế đối thoại với các đối tác, nỗ lực xây dựng một kết cấu khu vực lấy ASEAN làm trung tâm “Phương cách ASEAN” là dấu ấn đặc trưng của ASEAN mà đến nay chưa tổ chức nào trên thế giới có được
Sang thế kỷ XXI, sự phát triển năng động của châu Á - Thái Bình Dương cho thấy có sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc quyền lực của khu vực ASEAN đã cải thiện nhanh chóng và mở rộng quan hệ đối thoại chiến lược với các nước lớn cũng như nhiều tổ chức quốc tế khu vực thông qua các cơ chế do ASEAN sáng lập Với tầm nhìn vượt qua những lợi ích riêng, ASEAN
đã và đang thể hiện tiếng nói ngày càng mạnh mẽ, có trách nhiệm đối với những mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế Các đối tác của ASEAN trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước lớn đều mong muốn ASEAN phát huy vai trò trung tâm và chủ động của ASEAN như là một động lực chủ chốt trong một cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương Việc gia nhập ASEAN cách đây hơn 20 năm đối với Việt Nam là một trong những điểm đột phá đầu tiên để triển khai phương châm đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa mà Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra Quyết sách đúng đắn của Ðảng và Nhà nước đã đem lại nhiều lợi ích to lớn cho đất nước trong bối cảnh lúc bấy giờ, khi Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, khắc phục hậu quả chiến tranh để hướng tới hội nhập khu vực
và quốc tế Gia nhập ASEAN, Việt Nam đã góp phần biến đổi môi trường xung quanh từ trạng thái đối đầu, nghi kỵ lẫn nhau sang bắt tay hợp tác
Với vai trò quan trọng và thực lực ngày càng lớn mạnh của ASEAN đã tạo cơ sở phát huy thế và lực của Việt Nam Trong ASEAN, Việt Nam được
Trang 7coi là điểm sáng do tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh được bảo đảm, kinh tế phát triển năng động, môi trường kinh doanh, đầu tư hấp dẫn, ổn định Các nước ASEAN và đối tác của ASEAN, nhất là những nước lớn, đánh giá cao vị trí và vai trò quan trọng của Việt Nam, coi Việt Nam là nhân tố phải tính đến trong hoạch định và triển khai chính sách đối với khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương Bên cạnh đó, Việt Nam đã củng cố được vị thế chiến lược của mình trong khu vực, hội nhập vững chắc trong liên kết song phương thông qua xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các nước thành viên ASEAN như Indonesia, Singapore, Thái Lan; tham gia các cơ chế liên khu vực, như ASEAN+3, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
Mở rộng thị trường, phát triển đối tác đã giúp Việt Nam phát triển mạnh
về kinh tế, tranh thủ sự giúp đỡ, đầu tư của các đối tác nước ngoài và nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực cũng như trên trường quốc tế Tham gia ASEAN, Việt Nam có sự chuẩn bị để hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới ở các sân chơi lớn, như tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), là thành viên đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đàm phán Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU); Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); thúc đẩy thương mại, đầu tư và tiếp cận thị trường tiềm năng thông qua Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã ngày càng trưởng thành, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào các hoạt động chung với tinh thần trách nhiệm, được các nước đánh giá cao Việt Nam đã cùng các nước tích cực thúc đẩy việc hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả 10 quốc gia Đông Nam Á (ASEAN 10), mở ra một chương mới cho khu vực và tạo nền tảng thiết yếu cho ASEAN trở thành một tổ chức khu vực toàn diện, liên kết sâu rộng, có vai trò quan trọng ở Đông Nam Á và Đông Á như ngày nay Hơn 20 năm qua, Việt Nam đã cùng các thành viên khác của ASEAN vượt
Trang 8qua những khác biệt và tồn tại do lịch sử để lại, đoàn kết đẩy mạnh hợp tác toàn diện và cùng chung tay xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở Đông Nam Á
Sự hội nhập mạnh mẽ từ những khác biệt của Việt Nam và các thành viên mới trong ASEAN đã tạo những chuyển biến về chất trong nội dung hợp tác khu vực Trước quá trình liên tục đổi mới của tất cả các nước thành viên, đặc biệt là Việt Nam, ASEAN đã chuyển từ hợp tác có tính chất đóng cửa vì các mục tiêu chính trị giữa các nền kinh tế có trình độ phát triển tương đồng, hướng vào bên trong và chia sẻ thị trường sang xu hướng hợp tác có tính chất
mở cửa, do sự thúc đẩy của thị trường giữa các nền kinh tế có trình độ phát triển chênh lệch nhau, cùng góp chung nguồn lực liên kết với bên ngoài ASEAN hướng tới xây dựng một cộng đồng và giữ vai trò trung tâm trong việc bảo đảm hòa bình, ổn định trong khu vực
Việt Nam góp phần phát huy vai trò chủ đạo của ASEAN trong việc xây dựng, chia sẻ và phát huy hiệu quả các công cụ hợp tác, như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANFWZ), Tuyên bố Bali về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi, tạo sân chơi cho các nước tham gia thông qua các cơ chế và chương trình nghị sự do ASEAN xây dựng và chủ trì, giữ vững vai trò chủ đạo của ASEAN trong các cấu trúc khu vực đang định hình
Bên cạnh vai trò đoàn kết khu vực, Việt Nam cũng là nhân tố thúc đẩy
sự phát triển và tăng cường vị thế của ASEAN Trong những thập niên qua, khu vực Đông Nam Á đã chuyển mình mạnh mẽ, trở thành khu vực phát triển năng động và đoàn kết Trong tiến trình đó, Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần xác định chiều hướng phát triển, định hướng chiến lược
và các quyết sách lớn của ASEAN, như xây dựng Tầm nhìn 2020, Hiến chương ASEAN, Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển Việt Nam có tiếng nói chủ chốt trong việc bảo vệ những mục tiêu và nguyên tắc cơ
Trang 9bản của Hiệp hội, như các mục tiêu hòa bình, ổn định và liên kết khu vực; tích cực thúc đẩy và phát huy tác dụng của các cơ chế bảo đảm an ninh khu vực Việt Nam đã trở thành một trong những yếu tố giúp ASEAN lấy lại sức mạnh, tạo đà vượt qua các giai đoạn khủng hoảng Trước bối cảnh sức mạnh của Hiệp hội giảm sút khi khu vực lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng năm 1997, Việt Nam đã chủ trì thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội năm 1998, thông qua Chương trình hành động
Hà Nội, mở đường cho ASEAN vượt qua khủng hoảng tài chính, tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh hợp tác, khôi phục vị thế ASEAN và định hướng cho sự phát triển nhằm hiện thực hóa viễn cảnh của Tầm nhìn 2020
Việt Nam đã phát huy vai trò là cầu nối tích cực tăng cường quan hệ giữa ASEAN với các đối tác, kể cả việc góp phần tháo gỡ một số vướng mắc, giúp nâng tầm quan hệ giữa các bên, được cả ASEAN và các nước đối thoại đánh giá cao
Việt Nam cũng có những đóng góp tích cực nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của ASEAN tại các tiến trình hợp tác khu vực do ASEAN khởi xướng, như ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ARF, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM)
Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Uỷ ban thường trực ASEAN (2000-2001), Chủ tịch luân phiên ASEAN (năm 2010) và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 17 (năm 2010) và trên cương vị chủ nhà Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN năm 2018 (WEF ASEAN 2018), Việt Nam có trọng trách cùng Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) và các nước ASEAN tập trung thảo luận những vấn đề quan trọng và hình thành các ý tưởng, định hướng lớn về phát triển của các nước ASEAN trong Cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm góp phần thực hiện thành công Tầm nhìn ASEAN
2025 vì lợi ích và sự phát triển của cả khu vực và từng quốc gia, đóng góp cho sự thịnh vượng chung của khu vực và thế giới
Trang 10Một số vấn đề liên hệ thực tế:
Hiện nay, trong bối cảnh ASEAN thời gian gần đây đứng trước nhiều
khó khăn, thách thức liên quan đến sự cạnh tranh của các nước lớn, sự khác biệt trong nhận thức, lợi ích và ứng xử, Việt Nam đã, đang và sẽ nỗ lực củng
cố đoàn kết, thống nhất vai trò của ASEAN trong các vấn đề khu vực, trong
xử lý những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cũng như những vấn đề nảy sinh trong quan hệ với các đối tác; đồng thời thúc đẩy hợp tác thực tiễn trong các cơ chế, diễn đàn khu vực quan trọng do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt như EAS, ADMM+…
Về vấn đề Biển Đông, Việt Nam tiếp tục chủ động trao đổi và phối hợp với các nước nhằm tạo dựng đồng thuận trong ASEAN, giữa ASEAN và đối tác về vai trò của ASEAN và lợi ích chung của tất cả các nước nhằm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông; thúc đẩy đưa vấn đề Biển Đông vào văn kiện các hội nghị, diễn đàn ASEAN với những nội dung tích cực; nhấn mạnh thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố của các bên về ứng xử tại Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ quy tắc ứng
xử tại Biển Đông (COC)
Việt Nam tiếp tục tham gia với phương châm “chủ động, tích cực và có
trách nhiệm”, đóng vai trò đi đầu hoặc dẫn dắt trong một số lĩnh vực hay vấn
đề mà Việt Nam có thế mạnh hoặc có lợi ích trực tiếp; kiên trì các vấn đề nguyên tắc nhưng cần linh hoạt về biện pháp và cách thức tiến hành nhằm tranh thủ những điểm tương đồng, hạn chế và thu hẹp bất đồng, tăng cường đoàn kết và hợp tác ASEAN; kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động đa phương
và song phương
Việt Nam cần chuẩn bị tốt hơn về mặt nội bộ, nhất là chủ động nghiên cứu, đề xuất các sáng kiến, dự án có giá trị và khả thi nhằm thúc đẩy đưa những ưu tiên của Việt Nam vào các hoạt động khu vực hướng tới việc học