Báo cáo thực tập: Giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 3
I Giới thiệu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3
1 Quá trình hình thành và phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3
2 Vị trí và vai trò của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 5
3 Tiềm năng và thế mạnh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 7
3.1 Nguồn nhân lực 7
3.2 Tài nguyên thiên nhiên 8
3.3 Điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật 10
4 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng 12
4.1 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 12
4.2 Thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển doanh nghiệp 14
4.3 Phát triển văn hoá- xã hội 15
4.4 Phát triển kết cấu hạ tầng: 16
II Lựa chọn các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ giai đoạn 2001-2010 17
1 Quan niệm về các ngành công nghiệp chủ yếu 17
2 Các tiêu chí lựa chọn ngành công nghiệp chủ yếu 19
2.1 Hệ thống tiêu chí lựa chọn ở tầm vĩ mô 19
2.2 Hệ thống tiêu chí lựa chọn của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 21
3 Hệ thống các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 24
III Sự cần thiết phải thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 32
1 Vị trí, vai trò của các ngành công nghiệp chủ yếu trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 32 1.1 Ngành công nghiệp chủ yếu góp phần thực hiện thành công
Trang 2Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của vùng 32
1.2 Ngành công nghiệp chủ yếu giúp phát huy lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng cũng như của quốc gia 33
1.3 Ngành công nghiệp chủ yếu góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa 33
2 Sự thay đổi trong các yếu tố phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 34
2.1 Nguồn nhân lực 34
2.2 Tài nguyên thiên nhiên 35
2.3 Điều kiện kết cấu hạ tầng 36
2.4 Việc thu hút, sử dụng nguồn vốn đầu tư 36
3 Những yêu cầu mới trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thời gian tới 37
3.1 Đổi mới tư duy kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 37
3.2 Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp – khu công nghệ cao của vùng là một trong những mục tiêu quan trọng 38
3.3 Nâng cao quan điểm phát triển công nghiệp chủ yếu của vùng 38
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA VÙNG KINH TÉ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ TRONG THỜI GIAN QUA 40
I Quy mô phát triển sản xuất của các ngành công nghiệp chủ yếu .40
1 Giá trị sản xuất các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 40
2 Lao động trong các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 45
3 Trình độ công nghệ sản xuất các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 50
II Mạng lưới phân bố các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 52
1 Phân bố theo không gian lãnh thổ của vùng 52
Trang 32 Tổ chức sản xuất các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ 56
III Năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp chủ yếu trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 59
1 Những ngành có khả năng (năng lực) cạnh tranh cao 60
2 Những ngành có khả năng (năng lực) cạnh tranh trung bình 65
3 Những ngành có khả năng (năng lực) cạnh tranh yếu 68
IV Kết luận về thực trạng phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 70
1 Những mặt được 70
2 Những mặt chưa được 73
3 Những nguyên nhân chủ yếu 77
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 79
I Định hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 79
1 Quan điểm phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu 79
2 Định hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu 79
II Một số giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong giai đoạn tới 81
1 Định hướng danh mục các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ theo quan điểm của tác giả 81
2 Tổ chức sắp xếp, quy hoạch lại các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng 84
3 Chính sách ưu tiên cho phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 87
3.1 Về tổ chức và cơ chế sản xuất kinh doanh 87
3.2 Chính sách về huy động vốn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng 88 3.3 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực ưu tiên cho các ngành công
Trang 4nghệp chủ yếu của vùng 973.4 Chính sách về tài chính, thuế 98
4 Tăng cường sự quản lý Nhà nước đối với sự phát triển các ngànhcông nghiệp chủ yếu 100
KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Bảng 5: Tốc độ tăng số lao động trong các ngành công nghiệp chủ yếu
của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ .47
Bảng 6: Cơ cấu lao động trong các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng
Bảng 9: Phân bổ các ngành công nghiệp chủ yếu tập trung theo địa
phương trong giai đoạn tới .85
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nằm trong chiến lược phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa nền kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được thành lập vàphát triển với mục tiêu tận dụng được lợi thế của vùng để làm đầu tầu chophát triển kinh tế xã hội của cả nước theo mô hình các cực tăng trưởng Quátrình công nghiệp hóa – hiện đại hóa thực hiện lấy công nghiệp làm ngànhphát triển chính, thúc đẩy các ngành khác phát triển từ đó phát triển kinh tế -
xã hội toàn vùng Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với lợi thế đặc thù củamình đã lựa chọn trong số các ngành công nghiệp những ngành mà vùng cólợi thế nhất để tập trung cho phát triển, gọi là các ngành công nghiệp chủ yếu.Trong thời gian qua, sự phát triển mới chỉ gần chục năm của vùng, chínhsách tập trung phát triển cho các ngành công nghiệp chủ yếu đã thể hiện làmột bước đi đúng đắn trong mong muốn phát triển kinh tế - xã hội nhanh bềnvững, làm một cực tăng trưởng có tác dụng lan tỏa tới toàn nền kinh tế củavùng Nhưng bện cạnh đó không phải không tồn tại những bất cập, thiếu hợp
lý của quá trình phát triển
Việt Nam đã bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế về mọi mặt củanền kinh tế và sắp bước sang giai đoạn chiến lược phát triển mới, giai đoạn2010-2020 nên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ cần phải xem xét lại mộtcách đúng đắn quá trình phát triển của mình để từ đó có những giải phápnhằm điều chỉnh ngay, hợp lý, thúc đẩy các ngành cho giai đoạn phát triểnsau đạt hiệu quả hơn Do vậy việc nghiên cứu hệ thống các ngành côngnghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là việc nghiên cứu mộtđộng lực của sự phát triển kinh tế xã hội của toàn vùng cần phải được thựchiện một cách cụ thể, nghiêm túc
Với mục đích như vậy tác giả xin chọn đề tài luận văn là: “Giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tất cả các mặt của các ngành côngnghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong giai đoạn pháttriển vừa qua và trong giai đoạn phát triển sắp tới
Trang 6Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu với việc áp dụng một sốphương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp hệ thống mô tả
- Phương pháp hệ thống hóa
- Phương pháp suy luận logic
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương phápnghiên cứu như vậy, nội dụng của đề tài được chia làm 3 chương, cụ thể nhưsau:
- Chương I: Sự cần thiết phải thúc đẩy phát triển các ngành công
nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
- Chương II: Thực trạng phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong thời gian qua
- Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công
nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới:
- Thầy giáo PGS.TS Ngô Thắng Lợi đã tận tình giúp đỡ em trong suốtquá trình nghiên cứu đề tài
- Văn Phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọngđiểm thuộc Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực tập và thu thập số liệu
- Các thầy cô trong khoa Kế hoạch & Phát triển, các thầy cô trường Đạihọc Kinh tế quốc dân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Được sự quan tâm như vậy em đã hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 7CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG
ĐIỂM BẮC BỘ
I Giới thiệu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
1 Quá trình hình thành và phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Một trong những nhân tố đột phá then chốt để đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước là có những chính sách hợp lý nhằm đẩy nhanh tốc
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phầnkinh tế và cơ cấu vùng kinh tế Yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế của đất nước
là một yêu cầu khách quan cấp thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Từ nghiên cứu các đặc điểm về vị trí địa lý; điều kiện tự nhiên và tàinguyên thiên nhiên; đặc điểm và thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh,thành phố trong cả nước; các yếu tố tác động từ bên ngoài đến nền kinh tếcủa đất nước như: bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của các nướctrong khu vực và trên thế giới cũng như xu hướng toàn cầu hoá nhằm rút rakết luận về những lợi thế, thời cơ phát triển cũng như những hạn chế, tháchthức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh, thành phố trong cảnước nhằm giúp cho việc hoạch định những chính sách phát triển mang tínhđột phá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế quốc dân
Để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết
và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng kinh tế, Chính phủViệt Nam đã và đang cố gắng lựa chọn một số tỉnh, thành phố để hình thànhnên vùng kinh tế trọng điểm quốc gia có khả năng đột phá, tạo động lực thúcđẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với tốc độ cao và bền vững, tạođiều kiện nâng cao mức sống của toàn dân và nhanh chóng đạt được sự côngbằng xã hội trong cả nước Liên kết Vùng là yêu cầu tất yếu trong phát triểnkinh tế - xã hội nói chung, công nghiệp nói riêng Mỗi địa phương chỉ có thể
Trang 8phát triển nhanh và bền vững dựa trên sự phân công và hợp tác tối ưu toànvùng Việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm là nhằm đáp ứng nhữngnhu cầu của thực tiễn nói chung và đỏi hỏi của nền kinh tế nước ta nói riêng.Mặt khác, phát triển Vùng kinh tế trọng điểm trở thành động lực thúc đẩyphát triển đất nước là một vấn đề có tính chiến lược
Theo hướng đó, năm 1997 Chính phủ đã ra quyết định thành lập vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm 5 tỉnh, thành phố Đây là vùng lãnh thổ cótiềm lực kinh tế lớn thứ hai sau vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tácđộng thúc đẩy phát triển của vùng Bắc Bộ và của cả nước Đồng thời Thủtướng Chính phủ đã phê duyệt quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, về Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộđến năm 2010; Có 5 tỉnh, thành phố được xếp vào quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Đó là: Hà Nội, HưngYên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương
Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm vừa qua cóđược sự tăng trưởng cao và ổn định là do đường lối đúng đắn của Đảng vàNhà nước Song sự tăng trưởng đó một phần là do sự tác động qua lại khôngchỉ giữa các vùng kinh tế trọng điểm mà còn do những tác nhân quan trọngkhác như: hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm: đường bộ, đường thuỷ,sân bay, các bến, cảng v v trong các vùng kinh tế trọng điểm và các tỉnh/thành phố trong cả nước nhằm mục tiêu tác động cùng phát triển
Trong quá trình hình thành và phát triển, vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở,gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, và không chỉ tạo ra động lựcthúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo chiều hướngtích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ vàthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh lân cận trong vùng Nhànước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tầutăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn chovùng nhiều khó khăn Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa
Trang 9các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại,đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật về nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và đàotạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng vàkhu vực, gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường
và quốc phòng an ninh
Trong Hội nghị các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngày 15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của vùng;sau đó Văn phòng Chính phủ đã ra thông báo số 108/TB-VPCP ngày30/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị, trong đó cóquyết định “Đồng ý bổ sung 3 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc vào vùngkinh tế trọng điểm Bắc bộ” Tổng diện tích vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộsau khi bổ sung là 15.277 km2, bằng 4,64% diện tích và dân số (tính đến năm2002) là 13,035 triệu người, bằng 16,35% so với cả nước
14-Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Ngày 13tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số145/2004/QĐ-TTg về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế -xã hội vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020 Trong cácquyết định này, quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã được mởrộng thêm 3 tỉnh gồm Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Đồng thời, quyết địnhnày cũng thay thế cho các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg đã ban hành năm
1997 Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm 8 tỉnh, thành phố là: Hà Nội,Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và QuảngNinh
2 Vị trí và vai trò của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có vị trí, vai trò trọng yếu về chính trị,kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng của cả nước và được Đảng –Nhà nước đặc biệt quan tâm Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm 8tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Ngoài tỉnh Quảng
Trang 10Ninh thuộc khu Đông Bắc, các tỉnh còn lại thuộc vùng đồng bằng sông Hồng.Tổng diện tích của vùng là 15289,5 km², bằng 4,64% diện tích tự nhiên của
cả nước; dân số (năm 2006) là khoảng 13,807triệu người bằng 16,3% so với
cả nước
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đủ
4 mùa tương đối rõ rệt trong năm, độ ẩm khá cao Khí hậu của vùng thíchhợp với cây trồng, vật nuôi nhiệt đới Nhiệt độ trung bình năm trong vùng là24°C Số giờ nằng trung bình trong năm là 1800 giờ
Vùng có lịch sử phát triển, có bề dầy và tiêu biểu cho những truyềnthống văn hóa, xã hội và phong tục tập quán của người Việt Nam, cái nôi củanền văn hóa lúa nước của Việt Nam và nước Văn Lang đầu tiên Trong vùng
có kinh đô Thăng Long xưa, hiện nay là Thủ đô Hà Nội trải gần 1000 nămtuổi, trung tâm đầu não về chính trị, tiêu biểu về văn hóa – xã hội, hàng đầu
về khoa hoc – công nghệ và kinh tế của cả nước
Nằm trong vòng cung biển Đông – biển Hoa Nam – biển Nhật Bản, cóđường biên giới đất liền với Trung Quốc, vùng có vị trí địa kinh tế - chính trị
và tiềm năng mở rộng giao lưu quốc tế về kinh tế thương mại, văn hóa và đốingoại quan trọng nhất của Việt Nam ở khu vực phía Bắc và Vịnh Bắc Bộ vớicác nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, đây vừa là khu vực thị trường lớn vừa
có nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển
Thủ đô Hà Nội là đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàngkhông trong nước và quốc tế Khu vực ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh làhành lang kinh tế ven biển có cụm cảng cửa ngõ ra biển lớn nhất miền Bắc.Địa bàn cũng là nơi tập trung hầu hết các cơ sở công nghiệp, dịch vụ quantrọng của khu vực phía Bắc Hệ thống đô thị phát triển rộng khắp Đây làvùng hạt nhân, địa bàn động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đô thịhóa và công nghiệp hóa của cả khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực miềnnúi trung du phía Bắc, khu vực Bắc Trung Bộ, có ảnh hưởng lan tỏa mạnh mẽđền quá trình phát triển trên phạm vi cả nước
Trang 113 Tiềm năng và thế mạnh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Dân số năm 2006 là khoảng 13,807 triệu người, bằng 16,3% dân số cảnước với tốc độ tăng dân số thời kỳ 2001-2005 là 1,25% Quy mô dân số đôthị của vùng gia tăng đáng kể, từ 3386,6 nghìn người năm 2000 (chiếm85,55% dân số đô thị của vùng đồng bằng sông Hồng và bằng 18% dân số đôthị của cả nước) lên 4325,274 nghìn người năm 2005 (chiếm 86,57% dân số
đô thị vùng đồng bằng sông Hồng và bằng 19,1% dân số đô thị của cả nước)
và 4549,303 nghìn người vào năm 2006 Trong giai đoạn 2001-2005 trungbình mỗi năm dân số đô thị của vùng tăng khoảng 174 nghìn người
Nguồn lao động của vùng năm 2005 khoảng 7,48 triệu lao động (chiếm55,4% tổng dân số của vùng) Trong tổng số 2,45 triệu lao động có tay nghềthì có khoảng 61% lao động có trình độ chuyên môn là công nhân kỹ thuật cóbằng trở lên, trong đó lao động có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên là661,3 nghìn người (chiếm 27%); lao động có trình độ trung học chuyênnghiệp là 465,3 nghìn người (chiếm 19%) và lao động có trình độ công nhân
kỹ thuật có bằng là 367,4 nghìn người (chiếm 14%) Tỷ lệ này của các đô thịlớn là rất cao như: Hà Nội 77,1%, Vĩnh Phúc 65%, Quảng Ninh 72,8%, HảiDương 55% Lực lượng lao động trẻ có tay nghề đã và đang được xem như
là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh thúc đẩy sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng
Dự báo dân số của vùng đến năm 2010 là khoảng 15 triệu người, năm
2020 là khoảng 17,3 triệu người Với ưu thế nổi trội về đội ngũ lao động kỹthuật và là nơi tập trung đông các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, cao
Trang 12đẳng, có trang thiết bị hiện đại nhất cả nước, trong tương lai ưu thế này vẫnđược củng cố và có chiều hướng phát triển Đây là tiềm năng, lợi thế so sánhlớn, cần được phát huy tao ra sự phát triển nhanh, mạnh, vững chắc của vùng
và lôi kéo các vùng khác trong cả nước phát triển theo hướng Công nghiệphóa – Hiện đại hóa và chuẩn bị tiền đề phát triển nền kinh tế trí thức
3.2 Tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên trong vùng khá phong phú và đa dạng Do đó,vùng có điều kiện phát triển nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngànhcông nghiệp yêu cầu lao động kỹ thuật cao Bên cạnh đó, với chế độ khí hậunhiệt đới gió mùa, có đủ 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông và chịu ảnh hưởng sâusắc của Vịnh Bắc Bộ
(i) Tài nguyên đất: Đồng bằng chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của
toàn vùng Trong tổng diện tích của vùng, đền năm 2005 đã sử dụng 58,31%vào mục đích nông nghiệp; 25,2% vào mục đích phi nông nghiệp; còn lại16,49% là đất chưa sử dụng, sông suối, núi đá Bình quân diện tích đất tựnhiên toàn vùng là 0,115ha/người, bằng 28% mức bình quân chung của cảnước Trong những năm gần đây, có xu hướng dân cư nông thôn chuyển nơi
ở từ các làng xã với đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm đến những nơi nằmven đường quốc lộ; diện tích các công trình công nghiệp, đô thị tăng mạnh.Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn (252148 ha chiếm 16,49% diện tíchđất tự nhiên)
(ii) Tài nguyên nước: Nguồn nước trong vùng khá phong phú, có thể
đáp ứng rất tốt cho quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vàđời sống của dân cư Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước để đáp ứng cácmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường của toàn vùng phụthuôc chủ yếu vào nguồn nước lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình Tàinguyên nước dưới đất khá phong phú ở Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, nhưnghạn chế ở Hải Phòng, Quảng Ninh Hiện nay, chất lượng nguồn nước đang có
Trang 13nguy cơ bị giảm sút do tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường gia tăng và
do khai thác bừa bãi
(iii) Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học: Tài nguyên rừng của vùng khá
phong phú, bao gồm cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Một
số khu rừng tự nhiên rất có giá trị kinh tế sinh thái, đa dạng sinh học cao nhưVườn Quốc gia Ba Vì, khu rừng chùa Hương (Hà Tây); Vườn quốc gia Cát Bà(Hải Phòng); Vườn quốc gia Bái Tử Long (Quảng Ninh), Vườn quốc gia TamĐảo (Vĩnh Phúc); vùng núi Chí Linh (Hải Dương), Khu bảo tồn thiên nhiênYên Tử (Quảng Ninh) Trong vùng còn có hệ sinh thái đầm nuôi ven biển, làloại hình thủy vực bán tự nhiên, thường nằm ở vùng cao triều và trung triều,nơi có thảm thực vật ngập mặn phát triển Vùng có nguồn lợi thủy sản phongphú có thể phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biện thủy hải sản
(iv) Tài nguyên khoáng sản và đặc trưng địa chất: Tài nguyên khoáng
sản trong vùng khá phong phú và đa dạng, gồm có than đá, sắt, măng gan, titan, đồng, niken, thiếc, vàng, đất hiếm, apatit, graphit, đá vôi, sét, cao lanhtrong đó than đá chiếm gần 90%, mang gan 42%, ti tan64%, cao lanh 49%trữ lượng khai thác công nghiệp của cả nước.Quảng Ninh là vùng than lớnnhất cả nước với trữ lượng tới 3,5 tỉ tấn, hiện đã và đang khai thác với sảnlượng hàng năm trên 20 triệu tấn.Các mở đá vôi ở Hải Phòng, Quảng Ninh,Hải Dương là cở sở để đặt các nhà máy xi măng cỡ lớn: Chin Fong, HoàngThạch, Phúc Sơn Các khu vực cảnh quan đá vôi có giá trị cao để phát triển
du lịch và bảo tồn sinh thái như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Mỹ Đức; một sốcảnh quan đồi núi kết hợp với các di tích lịch sử như Sóc Sơn, Côn Sơn, Yên
Tử Vùng biển Bắc Bộ cũng đã có dấu hiệu có mỏ dầu khí, đây sẽ là tiền đềrất quan trọng để phát triển công nghiệp cho toàn vùng Tuy nhiên, vấn đềcác nguồn tài nguyên khoáng sản chưa được chú ý điều tra, phát triển và chưađược tổ chức quản lý, quy hoạch khai thác hợp lý, hiệu quả Ngoại trừ cácvùng đồi núi, hầu hết diện tích vùng đồng bằng sông Hồng đều có nền đấtyếu, có ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng các công trình
Trang 143.3 Điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Vùng có mạng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tốt so với các vùng khác,tạo tiền đề hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế và đẩy mạnh giao lưuđối với các vùng trong nước và các nước
(i) Hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc: Nhiều công trình giao thông
quan trọng trong 5 năm qua đã được hoàn thành như cải tạo và nâng cấp cáctuyến đường quốc lộ 1, 18, 10, 2B, 38, 39, 183, 12B, 21, 21B và 23; xâydựng đường Láng – Hòa Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấp I; xâydựng mới các cầu Bính, Triều Dương, Tân Đệ, Tiên Cựu, Yên Lệnh, ThanhTrì, Bãi Cháy,…
Các tuyến đường sắt: Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội– Thái Nguyên, Hà Nội – Vinh đã được nâng cấp để rút ngắn thời gian vậnchuyển và đảm bảo an toàn chạy tàu Tuy vậy, hệ thống đường sắt còn tồn tạinhiều khổ đường gây trở ngại cho vấn đề tổ chức vận tải liên tuyến; hầu hếtcác tuyến đường sắt chưa nâng cấp lại đều là tuyến đơn, năng lực rất hạn chế,tốc độ khai thác chỉ đạt 30-40 km/h; quy mô ga nhỏ, thiếu các ga đầu mốiquy mô lớn có ý nghĩa toàn vùng
Vùng có các cảng biển quan trọng và thuận lợi về giao thông đườngbiển Tổng công suất qua các cảng đạt 18 – 19 triệu tấn/năm Các cảng HảiPhòng, Cái Lân đang tiếp tục được đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô côngsuất để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa đường biển cho khu vực phíaBắc Với bờ biển chạy dài gần 300km, có một số vũng, vịnh có thể xây dựngthêm các cảng biển nước sâu, phát triển khu công nghiệp đóng tàu trọng tảilớn, phát triển khu kinh tế, du lịch ven biển và biển đảo
Mật độ mạng lưới sông kênh lớn, nhưng khả năng khai thác bị hạn chế
do chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên và do chưa đầu tư cải tạo, nạo vét luồnglạch, hiện đại hóa hệ thống phao tiêu, biển báo Hệ thống cảng sông đã có,nhưng cở sở hạ tầng còn quá thô sơ, chưa được đầu tư cải tạo cầu bến, đường
ra vào và hiện đại hóa công nghệ bốc xếp tại các cảng sông
Mặc dù sân bay Quốc tế Nội Bài đã hoàn thành xây dựng nâng cấp giai
Trang 15đoạn 1, đang trong giai đoạn 2 xây dựng mở rộng; sân bay Cát Bi cũng đãđược cải tạo một bước; nhưng các cảng hàng không trong vùng có quy mônhỏ, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải trong tiếntrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước
Hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình tiếp tục được xâydựng và phát triển nhanh trong thời gian qua, cơ bản đáp ứng được nhu cầuphục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng
(ii) Hạ tầng kỹ thuật môi trường: Hệ thống cung cấp nước sạch ở đô thị
được phát triển đáng kể (lượng nước sạch chiếm 38% tổng số nước sạch cungcấp của cả nước, tỷ lệ dân đô thị được dùng nước máy đạt tới trên 90%).Cung cấp nước sạch nông thôn tăng nhanh Tuy nhiên, mới chỉ bảo đảm chokhoảng 58,4% số dân đô thị, tỷ lệ thất thoát nước rất lớn lên tới 45%; nguồnnước cấp cho khu vực đô thị, công nghiệp chưa có quy hoạch và kế hoạchkhai thác cân đối hợp lý Mạng lưới thoát nước và vệ sinh đô thị chưa được tổchức hợp lý và hoàn thiện đã dẫn đến hiện tượng ngập úng, ô nhiễm môitrường khá phổ biến Các sông trong đô thị phần lớn đều bị ô nhiễm nặng,việc thoát nước ra sông, hồ thiếu xử lý và chưa kiểm soát tốt nên gây ônhiễm đến nhiều vùng dân cư Hạ tầng kỹ thuật về phân loại, thu gom, vậnchuyển và xử lý rác thải chưa được quy hoạch và tiếp cận với công nghệ mới
(iii) Hệ thống điện năng: Hệ thống điện năng đã phủ khắp toàn vùng.
Lưới điện trong vùng một số được xây dựng đã lâu nên có dấu hiệu hư hỏngnhiều, chất lượng đường dây kém, không an toàn và chưa đạt yêu cầu mỹquan, nhất là trong các đô thị Tình hình tiêu thụ điện năng trong vùng khôngđồng đều giữa các tỉnh, thành phố Năm 2004, thành phố Hà Nội có mức tiêuthụ điện năng cao nhất, khoảng 800Kwh/người
(iv) Hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội: Các bệnh viện, trường học, công
trình văn hóa nghệ thuật, thể dục, thể thao, bảo tồn bảo tàng, đã có bướcphát triển hơn hẳn so với các vùng khác và có những mặt đã có thể so sánhquốc tế Toàn vùng có 50 trường cao đẳng, đại học (trên tổng số 139 trườngcủa cả nước); 38 trường trung cấp chuyên nghiệp; 22 trường trung học
Trang 16chuyên nghiệp; 42 trường dạy nghề Trong vùng có 102 viện nghiên cứuchuyên ngành, trong đó có nhiều viện đầu ngành với lực lượng cán bộ khoahọc tương đối khá; tạo ra lợi thế so sánh cho bản thân vùng là điều kiện quantrọng để hỗ trợ các tỉnh nhất là trong các lĩnh vực cải tiến thiết bị công nghệ,tạo giống, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm sản xuất,
Toàn vùng có 1862 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó có 124 bệnh việnvới bình quân 5 bác sỹ/100 dân Riêng ở Hà Nội có 33 bệnh viện, 4 nhà hộsinh, 17 phòng khám đa khoa, 228 trạm y tế phường, xã Tại Hải Phòng,Quảng Ninh và Hải Dương cũng đã có bệnh viện (hợp tác với nước ngoài).Vùng đạt mức cao về số giường bệnh 19,7 giường/1 vạn dân và số bác sĩ 4,9bác sĩ/1 vạn dân
Nhìn chung, không có tình trạng người ốm không được chữa bệnh, trẻ
em ở tuổi đi học không được đến trường Bên cạnh đó, vùng cũng có thếmạng đáng kể trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và phát triển thể thao thànhtích cao
4 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Nhìn chung, trong những năm qua vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đãphát triển khá toàn diện, duy trì được mức tăng trưởng tương đối cao, gópphần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Tình hình phát triển chung và kết quả đạt đượccủa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thể hiện ở các nội dung sau:
4.1 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
- Tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,3%trong năm 2006 so với gần 9% trong giai đoạn 1996- 2000, cao gấp 1,5 lần sovới mức bình quân chung của cả nước, trong đó khu vực nông lâm nghiệp vàthuỷ sản tăng 2,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 16,4%; khu vựcdịch vụ tăng 13,6% GDP của Vùng năm 2006 đạt 199330 tỷ đồng (giá hiệnhành) chiếm 20,47% GDP của cả nước GDP bình quân đầu người đạt 14,5triệu đồng cao gấp 1,2 lần so với mức bình quân chung của cả nước Năm
2007, tăng trưởng kinh tế ước đạt trên 13%, GDP bình quân đầu ngườikhoảng 17 triệu đồng
Trang 17- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá nhanhtheo hướng phi nông nghiệp và sản xuất hàng hóa, năm 2005, tỷ trọng cáckhu vực trong cơ cấu kinh tế bao gồm khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sảnchiếm 11,7%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 43,1%; khu vực dịch
vụ chiếm 45,2% Trong 5 năm, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng thêmđược 4,9 điểm % trong cơ cấu GDP (cả nước tăng thêm 4 điểm %) Tốc độ
đô thị hóa tăng bình quân 5,5% năm Năm 2006, tỷ trọng các khu vực trong
cơ cấu kinh tế bao gồm khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 11,3%;khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 42,7%; khu vực dịch vụ chiếm 46%
- Xuất khẩu - nhập khẩu: năm 2005, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạchnhập khẩu đạt xấp xỉ 5,2 tỷ USD chiếm 15,7% mức của cả nước và 13,4 tỷUSD Tốc độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu bìnhquân 19% và 24% trong giai đoạn 2001- 2005 Đến năm 2005, kim ngạchxuất khẩu bình quân đầu người đạt 387 USD ngang với mức bình quân chungcủa cả nước, chênh lệch cán cân xuất nhập khẩu so với GDP của nền kinh tếkhá lớn, nhập siêu trong năm 2005 xấp xỉ 8,2 tỷ USD chiếm 83% so vớiGDP Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đạt xấp xỉ6,6 tỷ USD chiếm 15,5 tỷ USD Năm 2007, ước kim ngạch xuất khẩu đạt trên
7 tỷ và kim ngạch nhập khẩu khoảng 16 tỷ
- Thu - chi ngân sách: thu ngân sách tăng bình quân 19% so với mức18,3% của cả nước, tổng thu ngân sách của năm 2005 đạt 54721 tỷ đồng, tỷ
lệ huy động ngân sách so với GDP đạt 34,8% Chi ngân sách hàng năm tăngbình quân 22%, năm 2005 tổng chi ngân sách 26.132 tỷ đồng, tỷ lệ chi ngânsách so với thu ngân sách và so với GDP là 48% và 16,6% Năm 2006, thungân sách đạt 63142 tỷ, chi ngân sách 30341 tỷ, chênh lệch thu lớn hơn chilớn
- Đầu tư phát triển: tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội huy độngđược trong giai đoạn 5 năm 2001- 2005 đạt 257 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăngvốn đầu tư bình quân 19% Cơ cấu nguồn vốn bao gồm: vốn của khu vựcNhà nước chiếm 48,8% (19198 tỷ đồng); vốn của khu vực tư nhân và dân
Trang 18cư chiếm 36,7%; vốn đầu tư nước ngoài chiếm 14,5% Năm 2006, tổng vốnđầu tư phát triển của vùng khoảng 105380 tỷ chiếm 26,4% cả nước
4.2 Thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển doanh nghiệp
- Thu hút đầu tư nước ngoài:
Môi trường thu hút đầu tư của vùng được cải thiện thông thoáng hơntrước, một số tỉnh trong vùng tích cực đổi mới cơ chế chính sách và đơngiản hoá thủ tục hành chính đã thu hút được nhiều dự án đầu tư, tạo thêmđược nhiều việc làm cho lao động ở địa phương và đạt được tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao hơn so với trước Từ 1988 đến hết năm 2005, toàn vùng
đã thu hút được 1543 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng
ký là 18049,1 triệu USD chiếm 27,8% so với cả nước trong đó vốn phápđịnh đầu tư trực tiếp nước ngoài 6378,6 triệu USD chiếm 26,2% so với cảnước Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Vĩnh Phúc là những địa phương
có nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhất trong vùng, trong đó Hà Nội có 816
dự án (vốn đầu tư nước ngoài 4248,6 triệu USD), Hải Phòng 232 dự án(820,2 triệu USD), Quảng Ninh 125 dự án (363,4 triệu USD), Vĩnh Phúc
111 dự án (275,5 triệu USD)
- Phát triển doanh nghiệp :
Giai đoạn vừa qua, số lượng doanh nghiệp trong vùng tăng lên nhanhchóng, bình quân khoảng 17% năm Nhiều doanh nghiệp ở các địa phươngđang dần lớn mạnh, mở rộng qui mô sản xuất đóng góp không nhỏ vào pháttriển kinh tế và ngân sách của các tỉnh, thành phố Đến năm 2005, toàn vùng
có 23426 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 25,5% tổng số doanh nghiệptrong cả nước) với tổng số lao động 1414,5 nghìn người chiếm 24,5% sốlượng lao động trong các doanh nghiệp của cả nước Tổng số vốn sản xuấtkinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệp trong vùng là 378,5nghìn tỷ đồng (chiếm 19,3% so với cả nước), doanh thu thuần sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp 451,1 nghìn tỷ đồng
Địa phương có số lượng doanh nghiệp nhiều nhất là Hà Nội (15068doanh nghiệp), Hải Phòng (2625 doanh nghiệp), Hà Tây (1260 doanh
Trang 19nghiệp), Quảng Ninh (1202 doanh nghiệp) Địa phương tập trung nhiềudoanh nghiệp có qui mô sử dụng lao động từ trên 500 người là Hà Nội (319doanh nghiệp), Hải Phòng (83 doanh nghiệp), Quảng Ninh (41 doanhnghiệp), Hải Dương (27 doanh nghiệp) Các doanh nghiệp có vốn đầu tưtrên 200 tỷ đồng tập trung chủ yếu ở Hà Nội (241 doanh nghiệp), Hải Phòng(43 doanh nghiệp) và Quảng Ninh (29 doanh nghiệp)
4.3 Phát triển văn hoá- xã hội
Nhiều chủ trương, chính sách và chương trình quốc gia về phát triểnlĩnh vực văn hoá- xã hội được các tỉnh, thành phố trong vùng thực hiện tốt
và vượt trước một số chỉ tiêu so với kế hoạch
- Phát triển giáo dục và đào tạo: toàn vùng đến cuối năm 2005 có 1896trường học mẫu giáo với 419,8 nghìn học sinh và 21949 giáo viên, tỷ lệbình quân 19 học sinh/ giáo viên; 3892 trường học phổ thông với 22166giáo viên trực tiếp giảng dạy chiếm 19,2% so với cả nước và 2541 nghìnhọc sinh
Vùng là trung tâm lớn nhất cả nước về đào tạo Cao đẳng, Đại học vàtrên Đại học, năm 2005, số giáo viên Đại học và Cao đẳng trong vùng có
20150 người chiếm 41,5% số giáo viên Cao đẳng và Đại học của cả nước,trong đó riêng Hà Nội có 15727 giáo viên chiếm 78% so với cả vùng; tổng
số sinh viên Cao đẳng và Đại học có 564,7 nghìn sinh viên chiếm 45,4% sốsinh viên Cao đẳng và Đại học trong cả nước, trong đó Hà Nội có 491,2nghìn sinh viên chiếm 87% số sinh viên đang được đào tạo trong vùng
- Phát triển hệ thống Y tế: năm 2005, toàn vùng có 1.902 cơ sở khámchữa bệnh thuộc địa phương quản lý, trong đó có 124 bệnh viện, số Bác sĩthuộc các Sở Y tế địa phương có 6694 người, bình quân 5 Bác sĩ/100 dân
- Phát triển hệ thống thiết chế văn hoá: đến nay toàn vùng có 97 thưviện do địa phương quản lý với 1721 nghìn bản sách, bình quân 140 nghìnngười dân có 1 thư viện; 14 rạp chiếu phim, 12 rạp hát và 26 đoàn nghệthuật biểu diễn thuộc các địa phương quản lý
Trang 20- Thực hiện chính sách xã hội: tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị năm 2005giảm xuống còn khoảng 5,5% (cả nước 5,6%) Tỷ lệ đói nghèo (chuẩn cũ)giảm từ 10,2% xuống 4,6% (cả nước còn gần 7%)
4.4 Phát triển kết cấu hạ tầng:
Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội của vùng trong 5 năm qua được nângcấp và cải thiện rõ rệt, một số công trình quan trọng đã được hoàn thành nhưnâng cấp tuyến QL1 Hà Nội- Lạng Sơn và Hà Nội- Ninh Bình đến ThanhHoá đạt tiêu chuẩn cấp III; tuyến QL18 Bắc Ninh- Bãi Cháy, đoạn Bãi Cháy
- Móng Cái đang triển khai nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV; nâng cấp QL10;xây dựng đường Láng - Hoà Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấpI; xây dựng mới các cầu như cầu Bính, Triều Dương, Tân Đệ, Tiên Cựu, cầuYên Lệnh, cầu Bãi Cháy, đang xây dựng cầu Thanh Trì, ; cải tạo các quốc
lộ 2A, 2B, 38, 39, 183, 12B, 21, 21B và 23 Các tuyến đường sắt Hà Nội Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Thái Nguyên và Hà Nội - Vinhđược đầu tư để rút ngắn thời gian vận chuyển và đảm bảo an toàn chạy tàu.Sân bay Quốc tế Nội Bài đã hoàn thành xây dựng nâng cấp giai đoạn 1,đang chuẩn bị xây dựng mở rộng giai đoạn 2 Sân bay Cát Bi đã được cảitạo một bước Cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân đang tiếp tục được đầu tưnâng cấp và mở rộng qui mô công suất để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hànghoá đường biển cho khu vực phía Bắc
-Hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình tiếp tục được xâydựng và phát triển nhanh trong thời gian qua, cơ bản đáp ứng được nhu cầuphục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng
Kết cấu hạ tầng đô thị về cấp điện, cấp thoát nước, giao thông đô thị vàcác công trình dân dụng khác được nâng cấp, cải thiện và mở rộng qui mô ởtất cả các thành phố và thị xã trong vùng Xây dựng nhiều khu đô thị mới ởcác thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long và các thành phố, thị xã trungtâm tỉnh
Trang 21II Lựa chọn các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ giai đoạn 2001-2010.
1 Quan niệm về các ngành công nghiệp chủ yếu.
Các ngành công nghiệp chủ yếu là để chỉ những ngành có thể có “lợi thế
so sánh” , lợi thế cạnh tranh (cả tĩnh và động) và có tiềm năng dẫn dắt nềnkinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong bối cảnh cả đất nước đanghội nhập và cạnh tranh trong khu vực, đặc biệt là với Trung Quốc và bốnquốc gia đang trỗi dậy của ASEAN (ASEAN 4), cũng như hội nhập và cạnhtranh trong xu hướng toàn cầu hóa “Ngành công nghiệp chủ yếu” có thể cónhiều nghĩa nhưng trong phạm vi luận văn này có nghĩa là sự phát triển củacác ngành công nghiệp chủ yếu có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa đến toàn bộ nềnkinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nâng cao mặt bằng kinh tếthông qua việc phát triển sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm, xóa đóigiảm nghèo, đem lại ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu từ vùng ra bênngoài, củng cố công nghiệp phụ trợ, nâng cao trình độ công nghệ của vùng,…Việc hỗ trợ cho tất cả các ngành cũng đồng nghĩa với việc không hỗ trợcho ngành nào Do đó, cần phải xác định đúng đắn các ngành chủ yếu là chủlực và được ưu tiên với một tầm nhìn lâu dài trên cơ sở thích hợp để có thểtập trung nguồn lực hỗ trợ về con người và tài chính chơ sự phát triển củangành đó theo nguyên tắc “lựa chọn và tập trung” đồng thời đạt hiệu quả caonhất
Theo quan niệm, có thể coi các ngành chủ yếu hay chủ lực là tươngđương về mặt ý nghĩa, nó là những ngành hiện đang có lợi thế cạnh tranh,đang có những đóng góp lớn đối với phát triển kinh tế (về giá trị gia tăng, vềkim ngach xuất khẩu, về giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội khác,…) Trongtừng thời kỳ, ngành được lựa chọn là chủ yếu là những ngành có điều kiệnphát triển trong thời gian đó, đóng vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tếquốc dân cũng như được ưu tiên đầu tư phát triển nhằm đáp ứng một nhu cầubức thiết nào đó của nền kinh tế
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp chủ yếu có một
số đặc điểm sau đây:
Trang 22- Thứ nhất là những ngành công nghiệp có hiệu quả cao so với cácngành khác Hiệu quả ở đây hiểu là hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội.Theo quan điểm phát triển bền vững ngành công nghiệp chủ yếu không chỉđạt được hiệu quả về mặt kinh tế xã hội mà còn phải đảm bảo được sự pháttriển bền vững cho nền kinh tế, tức là phải đảm bảo sự phát triển toàn diệncủa cả ba vấn đề : kinh tế - xã hội – con người Vì thế xem xét hiệu quả củangành chủ yếu không chỉ trong một sớm một chiều mang tính chất ngắn hạn
mà cần đứng trên quan điểm tăng trưởng cao, lâu dài và bền vững
- Thứ hai là những ngành công nghiệp dựa trên nguồn lực sẵn có Nguồnlực đầu vào sẵn có là ưu thế của các ngành công nghiệp chủ yếu, đặc biệttrong điều kiện của các nước đang phát triển như Việt Nam đang phải chịusức ép do nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước phát triển
- Thứ ba là các ngành công nghiệp có khả năng lan tỏa tác động đến cácngành khác Đây là những ngành có điều kiên phát triển, có thị trường rộngbên trong, bên ngoài và có tác động tích cực đối với các ngành, sản phẩmkhác, lôi kéo các ngành, sản phẩm khác cùng phát triển
- Thứ tư là ngành công nghiệp chủ yếu khi phát triển tới một mức độ nà
đó thì có khả năng tạo một thế đứng và góp phần tiến đến xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ Các ngành này phải là ngành có thế đứng vững trong nềnkinh tế, tức là có khả năng cạnh tranh và củng cố khả năng cạnh tranh trên thịtrường quốc tế trong điều kiện hội nhập, thể hiện ở việc chiếm lĩnh thị trườngtrong và ngoài nước Dần dược biết đến như một thế mạnh của vùng, gópphần là thế mạnh toàn ngành của đất nước
- Thức năm là ngành công nghiệp chủ yếu có thể đạt tới trình độ tiêntiến trong thời gian không xa, kéo theo đó là việc nâng cao trình độ tiên tiếncho các ngành khác, đẩy nhanh tốc độ nắm bắt các công nghệ đã và đangđược áp dụng đồng thời còn góp phần thúc đẩy, tìm kiếm các phát minh,công nghệ mới
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, từ lý thuyết phát triểncho tới thực tế phát triển, ngành công nghiệp ngày càng đóng vai trò quan
Trang 23trọng và bản thân đã trở thành một ngành mũi nhọn của toàn bộ nền kinh tế.Tuy nhiên, ngành công nghiệp còn bao gồm nhiều phân ngành nhỏ, trong đóxuất hiện những ngành nổi trội với vai trò là ngành thúc đẩy tích cực, tăngtốc nhanh cho toàn ngành công nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nóichung, nhưng cũng có ngành mà sự đóng góp, lôi kéo các ngành khác và sựthúc đẩy của nó ở mức độ vừa phải Vì vậy cần phải lựa chọn đúng đắnngành nào là chủ yếu cho từng giai đoạn phát triển để đạt được hiệu quả kinh
tế cao, nhanh chóng tăng tốc nền kinh tế
2 Các tiêu chí lựa chọn ngành công nghiệp chủ yếu.
2.1 Hệ thống tiêu chí lựa chọn ở tầm vĩ mô.
Để lựa chọn một định hướng cho sự phát triển mà ở đây là định hướngcho một ngành công nghiệp có được coi là ngành công nghiệp chủ yếu haykhông? Chúng ta cần phải xem xét lựa chọn đó có phải là hiệu quả haykhông? So sánh giữa lựa chọn này với lựa chọn khác xem lựa chọn nào làhiệu quả hơn ? Có nhiều tiêu chí để đánh giá hiệu quả tùy theo mục đích cầnđạt được Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân (vĩ mô) yêu cầu vềhiệu quả hoàn toàn khác với yêu cầu về hiệu quả của một doanh nghiệp (vimô) Quan điểm đánh giá hiệu quả mà chúng ta đề cập đến ở đây là đánh giáhiệu quả sản xuất các mặt hàng công nghiệp từ đó xác định được các ngànhcông nghiệp chủ yếu cho quá trình phát triển
Cho đến nay có thể coi hai tiêu chuẩn chung thường được áp dụng đểđánh giá hiệu quả vĩ mô trong việc phối hợp các chính sách phát triển của
một quốc gia, đó là: đạt được sự tăng trưởng đi kèm với phát triển bền vững.
Đây cũng chính là các mục tiêu phát triển cơ bản của bất kỳ quốc gia nào.Chúng thay đổi vị trí quan trọng tùy theo quan điểm chính trị cũng như quanđiểm kinh tế của Chính phủ ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.Bản thân mục tiêu phát triển bền vững đã bao hàm cả một số mục tiêu
mà từ trước đến nay hầu hết chính phủ của các quốc gia đều cho là quantrọng và các chính sách phát triển do họ đề ra luôn cố gắng phải đạt được, đólà: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả, bảo đảm công bằng ổn
Trang 24định và an ninh xã hội, không hủy hoại môi trường.
Các chính sách phát triển đề ra nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản này dườngnhư khá hợp lý, tuy nhiên để chúng đạt được hiệu quả thực sự đối với xã hộicần phải có sự điều chỉnh nhất định Một chính sách phát triển đúng đắn cókhả năng bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân/doanh nghiệp với lợiích của nhà nước/toàn xã hội, sự phát triển của toàn xã hội sẽ tạo điều kiện đểmỗi cá nhân/doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện mình Ngược lại, chínhsách phát triển sai lầm, thiển cận sẽ thúc đẩy các mâu thuẫn trở nên sâu sắchơn dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng: không công bằng, mất ổn định,không hiệu quả, không tăng trưởng Các chính sách này sẽ được coi là phốihợp một cách hiệu quả khi đạt được các yêu cầu sau:
(1) Khuyến khích sự tăng trưởng mạnh hàng công nghiệp có đóng góplớn cho giá trị sản xuất công nghiệp, cho giá trị tăng thêm của công nghiệp,doanh thu thuần, thể hiện sự chiếm lĩnh thị trường trong nước và thị trườngthế giới của ngành công nghiệp nhưng đồng thời phải giảm thiểu được nhữngtác động về môi trường, duy trì sự phát triển bền vững của sản xuất, xuấtkhẩu và an ninh xã hội
(2) Khuyến khích phát triển các ngành hàng công nghệ cao nhằm giatăng giá trị sản xuất và xuất khẩu những vẫn bảo đảm giải quyết nhiều việclàm cho người lao động nhằm duy trì sự ổn định của xã hội
(3) Khuyến khích phát triển các mặt hàng công nghiệp có thể đầu tư ítvốn nhưng lại chủ yếu sử dụng tài nguyên và nhân lực trong nước mà vẫnbảo đảm chất lượng để cạnh tranh trên thị trường thế giới
Với hai mục tiêu tăng trưởng và bền vững, hiệu quả sản xuất hàng côngnghiệp chủ yếu về mặt vĩ mô được thể hiện ở 9 tiêu chí cơ bản:
(a) Thiết yếu đối với nhu cầu sinh hoạt (ăn, mặc, ở, đi lại, sinh hoạt, họchành, giải trí) và hợp thị hiếu thị trường trong nước/quốc tế
(b) Thiết yếu đối với nhu cầu và phù hợp môi trường sản xuất trongnước/quốc tế
Trang 25(c) Thường xuyên đóng góp lớn cho giá trị tăng thêm và tăng trưởng giátrị tăng thêm của ngành công nghiệp hàng năm.
(d) Có khả năng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường nội địa/thế giới.(e) Sử dụng nhiều nguồn nhân lực trong nước (với giá rẻ để tăng khảnăng cạnh tranh, tạo nhiều công ăn việc làm mặc dù chưa có lãi nhiều, bảođảm cuộc sống người lao động, công bằng và an ninh xã hội chung)
(f) Sử dụng nhiều nguồn tài nguyên tại chỗ và nguyên liệu sản xuất tạichỗ với giá rẻ để tăng khả năng cạnh tranh
(g) Đạt mức thu nhập cao cho một lao động
(h) Đạt giá trị tăng thêm cao trên một đồng vốn đầu tư phát triển, mộtđồng vốn tài sản lưu động và một đồng vốn tài sản cố định
(i) Đạt trình độ công nghệ quốc tế và bảo vệ môi trường
2.2 Hệ thống tiêu chí lựa chọn của Việt Nam trong giai đoạn 2010.
2001-Nằm trong khung cơ chế, chính sách phát triển chung, các chính sáchphát triển hàng công nghiệp chủ yếu của Việt Nam được đề ra cho thời kỳ2001-2010 phải vừa nhằm đạt được từng mục tiêu phát triển cơ bản đề ra chothời kỳ này, vừa phải phối hợp nhằm điều chỉnh và giải quyết mâu thuẫn giữacác mục tiêu phát triển cơ bản, mâu thuẫn giữa các mục tiêu phát triển củatừng doanh nghiệp với mục tiêu phát triển xã hội chung
Để có được sự lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu nàomột cách đúng đăn, như đã nói ở trên chúng ta đi vào đánh giá hiệu quả củangành đó trong phát triển kinh tế, đánh giá được hiệu quả của sự phối hợp cácchính sách phát triển hàng công nghiệp chủ yếu của Việt Nam cho thời kỳ
2001-2010 Chúng ta đưa Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả sản xuất các
hàng công nghiệp chủ yếu cho thời kỳ này Xin trình bày ở đây những nét cơ
bản về hệ thống tiêu chí của Việt Nam dùng để xác định các ngành côngnghiệp chủ yếu cho giai đoạn 2001-2010
Về việc quan niệm thế nào là ngành công nghiệp chủ yếu có lẽ đã trình
bày phần nào rõ ràng ở phần trên (mục Quan niệm về các ngành công nghiệp
Trang 26chủ yếu) Ở đấy, chúng ta cùng nhau quy ước những hàng nông, lâm, ngư
nghiệp đã qua chế biến công nghiệp được coi là hàng công nghiệp như gạo đãxay xát, thủy sản, cà phê, cao su, đã qua chế biến nông nghiệp và như thếđây được coi là ngành công nghiệp chế biền nông – lâm – thủy sản và thựcphẩm Và những dịch vụ sử chữa phương tiện vận tải phải được tính vào khuvực dịch vụ chứ không phải công nghiệp Những việc chính xác hóa đó chưathể có được trên thực tế hiện nay do vẫn có những quan niệm và kiểu xácđịnh chưa hoàn toàn đúng, thống nhất và có thể bị thay đổi qua các thời kỳkhác nhau
Danh mục ngàng công nghiệp chủ yếu sẽ chỉ bao gồm một số ngàng cógiá trị lớn, mà riêng chúng đã chiếm phần lớn trong tổng giá trị công nghiệphàng năm (khoảng trên 80%), mang tính chất quan trọng dựa trên các chỉ tiêubảo đảm tính tăng trưởng và bền vững cho toàn nền kinh tế Nếu sau một giaiđoạn nào giá trị của nó nhỏ đi so với ngàng khác trong giá trị tổng sản lượngcông nghiệp (có thể do quan điểm không còn được ưu tiên, hay không cònphù hợp với xu hướng phát triển cho thời kỳ mới, hay lý do nào khác) thì sẽ
bị loại ra khỏi danh mục để nhường chỗ cho ngàng khác có giá trị lớn hơn
Do đó danh mục ngàng công nghiệp chủ yếu sẽ không cố định qua các giaiđoạn (nhưng điều này cũng còn phụ thuộc một phần vào các chính sách pháttriển của Chính phủ) Có như vậy mới thấy được sự phát triển của ngànhcông nghiệp chủ yếu trong thời kỳ tới
Với 9 tiêu chí đánh giá hiệu quả hàng công nghiệp chủ yếu về mặt vĩ môtrên cơ sở việc phân tích hai mục tiêu tăng trưởng và bền vững đã nêu bật ởphần trên, hệ thống chỉ tiêu lựa chọn ngành công nghiệp chủ yếu được xâydựng trên cơ sở 9 tiêu chí đánh giá hiệu quả đó
Tiêu chí thứ nhất : Là những ngành có dấu hiệu lợi thế cạnh tranh đượcthế hiện như lợi thế về nguồn tài nguyên, nguồn nguyên liệu, lợi thế về nguồnnhân lực Tiêu chí này là sự thể hiện của hai tiêu chí về đánh giá hiệu quả đó
là tiêu chí (e) - Sử dụng nhiều nguồn nhân lực trong nước (với giá rẻ để tăngkhả năng cạnh tranh) và (f) - Sử dụng nhiều nguồn tài nguyên tại chỗ và
Trang 27nguyên liệu sản xuất tại chỗ (với giá rẻ để tăng khả năng cạnh tranh) Tiêuchí này đánh giá múc độ sử dụng các nguồn lực tại chỗ (nhân lực và tàinguyên trong nước) của ngành công nghiệp chủ yếu được coi là lợi thế cạnhtranh rất quan trọng của Việt Nam trong thời gian tới.
Tiêu chí thứ hai : Là những ngành phát triển mạnh và hiệu quả, có khảnăng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường thế giới Tiêu chínày là sự thể hiện của bốn tiêu chí về đánh giá hiệu quả đó là tiêu chí (c) -Thường xuyên đóng góp lớn cho giá trị tăng thêm và tăng trưởng giá trị tăngthêm của ngành công nghiệp hàng năm ; (d) - Có khả năng chiếm lĩnh thịphần lớn trên thị trường nội địa/thế giới ; (h) - Đạt giá trị tăng thêm cao trênmột đồng vốn đầu tư phát triển, một đồng vốn tài sản lưu động và một đồngvốn tài sản cố định và (g) - Đạt mức thu nhập cao cho một lao động
Tiêu chí thứ ba : Là những ngành mà sản phẩm của nó đáp ứng nhu cầutiêu dùng, nhu cầu phát triển, sản xuất của thị trường trong nước và quốc tế.Tiêu chí này là sự thể hiện của hai tiêu chí hiệu quả đó là tiêu chí (a) - Thiếtyếu đối với nhu cầu sinh hoạt (ăn, mặc, ở, đi lại, sinh hoạt, học hành, giải trí)
và hợp thị hiếu thị trường trong nước/quốc tế ; và (b) - Thiết yếu đối với nhucầu và phù hợp môi trường sản xuất trong nước/quốc tế Tiêu chí này thể hiệnmức độ cần của thị trường hàng tiêu dùng trong nước/ngoài nước và mức độcần của thị trường tiêu thụ nguyên liệu sản xuất đối với hàng công nghiệpchủ yếu được sản xuất trong nước
Tiêu chí thứ tư : Là những ngành có khả năng áp dụng nhanh các côngnghệ tiên tiến, công nghệ sạch, công nghệ bảo vệ môi trường, từ đó nâng caonăng lực cạnh tranh của ngành đối với thị trường trong nước/quốc tế Tiêuchí này là sự thế hiện của tiêu chí (i) - Đạt trình độ công nghệ quốc tế và bảo
vệ môi trường
Tiêu chí thứ năm : Là những ngành có tác dụng lan tỏa trong cả nềnkinh tế Tiêu chí này là tiêu chí quan trọng cuối cùng trong việc xác định mộtngành có được coi là chủ yếu hay không Tiêu chí này thể hiện sự phát triển
Trang 28của các ngành này sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác, phù hợp vớiđặc điểm, vai trò của ngành công nghiệp chủ yếu.
Có thể thấy trong hệ thống năm tiêu chí nêu ở trên, tiêu chí thứ nhất vàthứ hai cho thấy vị trí quan trọng nhất dùng để lựa chọn, còn tiêu chí thứ năm
là tiêu chí dùng để xác định cuối cùng đối với một ngành công nghiệp chủyếu
3 Hệ thống các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Với các tiêu chí đã nêu ở phần trên cùng với việc xem xét các điều kiệnthực tế tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, chính sách phát triển công nghiệpcủa cả nước, chính sách phát triển kinh tế xã hội của vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ, các ngành công nghiệp được lựa chọn là chủ yếu của vùng thời kỳ2001-2010 như sau:
(1) Công nghiệp cơ khí:
Trong ngành cơ khí, tỷ trọng khu vực kinh tế trong nước giảm, trong khi
đó khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng lên Điều này chứng tỏ các nhàđầy tư nước ngoài đã quan tâm vào lĩnh vực cơ khí, tuy nhiên phạm vi đầu tưcòn hạn chế, nhà đầu tư nước ngoài mới chỉ chú trọng đến lĩnh vực cơ khítiêu dùng như ô tô, xe máy; hầu như ít có các dự án đầu tư thuộc ngành cơkhí chế tạo tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị
Trong cơ cấu phân ngành, sản xuất phương tiện vận tải chiếm tỷ trọngcao nhất, cùng với sản xuất dụng cụ y tế chính xác – hai ngành này đều có xuhướng tăng, các ngành khác lại giảm sút trong cơ cấu chung Việc tăng tỷtrọng sản xuất máy móc thiết bị, sản xuất thiết bị điện, sản xuất dụng cụ y tếchính xác là hướng phát triển được tập trung ưu tiên trong giai đoạn này củangành công nghiệp cơ khí
Ngành công nghiệp cơ khí tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với mộtquá trình phát triển lâu dài được ưu tiên phát triển nhằm đưa vùng trở thànhmột trong những trung tâm cơ khí lớn nhất nước, phát huy tính chuyên môn
Trang 29hóa và hợp tác hóa trong sản xuất Khai thác tốt lợi thế về nguồn nhân lực cótrình độ, có cơ sở hạ tầng tốt và có các Trung tâm nghiên cứu lớn như HàNội, Hải Phòng, Quảng Ninh và một số khu công nghiệp của các tỉnh liền kề.Ngành cơ khí phát triển sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm cơ khí là đầuvào đang ngày càng gia tăng của qua trình phát triển các ngành khác, thay thếcho hàng nhập khẩu có giá thành cao mà chất lượng là gần tương đương.
(2) Công nghiệp luyện kim - kim loại:
Toàn vùng tham gia sản xuất kim loại chiếm trên 50% tổng số cơ sở sảnxuất kim loại trên của nước Các cơ sở sản xuất tập trụng tại Hưng Yên, HàNội Ngoài các dự án đầu tư của Tổng công ty Thép Việt Nam, trong giaiđoạn đến năm 2010, kêu gọi đầu tư một số dự án sản xuất loại thép cán nóng,thép tấm công suất 250.000 tấn/năm; nhà máy thép cường độ cao phục vụcông nghiệp đóng tàu công suất 250.000 tấn/năm tại khu công nghiệp tàuthuỷ Cái Lân (Quảng Ninh); Nhà máy thép đặc chủng công suất 50.000tấn/năm tại Hải Phòng, Quảng Ninh và Hải Dương; Nhà máy thép và phôithép công suất 250.000 tấn/năm tại Hải Dương
Ngành công nghiệp luyện kim - kim loại là một ngành quan trọng khiđầu ra của ngành sẽ là đầu vào sử dụng cho các ngành khác, đặc biệt là trongquá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang được đẩy nhanh tiến độ thìngành công nghiệp luyện kim – kim loại cũng trở nên quan trọng hơn Pháttriển ngành công nghiệp luyện kim – kim loại của vùng phù hợp với Chiếnlược, quy hoạch phát triển ngành công nghiệp luyện kim – kim loại của cảnước Đặc biệt ngành sử dụng các lợi thế về nguồn tài nguyên, nguyên liệusẵn có cùng đội ngũ lao động dồi dào của vùng làm lợi thế cạnh tranh rất lớnkhi thay thế dần hàng nhập khẩu và vươn ra thị trường thế giới Với quá trìnhphát triển lâu dài ngành có điệu kiện về cơ sở, kỹ thuật cũng như điều kiệnhấp thụ các công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới khi các nhà đầu tư nướcngoài được mở rộng, thu hút đầu tư
(3) Công nghiệp điện tử - tin học:
Trang 30Ngành điện tử - tin học là một ngành mới, non trẻ, trong thời gian quađược ưu tiên phát triển nhanh để hỗ trợ cho các ngành công nghiệp khác pháttriển Vì là một nước đi sau nên ngành chủ trương không ngần ngại tiến thẳngvào những công nghệ hiện đại, tân dụng tốt lợi thế này là một yếu tố quantrọng thúc đẩy phát triển nhanh Trong ngành hiện phải cân đối phát triểnđồng bộ giữa công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin để dần tiến tới thaythế nhập khẩu và định hướng xuất khẩu Yếu tố nguồn nhân lực là một yếu tốquan trọng trong phát triển của ngành, với nguồn nhân lực đặc thù phải quađào tạo mới, ngành công nghiệp điện tử - tin học luôn chú trọng đào tạo, hớptác đào tạo trong nước và quốc tế nhằm khai thác lớn nhất về lực lượng laođộng trẻ dồi dào trong nước làm một lợi thế cạnh tranh rất lớn của ngành.Hiện tại, phân bố sản xuất của ngành trong vùng như sau : Phát triển sảnxuất máy tính ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Hà Tây;lắp ráp tivi ở Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương; Máy
in và các thiết bị sao chụp khác ở Hà Nội, Bắc Ninh; điện thoại các loại sảnxuất với công nghệ hoàn chỉnh tại Hà Nội, Hưng Yên và Bắc Ninh; Sản xuấtcác thiết bị cơ điện tử, thiết bị chuyên dụng tập trung ở Hà Nội, các cơ sở lắpráp đặt tại Hải Phòng, Vĩnh Phúc và Quảng Ninh Sản xuất và lắp ráp cáclinh, phụ kiện điện tử tại Hà Nội, triển khai mở rộng ra Hưng Yên, Hà Tây,Bắc Ninh Phát triển phần mềm tập trung ở Hà Nội, Hà Tây (Hoà Lạc), BắcNinh (Khu công nghệ thông tin)
(4) Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng:
Ngành hiện tại phát triển đa dạng các chủng loại vật liệu xây dựng, cóchú trọng sản xuất một số chủng loại vật liệu xây dựng mới, sử dụng côngnghệ cao, có lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước như gạchceramic, gạch granit nhân tạo, gạch ốp lát các loại, đá ốp lát, sứ vệ sinh và vậtliệu trang trí nội thất cao cấp Bên cạnh đó là phát triển các chủng loại vậtliệu xây dựng giá rẻ cho xây dựng nhà ở, đường xá, kênh mương, thuỷ lợiphục vụ địa bàn nông thôn
Trang 31Ngành phát triển tập trung dựa trên nguồn nguyên liệu tại chỗ của vùnglàm lợi thế và có một thị trường tiêu thụ lớn nội tại trong vùng và cả nước,việc phát triển ngành không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà cònthay thế phần lớn lượng hàng nhập khẩu, chất lượng sản phẩm của ngàng quacác giai đoạn được nâng cao rõ rệt mà thể hiện ở các sản phẩm vật liệu caocấp, đã vươn ra các thị trường bên ngoài và có uy tín.
Hiện tại phân bố sản xuất của ngành trong vùng như sau: Phát triển sảnxuất xi măng ở các địa phương như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, HảiDương vì có lợi thế về nguồn nguyên liệu; Gạch tuynen ở Hải Phòng, QuảngNinh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hà Tây; Kính xây dựng ở HảiPhòng, Quảng Ninh; Men màu cho sản xuất gốm, sứ, gạch men ở Hải Dương,Vĩnh Phúc, Quảng Ninh; Sứ vệ sinh ở Hà Nội, Quảng Ninh; Gạch ốp lát ở HàNội, Hải Dương…
(5) Công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản và thực phẩm:
Ngành công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản và thực phẩm pháttriển tập trung vào những ngành có lợi thế cạnh tranh và nguồn nguyên liệudồi dào của nền nông – lâm – ngư nghiệp nhiệt đới, sản phẩm có thị trườngtiêu thụ lớn trong nước và xuất khẩu Ngành phát triển theo xu hướng chung
đó là giảm dần sản phẩm sơ chế, tích cực đầu tư phát triển các công nghệ chếbiến sâu để chế biến ra những sản phẩm tiêu dùng cuối cùng nhằm tăngnhanh giá trị của hàng hóa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Phát triển gắnliền với vùng nguyên liệu, gắn liền với việc công nghiệp hóa phát triển nôngthôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho khu vực nông thôn, nhanh chóngthu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn Huy động mọinguồn lực với phương châm phát huy nội lực là chính, coi trọng các yếu tốngoại lực Đa dạng hóa các thành phần tham gia phát triển công nghiệp chếbiến Đa dạng hóa về quy mô và loại hình sản xuất, song song với xây dựngcác cơ sở chế biến tập trung tại các vùng nguyên liệu lớn, đồng thời khuyếnkhích phát triển các cơ sở sản xuất với quy mô vừa và nhỏ, khuyến khích
Trang 32phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống và công nghiệp giađình, Bảo vệ môi trường sinh thái để công nghiệp chế biến phát triển bềnvững và có hiệu quả cao.
(6) Công nghiệp hóa chất:
Ngành công nghiệp hóa chất là một ngành sản xuất đòi hỏi phải có côngnghệ sản xuất tiên tiến, hình thành ngành theo cụm sản xuất liên hoàn đểgiảm chi phí và có điều kiện xử lý tác động môi trường một cách tập trung,phù hợp với quy hoạch ngành hoá chất cả nước, bảo đảm nhu cầu những sảnphẩm thiết yếu cho nền kinh tế như phân bón, hoá chất cơ bản
Ngành trước hết đáp ứng nhu cầu sử dụng phân bón và hóa chất trongnước đang ngày một lên cao cả về việc nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có
và đa dạng hóa sản phẩm Bên cạnh đó là một số sản phẩm như sản xuất lốp
ô tô mành thép(công nghệ radian) săm ô tô, xe máy từ cao su tổng hợp và cácsản phẩm cao su kỹ thuật khác, các loại hóa dược chất lượng cao nhằm thaythế nhập khẩu của vùng và của cả nước
(7) Công nghiệp dệt may – da giầy :
Phát triển công nghiệp dệt may, da giầy nhằm đáp ứng nhu cầu tiêudùng các sản phẩm thiết yếu cho người dân, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạonhiều việc làm cho người lao động Phát triển ngành trên cơ sở huy động mọinguồn lực, đặc biệt là nguồn lực của tư nhân trong và ngoài nước, góp phầnphát triển kinh tế nhiều thành phần, tăng thêm nhiều doanh nghiệp mới, nhất
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đầu tư phát triển ngành theo hướng chuyênmôn hoá, hiện đại hóa nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng của sảnphẩm Phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyênphụ liệu
- Dệt may:
Phát triển cụm công nghiệp dệt may tại Hưng Yên, Vĩnh Phúc và HàTây Xây dựng mới nhà máy dệt (vải dệt kim, vải cao cấp) tại Hải Phòng.Đầu tư mới nhà máy dệt may, in nhuộm tại Bắc Ninh công suất 1.500
Trang 33tấn/năm (6 triệu sản phẩm) Đầu tư xây dựng 02 nhà máy sản xuất phụ liệumay tại Hải Phòng và Hưng Yên Xây dựng mới một số cơ sở may quy mô3-4 triệu sản phẩm/năm
- Da giầy :
Đầu tư mới 01 nhà máy thuộc da công suất lớn tại Hưng Yên Kêu gọiđầu tư xây dựng cụm công nghiệp thuộc da tại Hải Phòng Đầu tư mới một sốdây chuyền sản xuất giầy, cặp túi các loại tại các tỉnh
(8) Công nghiệp khai thác:
Phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sởlợi thế về tài nguyên đã được đánh giá đầy đủ của mỗi địa phương, gắn với tăngcường quản lý nhà nước, đảm bảo sử dụng tài nguyên có hiệu quả, bảo vệ môitrường và trật tự an toàn xã hội
Phát triển ngành khai thác trên cơ sở tăng cường chế biến sâu khoángsản, hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô chưa qua chế biến, nâng cao tối đa hệ
số thu hồi khoáng sản chính, các khoáng sản đi kèm và giá trị của các sảnphẩm chế biến
Hoạt động khai thác than ở các địa phương phải tuân thủ theo Quyhoạch phát triển ngành than đã được trình duyệt Khai thác đá vôi chủ yếu tạicác địa phương Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương Khai thác sét, cao lanhchủ yếu ở Hải Dương
(9) Công nghiệp điện lực:
Thực hiện theo Quy hoạch phát triển Điện lực Việt Nam và các Quyhoạch phát triển điện lực các tỉnh trong Vùng Khẩn trương nghiên cứu địađiểm phát triển thêm các nhà máy nhiệt điện than công suất lớn, đảm bảo đápứng nhu cầu của Vùng trong trường hợp tăng trưởng cao hơn dự kiến Pháttriển đồng bộ lưới điện ở các cấp điện áp nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầudùng điện trong Vùng cho sản xuất, cho sinh hoạt Ngành điện của vùngmang vai trò là ngành phải đi trước một bước để đảm bảo cho quá trình sản
Trang 34xuất, sinh hoạt ko bị gián đoạn, trước tiên là đáp ứng nhu cầu sử dụng trongvùng sau đó là truyền tải sang các vùng khác.
(10) Phát triển tiểu thủ công nghiệp:
Phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp là dựa trên cơ sở các làng nghềtruyền thống của vùng là chủ yếu Phát triển ngành sẽ giúp giải quyết việclàm cho lao động tại các làng nghề, tăng thu nhập nông thôn, và có điều kiệnkiểm soát, khắc phục tác động môi trường do sản xuất làng nghề gây ra mộtcách nhanh chóng và có hiệu quả hơn Bên cạnh đó có nhiều mặt hàng có giátrị xuất khẩu cao, cạnh tranh được trên thị trường quốc tế
Phát triển tiểu thủ công nghiệp, các địa phương trong vùng đều có cáclàng nghề truyền thống riêng, đa dạng
- Tại Hà Nội : Phát huy các ngành nghề truyền thống như gốm sứ, may
da, thủ công mỹ nghệ (chạm, khảm, trang trí nội thất, dát vàng), mứt bánh,thực phẩm, dược liệu Khôi phục, mở rộng thêm các ngành mới như cơ khígia công, sửa chữa nhỏ các máy móc thiết bị, sản xuất đồ gỗ, đồ gia dụng
- Tại Hải Phòng: Phát huy các ngành nghề truyền thống như chế biếnnông, lâm, hải sản, gốm, sứ, sơn mài, điêu khắc, mộc, thêu ren, dệt thảm,mây tre đan, khảm trai v.v Khôi phục, mở rộng thêm các ngành mới nhưrèn, hàn, đúc gang, đúc kim loại màu, đóng -sửa chữa tàu thuyền
- Tại Quảng Ninh: Phát huy các ngành nghề truyền thống như chế biếnnông, lâm, hải sản, mộc, thêu ren, mây tre đan, khảm trai, gốm sứ, thuỷ tinh,rèn nông cụ v.v Khôi phục, mở rộng thêm các ngành mới như đồ mỹ nghệ
từ than đá, đóng sửa chữa tàu thuyền, sản xuất tinh dầu
- Tại Hải Dương: Phát huy các ngành nghề truyền thống như chế tácvàng, bạc, chạm khắc gỗ, dệt lụa tơ tằm, chế biến thực phẩm (đậu xanh, bánhgai, bánh đa), thêu, đan, cói Khôi phục, mở rộng thêm các ngành mới nhưgia công cơ khí nhỏ; sửa chữa máy móc, đồ gia dụng
- Tại Hưng Yên : Phát huy các ngành nghề truyền thống như chế biến
gỗ, đúc đồng, đan, thêu; chế biến nông sản, lâm sản, thực phẩm, dược liệu
Trang 35Khôi phục, mở rộng thêm các ngành mới như tái chế phế liệu; sửa chữa máymóc, đồ gia dụng.
- Tại Hà Tây: Phát huy các ngành nghề truyền thống như dệt lụa; chếbiến nông lâm sản thực phẩm; mỹ nghệ xuất khẩu Khôi phục, mở rộng thêmcác ngành mới như dệt kim (gồm cả hấp, sấy, nhuộm), gia công cơ kim khí;dệt thổ cẩm
- Tại Vĩnh Phúc: Phát huy các ngành nghề truyền thống như khắc đá,rèn, mộc, đan lát, gốm, sứ; chế biến nông lâm sản, thực phẩm, sản xuất vậtliệu Khôi phục, mở rộng thêm các ngành mới như dệt lụa, sản xuất đồ mỹnghệ, chạm, khảm xuất khẩu, sửa chữa máy móc, đồ gia dụng
- Tại Bắc Ninh: Phát huy các ngành nghề truyền thống như gỗ mỹ nghệ,mộc dân dụng, mây tre đan, tơ tằm; chạm khắc đồ mỹ nghệ Khôi phục, mởrộng thêm các ngành mới như tái chế phế liệu (sắt, thép), dệt kim; Gia công
cơ khí, sửa chữa đồ gia dụng
Có thể thấy rằng các sản phẩm công nghiệp được lựa chọn đều là nhữngsản phẩm có lợi thế cạnh tranh (cả tĩnh và động), có tiềm năng thị trường,đem lại hiệu quả kinh tế tương đối cao cho người sản xuất và đóng góp đáng
kể cho tổng sản phẩm nội địa và phát triển kinh tế của vùng Bên cạnh đó cácsản phẩm chủ yếu đều phải bảo đảm tính độc lập tự chủ trong phát triển cácngành công nghiệp chiến lược của quốc gia theo xu thế hội nhập khu vực vàquốc tế Việc phát triển các dòng sản phẩm này sẽ góp phần giải quyết mạnh
mẽ được các vấn để xã hội lớn như xóa đói giảm nghèo, mang lại nhiều công
ăn việc làm, tạo nên sự phát triển đồng đều giữa các địa phương trong vùng
và giưa các vùng miền với nhau Khi thực hiện phát triển tốt hài hòa giữa cácnhóm sản phẩm chủ yếu thì sẽ khai thác tốt các nguồn lực mà đặc biệt là cácnguồn lực tự nhiên của vùng về địa lý, khí hậu, vị thế, tài nguyên , khônggây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái từ đó mà có được những bướcphát triển mang tính chất bền vững
Trang 36III Sự cần thiết phải thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
1 Vị trí, vai trò của các ngành công nghiệp chủ yếu trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Trong quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp là ngành có vị trí, vai tròquan trọng đóng góp vào việc tạo ra thu nhập cho đất nước, tích lũy vốn chophát triển, tạo nguồn thu từ xuất khẩu cũng như thu hút vốn đầu tư nướcngoài, Trong đó các ngành công nghiệp chủ yếu đóng vai trò là động lựcphát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Cụ thể có:
1.1 Ngành công nghiệp chủ yếu góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của vùng.
Lựa chọn những ngành công nghiệp là chủ yếu được ưu tiên là mộttrong những nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển ngành côngnghiệp cũng như Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của vùng, và là cơ sở đểChính phủ và các cơ quan quản lý đưa ra những chính sách phát triển phùhợp, nhằm đạt được những mục tiêu cao nhất đã đề ra đối với vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ Đó là mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bềnvững trở thành một trung tâm kinh tế phát triển, là một cực tăng trưởng củađất nước, đầu tầu về kinh tế của phía Bắc sẽ kéo nền kinh tế của vùng đồngbằng sông Hồng cũng như toàn miền Bắc phát triển
Trong phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020 cũng đã xác địnhcác phương hướng mới có tính đột phá cho phát triển vùng, trong đó có việcphát triển các ngành công nghiệp chủ yếu là các ngành kỹ thuật cao như:công nghiệp phần mềm, thiết bị tin học, tự động hóa và các sản phẩm nghiêncứu khoa học, sản xuất các thiết bị tự động hóa, rô bốt, sản xuất vật liệu mới,thép chất lượng cao, phát triển các ngành công nghiệp đóng tàu, cơ khí chếtạo thiết bị và phụ tùng cho sản xuất ô tô, xe máy, sản xuất thiết bị điện vàlinh kiện điện tử, động cơ nổ, động cơ điện,
Trang 37Nếu như việc xác định các ngành công nghiệp chủ yếu không chính xáchay đã xác định nhưng phát triển nó lại không được sự ưu tiên, quan tâmđúng mức thì đã làm tổn thất rất nhiều nguồn lực quốc gia, gây thiệt hại lớn
mà sự phát triển bền vững có khi cũng không được đảm bảo Đây có thể nói
là định hướng phát triển công nghiệp bị sai lệch kéo theo đó là các cơ chếchính sách phát triển được xây dựng không hợp lý, ảnh hưởng lớn đến việcthực hiện các mục tiêu đã đề ra
1.2 Ngành công nghiệp chủ yếu giúp phát huy lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng cũng như của quốc gia.
Như đã bàn ở trên, một trong những đặc điểm của ngành công nghiệpchủ yếu đó là có khả năng phát huy những lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranhcủa vùng
Trong điều kiện thực trạng vùng cũng như thực trạng của nền kinh tếquốc gia đó là điều kiện nguồn lực hạn chế, đặc biệt là nguồn lực về vốn, vềcông nghệ, về tài nguyên thì bài toán lựa chọn ngành công nghiệp để tậptrung đầu tư có hiệu quả, tạo cơ sở nền tảng cho sự phát triển của vùng, củaquốc gia được đặt ra rất bức thiết Chính vì vậy những ngành công nghiệpcần tập trung phát triển phải là những ngành có lợi thế khai thác tốt những lợithế so sánh, lợi thế cạnh tranh của đất nước
1.3 Ngành công nghiệp chủ yếu góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Lợi thế có được trong việc phát triển ngành công nghiệp chủ yếu là khảnăng chuyển giao công nghệ cũng như trình độ quản lý, tiến tới ngang vớicác nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong thời gian không xa.Thực chất của việc lựa chọn ngành chủ yếu chính là việc tìm ra một cơcấu ngành hợp lý, trong đó hình thành các ngành phát triển bền vững nhằmkhai thác tốt nội lực, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động, hợp tácquốc tế để đáp ứng được các mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội,phát triển toàn diên có trọng điểm với tốc độ cao và bền vững Đảm bảo công
Trang 38bằng xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái vàhội nhập vững chắc có hiệu quả.
Như đã phân tích ở trên, những ngành công nghiệp chủ yếu là nhữngngành có trình độ khoa học công nghệ hướng nhanh tới tiên tiến, có thể đứngngang hàng với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một tương laikhông xa, và kéo theo các ngành khác cùng phát triển Như vậy, khi xác địnhđúng ngành công nghiệp chủ yếu và có cơ chế phù hợp để tạo điều kiên chocác ngành này phát triển thì sẽ tạo ra bước đột phá trong phát triển côngnghiệp, tạo sự chuyển dịch cơ bản về cớ cấu kinh tế của vùng (công nghiệp –nông nghiệp – dịch vụ)
Vì thế xác định và phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ sẽ giúp đất nước đạt được những mục tiêu đã đề ratrong Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của vùng thời kỳ 1996-
2010 cũng như Phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế xã hội vùng tới năm
2010 và tầm nhìn đến năm 2020, mà trong đó có mục tiêu quan trọng, nhiệm
vụ hàng đầu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa vàhiện đại hóa
2 Sự thay đổi trong các yếu tố phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Trong thời gian gần đây và tương lai trong các năm tới, vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ sẽ có những thay đổi lớn trong quá trình phát triển củavùng Những yếu tố thay đổi chủ yếu là:
2.1 Nguồn nhân lực.
Với Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Quốc gia cũng như Chiếnlược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ mới, vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ là một trong những vùng được ưu tiên phát triển số lượng cơ sở giáodục đào tạo lớn nhất cả nước Là vùng tập trung các trường đại học đầungành, các trường đào tạo dạy nghề chất lượng cao đã tạo ra một lực lượnglao động có số lượng cũng như chất lượng cao nhất cả nước
Trang 39Phát triển nguồn nhân lực mạnh mẽ, chất lượng cao đã trở thành một lợithế cạnh tranh, lợi thế so sánh đáng kể của vùng; trong tương lai ưu thế nàyvần tiếp tục được củng cố và phát triển đã không những thúc đẩy nhanh,mạnh và bền vững phát triển kinh tế của vùng mà còn cung cấp nhân lực chocác vùng khác, tạo điều kiện thúc đẩy các vùng khác phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực chính là thực hiện phát triển yếu tố con ngườitrong phát triển bền vững Phát triển theo xu hướng tốt thì cần được quan tâmthúc đẩy và tạo điều kiện hơn nữa, vì yếu tố con người là yếu tố cơ bản của
sự phát triển
2.2 Tài nguyên thiên nhiên.
Một nhân tố của quan điểm phát triển kinh tế bền vững đó chính là việckhai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên niên sao cho hợp lý và hiệuquả, tránh gây hậu quả xấu đối với môi trường cũng như về sau đối với môitrường sinh thái
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ xác định ngành công nghiệp khai thác
là một trong những ngành công nghiệp chủ yếu của vùng, vì lợi thế về cácnguồn tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng với số lượng không phải là nhỏ.Trong suốt thời gian qua bài toán sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý luôn làmột điều không dễ đối với lãnh đạo địa phương trong vùng và và từ phíaChính phủ
Hiện nay việc tổ chức quản lý quy hoạch, theo dõi, khai thác các nguồntài nguyên đã được nâng cao về mặt hiệu quả nhưng tác hại của việc yếu kémtrong công tác quản lý các nguồn tài nguyên này của giai đoạn trước đã vàđang thể hiện Như việc ô nhiễm nguồn nước một số con sông cung cấpnguồn nước cho vùng, diện tích rừng bị thu hẹp kéo theo đa dạng sinh học bịmất, các nguồn khoáng sản khai thác tràn lan gây tổn thất không nhỏ đối vớinền kinh tế Chính vì vậy trong giai đoạn tới một sự thay đổi mạnh mẽ vàtoàn diện đối với vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên sẽ được Chính phủtriển khai mạnh mẽ nhằm tận dụng tốt hơn một lợi thế của vùng
Trang 402.3 Điều kiện kết cấu hạ tầng.
Đi kèm theo quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ thì việc phát triển kết cấu hạ tầng đi trước một bước như là mộttiền đề cho sự phát triển Trong quá trình phát triển của mình hiện nay vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã có một mạng lưới kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội tốt hơn so với các vùng khác Các đường giao thông quan trọng được xâydựng mới cũng như nâng cấp đã và đang phát huy vai trò như những mạchmáu giao thông thúc đẩy thông thương giữa các địa phuong trong vùng vàgiữa vùng với các vùng khác
Hệ thống thông tin liên lạc phát triển nhanh chóng là một yếu tổ phụ trợrất lớn cho sự phát triển công nghiệp của vùng nói riêng và của toàn vùng nóichung
Tuy nhiên điều kiện kết cấu hạ tầng tuy phát triển nhiều nhưng vẫn chưađáp ứng được hết yêu cầu là tiền đề cho sự phát triển khi mà trong nội tại các
đô thị của vùng còn nhiều bất cập về hạ tầng, vô hình chung điều này làm cảntrở sự phát triển của vùng là sự phát triển thiếu đi tính chất bền vững Tronggiai đoạn tới một sự thay đổi mạnh hơn, theo chiều sâu hơn với tầm nhìn xahơn về phát triển sẽ là rất cần thiết cho sự phát triển Đó chính là nâng caohiệu quả các quy hoạch sát với thực tế, giám sát chặt chẽ việc thực hiện sẽlàm thay đổi cơ bản sự phát triển của vùng
2.4 Việc thu hút, sử dụng nguồn vốn đầu tư.
Với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO, nghĩa là mở cửa cho mộtlượng rất lớn nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào, vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ với vai trò của mình đã đón nhận những luồng vốn đầu tư nhiều hơn.Bài toán về vốn cho phát triển của giai đoạn trước đã có một hướng giảiquyết rộng mở, đây chính là một yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển côngnghiệp của vùng cũng như phát triển kinh tế - xã hội
Các địa phương trong vùng cũng như Chính phủ đã có nhiều cơ chếchính sách thống thoáng hơn, ưu đãi nhiều hơn nhằm thu hút các nguồn vốn(chủ yếu là vốn FDI)