1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam

69 1,3K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Mở Rộng Và Phát Triển Nghiệp Vụ Bảo Lãnh Phát Hành Chứng Khoán Của Các Công Ty Chứng Khoán Tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
Trường học Trường Đại Học
Thể loại khóa luận
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 609 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là khóa luận nghiên cứu của chính bảnthân tôi, các số liệu trong bài hoàn toàn là sự thật, nếu có gì sai tôixin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 2

TỪ VIẾT TẮT NGUYÊN NGHĨA

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1.Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài

Sau 8 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã cónhững bước tiến đáng kể, bước đầu thể hiện vai trò là kênh huy động vốnquan trọng cho nền kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiệnđại hóa đất nước Thông qua hoạt động phát hành chứng khoán, các chủ thểcần vốn đã có thể huy động vốn để mở rộng và phát triển sản xuất kinhdoanh Tuy vậy, phát hành chứng khoán là một hoạt động chứa đựng nhiềurủi ro với cả chủ thể phát hành và nhà đầu tư Trước thực tế như vậy đòihỏi phải có biện pháp để giúp việc phát hành được thực hiện một cáchchuyên nghiệp và trôi chảy Công ty chứng khoán và một số chủ thể khácvới kinh nghiệm, kiến thức và sức mạnh về vốn sẽ trở thành người dẫn dắt

và thực hiện đợt bảo lãnh với thành công lớn nhất có thể

Như vậy có thể thấy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoánthực sự rất quan trọng và cần thiết, trước hết là đối với sự thành công của

tổ chức phát hành, uy tín của tổ chức bảo lãnh, niềm tin của nhà đầu tư vàsau là tới sự phát triển nói chung của toàn nền kinh tế - xã hội Tuy nhiên,không đi đôi với sự lên xuống của thị trường chứng khoán, không giốngnhư sự phát triển của nghiệp vụ môi giới hay tự doanh, nghiệp vụ bảo lãnhphát hành chứng khoán tại Việt Nam dường như vẫn đang bước nhữngbước chập chững nhất Như vậy khoảng cách của việc hoàn thiện dần cácnghiệp vụ sẽ trở nên dài hơn, và liệu rằng đến bao giờ rủi ro phát hành sẽđược khắc phục, đến bao giờ thị trường chứng khoán mới được coi là hoànthiện ?

Từ thực tế trên đòi hỏi chúng ta cần có cái nhìn đúng đắn sâu sắc hơn

về hoạt động bảo lãnh phát hành ở Việt Nam - một nghiệp vụ đòi hỏi sự

Trang 4

sáng tạo rất lớn Do vậy, em đã chọn đề tài " Giải pháp mở rộng và phát

triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam " làm khoá luận của mình.

2.Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài " Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh pháthành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam " nghiên cứumột cách chung nhất về lý luận của hoạt động bảo lãnh phát hành chứngkhoán , đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành chứngkhoán, những tồn tại, nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằmgóp phần mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoántrên thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là: nghiệp vụ bảo lãnh phát hànhchứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan trựctiếp đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng của các công ty chứng khoántại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứukhoa học để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn như: phương pháp sosánh, phương pháp duy vật biện chứng…

5 Kết cấu của đề tài

Chương I : Lý luận chung về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán Chương II: Thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán

của các công ty chứng khoán tại Việt Nam Chương III: Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh

phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam.

Trang 5

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH PHÁT HÀNH

CHỨNG KHOÁN

1.1 Những vấn đề cơ bản về phát hành chứng khoán

1.1.1 Khái niệm phát hành chứng khoán

Phát hành chứng khoán là một trong những cách thức để huy độngnguồn vốn trung và dài hạn của các pháp nhân trong nền kinh tế Theo đó chủthể phát hành thực hiện bán các chứng khoán trên thị trường sơ cấp cho cácnhà đầu tư bên trong hoặc bên ngoài pháp nhân đó để có nguồn tài chính thựchiện tạo lập doanh nghiệp hoặc tăng vốn mở rộng sản xuất kinh doanh

1.1.2.Phân loại phát hành chứng khoán

 Căn cứ vào đợt phát hành:Căn Căn cứ vào đợt phát hành:cứ Căn cứ vào đợt phát hành:vào Căn cứ vào đợt phát hành:đợt Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành:

* Phát hành chứng khoán lần đầu (IPO): Là việc phát hành trong đó cổ

phiếu của công ty lần đầu được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư để trởthành công ty đại chúng

Phát hành lần đầu cổ phiếu mới ra công chúng để tăng vốn của công tyđược gọi là IPO sơ cấp

Trường hợp công ty không tăng vốn mà chỉ bán một phần hoặc toàn bộvốn ra công chúng (như trường hợp cổ phần hoá một phần vốn của Nhà nướchoặc tư nhân hoá toàn bộ công ty) được gọi là IPO thứ cấp

* Phát hành các đợt tiếp theo (chào bán sơ cấp): Là đợt phát hành cổ phiếu

bổ sung của công ty đại chúng cho công chúng đầu tư Việc phát hành đượcdiễn ra ở các công ty, các tổ chức kinh tế….đã có chứng khoán phát hành vàđược giao dịch trên thị trường thứ cấp

Trường hợp phát hành trái phiếu ra công chúng, việc phát hành phải đượcthực hiện bằng một hình thức duy nhất đó là chào bán sơ cấp

Trang 6

 Căn cứ vào đợt phát hành:Căn Căn cứ vào đợt phát hành:cứ Căn cứ vào đợt phát hành:vào Căn cứ vào đợt phát hành:đối Căn cứ vào đợt phát hành:tượng Căn cứ vào đợt phát hành:mua Căn cứ vào đợt phát hành:bán Căn cứ vào đợt phát hành:chứng Căn cứ vào đợt phát hành:khoán

* Phát hành riêng lẻ: Là hình thức phát hành chứng khoán mà theo đó

chứng khoán được bán toàn bộ hoặc bán thẳngcho các tổ chức đầu tư hoặcmột số cá nhân bên ngoài

Phát hành chứng khoán riêng lẻ chủ yếu tập trung vào các cá nhân và tổchức có quan hệ gần gũi với doanh nghiệp như: cổ đông sáng lập, người laođộng trong công ty, các định chế tài chính, các đối tác chiến lược… Hìnhthức phát hành này giúp doanh nghiệp huy động vốn một cách nhanh chóng

mà vẫn không gây ảnh hưởng lớn tới sự biến động giá chứng khoán

Phát hành chứng khoán riêng lẻ thường áp dụng trong trường hợp:

• Tổ chức phát hành không cần phải đáp ứng yêu cầu về vốn tối thiểu ban đầu

khi phát hành

• Không quy định về tỷ lệ % vốn cổ phần do công chúng nắm giữ và số lượng

công chúng tham gia

• Tổ chức phát hành có phương án khả thi về việc sử dụng nguồn vốn thu

được

nào

• Thoả mãn các yêu cầu khác tuỳ thuộc từng đợt phát hành cụ thể.

* Phát hành ra công chúng: Là việc phát hành trong đó chứng khoán được

bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư nhất định(trong

đó phải dành một tỷ lệ nhất định cho nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hànhphải đạt một mức nhất định

Phát hành ra công chúng phải thoả mãn một số điều kiện sau:

chứng khoán tổi thiểu theo quy định cụ thể của từng nước

Trang 7

Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi.

• Có tình hình tài chính lành mạnh.

• Tổ chức phát hành có phương án phát hành cụ thể và có phương án khả thi

về việc sử dụng vốn từ đợt phát hành được Đại hội đồng cổ đông thông qua

 Căn cứ vào đợt phát hành:Theo Căn cứ vào đợt phát hành:phương Căn cứ vào đợt phát hành:pháp Căn cứ vào đợt phát hành:định Căn cứ vào đợt phát hành:giá Căn cứ vào đợt phát hành:chứng Căn cứ vào đợt phát hành:khoán:

* Phát hành chứng khoán với giá cố định: Là phương pháp phát hành mà

chứng khoán được bán trực tiếp theo một giá cố định với nhà đầu tư hoặc giántiếp thông qua bảo lãnh

* Phát hành thông qua phương pháp đấu giá: Là phương pháp phát hành

mà người phát hành hay người bảo lãnh phát hành sẽ ấn định giá tối thiểu và

tổ chức bán chứng khoán theo nguyên tắc ưu tiên về giá trên cơ sở các đơnđặt hàng Có hai hình thức đấu thầu : theo kiểu Mỹ và Hà Lan

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:Theo Căn cứ vào đợt phát hành:phương Căn cứ vào đợt phát hành:thức Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành:

* Phát hành trực tiếp (tự phát hành): Là phương thức phát hành mà tổ chức

phát hành tự mình bán chứng khoán ra công chúng Cách phát hành này đòihỏi nhà phát hành phải am hiểu thị trường, có hệ thống bán khá ổn định, nhucầu bán không cấp bách

* Phát hành gián tiếp (bảo lãnh phát hành): Là phương thức phát hành mà

tổ chức phát hành nhờ một tổ chức trung gian (Ngân hàng hay công ty chứngkhoán….) đứng ra thực hiện việc phát hành chứng khoán

1.2 Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh phát hành chứng khoán

1.2.1 Khái niệm về bảo lãnh phát hành chứng khoán

Theo quan điểm của các nước: bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổchức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bánchứng khoán, tổ chức phân phối chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán giaiđoạn đầu sau khi phát hành Như vậy, nội dung chính của nghiệp vụ bảo lãnh

Trang 8

phát hành chứng khoán là tư vấn trước khi phát hành, phân phối chứng khoán vàbình ổn giá chứng khoán

Tổ chức phát hành chứng khoán là tổ chức thực hiện phát hành chứng khoán

ra công chúng

Tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán là công ty chứng khoán được phéphoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và Ngân hàng thương mại được Uỷban chứng khoán nhà nước chấp thuận bảo lãnh phát hành Trái phiếu theo điềukiện do Bộ Tài Chính quy định

1.2.2 Các hình thức bảo lãnh phát hành chứng khoán

Bảo lãnh với cam kết chắc chắn

Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoáncam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán trong một đợt phát hành của tổ chứcphát hành chứng khoán theo một giá thương lượng, sau đó bán lại ra công chúngvới một giá cao hơn để hưởng hoa hồng chiết khấu cho dù tổ chức bảo lãnh cóphân phối được hết số chứng khoán hay không Như vậy, với phương thức bảolãnh này thì tổ chức phát hành chắc chắn thu được lượng vốn cần huy độngnhưng phải chấp nhận rủi ro về giá khi ký kết hợp đồng bảo lãnh phát hành Còn

tổ chức bảo lãnh phát hành phải chịu mọi rủi ro xảy ra trong quá trình phát hành

Vì vậy, phương thức bảo lãnh này thường được áp dụng với tổ chức phát hành

có uy tín lớn và phí bảo lãnh thường cao hơn các phương thức khác

 Bảo lãnh với cố gắng cao nhất

Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoáncam kết sẽ cố gắng đến mức tối đa trong việc bán chứng khoán phát hành ra thịtrường Trong trường hợp không bán hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành Nhưvậy, bản chất của phương pháp này là tổ chức bảo lãnh làm đại lý phân phối cho

tổ chức phát hành Thông thường, phương thức này được áp dụng với các doanhnghiêp mới thành lập chưa có uy tín trên thị trường Mặt khác, đây là một

Trang 9

phương thức nhận bán ít mạo hiểm hơn so với phương thức trên do đó hoa hồngphí mà tổ chức bảo lãnh thu được thấp.

 Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không

Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát hành chứng khoán yêu cầu tổchức bảo lãnh phát hành chứng khoán bán hết toàn bộ số chứng khoán Nếukhông bán được hết thì sẽ huỷ bỏ đợt phát hành, trong trường hợp này số vốnhuy động được do đã bán hết một phần số chứng khoán của đợt phát hành đượchoàn trả lại cho người mua

Theo định nghĩa trên thì so với phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất,phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không có điểm khác biệt rất lớn đó là nó đòihỏi toàn bộ số chứng khoán phát hành phải được bán hết thì đợt phát hành mớiđược coi là thành công Chính vì vậy mà phương thức bảo lãnh này được sửdụng khi công ty muốn huy động một lượng vốn tối thiểu nào đó để đáp ứng nhucầu kinh doanh mà công ty không thể sử dụng một lượng vốn ít hơn thế

Bảo lãnh tối thiểu

Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát hành chứng khoán yêu cầu tổchức bảo lãnh phát hành chứng khoán bán tối thiểu một tỷ lệ nhất định chứngkhoán phát hành Nếu lượng chứng khoán bán được đạt thấp hơn tỷ lệ yêu cầuthì toàn bộ đợt phát hành này bị huỷ bỏ Như vậy, có thể nói phương thức bảolãnh này là phương thức bão lãnh trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cốgắng tối đa và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không

 Bảo lãnh theo phương thức dự phòng

Đây là phương thức bảo lãnh được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hànhthêm cổ phiếu Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các

cổ đông hiện hữu, và như vậy công ty chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổđông trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài Trong trường hợp có một số

cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty, công ty cần có một tổchức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện

Trang 10

và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra bên ngoài công chúng Nóicách khác, bảo lãnh dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết sẽ muanốt số chứng khoán còn lại chưa phân phối hết của tổ chức phát hành chứngkhoán và bán lại ra công chúng Ở những nước đang phát triển, tổ chức bảo lãnhphát hành chứng khoán còn non trẻ và tiềm năng tài chính còn hạn chế thìphương thức bảo lãnh dự phòng khá phổ biến.

1.2.3.Các chủ thể tham gia bảo lãnh phát hành chứng khoán

Hoạt động phát hành chứng khoán đòi hỏi có sự tham gia của rất nhiềuchủ thể bao gồm: Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành (có thể là một

tổ chức bảo lãnh hoặc một tổ hợp bảo lãnh bao gồm nhiều tổ chức cùng thựchiện bảo lãnh trong đó có một tổ chức bảo lãnh chính), các đại lý phân phối,công chúng (nhà đầu tư) Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ quan

tâm tới chủ thể đó là tổ chức bảo lãnh phát hành.

Tổ chức bảo lãnh phát hành (người bảo lãnh)

Sau khi tư vấn phát hành cho tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh pháthành chứng khoán sẽ là người mua toàn bộ hoặc một phần chứng khoán của tổchức phát hành nhằm đưa số chứng khoán đó chào bán ra công chúng đầu tưhoặc ký hợp đồng với tổ chức phát hành để mua số chứng khoán còn lại chưabán hết nếu không có ai đăng ký mua thêm hoặc có thể tham gia trực tiếp hoặcgián tiếp vào đợt phát hành Ở các quốc gia khác nhau thì tổ chức thực hiện bảolãnh cũng có thể khác nhau nhưng thường là các tổ chức kinh doanh chứngkhoán (các CTCK), các ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại và các tổ chức

có tiềm lực tài chính mạnh Tổ chức bảo lãnh có vai trò quan trọng trong việcgiúp tổ chức phát hành bán chứng khoán để huy động vốn nhanh chóng, hiệuquả Tham gia vào quy trình bảo lãnh, tổ chức bảo lãnh có nhiều tư cách khácnhau: là thành viên tổ hợp bảo lãnh, là nhà bảo lãnh phát hành chính hoặc đóngvai trò là đại lý phân phối chứng khoán

Trang 11

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:Các tổ chức bảo lãnh sẽ lập ra tổ hợp bảo lãnh phát hành khi khối lượng

vốn cần huy động của tổ chức phát hành quá lớn mà một tổ chứ bảo lãnh không

đủ nguồn tài chính để thực hiện hoặc hạn chế theo quy định

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:* Căn cứ vào đợt phát hành:Tổ Căn cứ vào đợt phát hành:chức Căn cứ vào đợt phát hành:bảo Căn cứ vào đợt phát hành:lãnh Căn cứ vào đợt phát hành:chính

Là người đại diện cho tổ chức bảo lãnh đứng ra ký kết hợp đồng bảo lãnh với tổchức phát hành Thẩm quyền của tổ chức bảo lãnh chính được quy định tronghợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh tham gia đợt phát hành Thông thường, tổchức bảo lãnh chính có quyền:

• Lựa chọn và chỉ đạo các thành viên trong tổ hợp bảo lãnh, giữ chức năng "ghi

sổ" cho toàn bộ tổ hợp

tiếp xúc với tổ chức hành, tổ chức bảo lãnh chính theo dõi, phân tích tình hìnhkinh doanh và những điều kiện của tổ chức phát hành từ đó đánh giá tính khả thicủa việc thực hiện hợp đồng bảo lãnh và đi tới quyết định về việc có ký kết hợpđồng bảo lãnh hay không

• Phân phối và phân bổ số chứng khoán phát hành cho từng thành viên, quy định

phần giữ lại cho mỗi thành viên trong tổ hợp

• Thay mặt tổ hợp bảo lãnh trong các cuộc đàm phán, ký kết, bảo vệ và duy trì

lợi ích của cả tổ hợp

phát hành

• Tư vấn cho tổ chức phát hành về số lượng, chủng loại chứng khoán phát hành

và định giá doanh nghiệp phát hành

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:* Căn cứ vào đợt phát hành:Thành Căn cứ vào đợt phát hành:viên Căn cứ vào đợt phát hành:của Căn cứ vào đợt phát hành:tổ Căn cứ vào đợt phát hành:hợp Căn cứ vào đợt phát hành:bảo Căn cứ vào đợt phát hành:lãnh

Có trách nhiệm cam kết với tổ chức bảo lãnh chính trong việc bán chứng khoán

ra công chúng Đối với phương thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn thì cácthành viên trong tổ hợp phải làm giấy cam kết bán hết số chứng khoán mà họ đãnhận trong tổng số phát hành với tổ chức bảo lãnh chính Ngoài ra, các thành

Trang 12

viên của tổ hợp bảo lãnh còn phải ký vào một bản thoả thuận tham gia vào tổhợp bảo lãnh trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng thành viên, và việc phânchia lợi nhuận của tổ hợp.

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:* Nhóm Căn cứ vào đợt phát hành:bán Căn cứ vào đợt phát hành:(đại Căn cứ vào đợt phát hành:lý Căn cứ vào đợt phát hành:phân Căn cứ vào đợt phát hành:phối)

Là tổ chức mua lại chứng khoán từ tổ chức bảo lãnh chính hoặc các thành viêncủa tổ hợp bảo lãnh và thực hiện bán cho công chúng đầu tư tại cùng một mứcgiá trong cùng một khoảng thời gian Thông thường, đại lý phân phối là cáccông ty chứng khoán được mời tham gia phân phối chứng khoán Đại lý chứngkhoán không phải là người bảo lãnh phát hành do vậy họ không phải chịu rủi ronếu đợt phát hành không thành công, họ chỉ thực hiện khâu phân phối chứngkhoán ra công chúng đầu tư do đó khoản hoa hồng phí mà họ nhận được từ đợtphát hành không nhiều như tổ chức bảo lãnh Cần lưu ý một điểm rằng: Một tổchức bảo lãnh vẫn có thể đóng vai trò của một đại lý phân phối khi nó mua cácchứng khoán từ các tổ chức bảo lãnh khác hoặc các đại lý không phân phối hết

và thực hiện bán lại ra công chúng hoặc giữ lại cho chính tổ chức bảo lãnh đó

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động phát hành

Trang 13

1.2.4 Quy trình bảo lãnh phát hành chứng khoán

Giai đoạn 1: Tiếp xúc khách hàng, thoả thuận xúc tiến BLPH

* Khách hàng đặt yêu cầu bảo lãnh.

* Lựa chọn khách hàng có đủ tiêu chuẩn để xem xét xúc tiến bảo lãnh

theo quy trình hiện hành

• Hình thức sở hữu của tổ chức phát hành- nhằm xác định xem đơn vị có đượcphép phát hành chứng khoán hay không Nếu được thì được phép phát hànhchứng khoán nào?

• Xác định các mối quan hệ với tổ chức phát hành

• Hình thức phát hành và loại chứng khoán dự kiến phát hành

* Tiếp xúc để tìm hiểu khách hàng.

• Tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại

• Chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh

• Mục đích phát hành, quy mô phát hành dự kiến và kế hoạch sử dụng vốnhuy động

* Ký kết hợp đồng tư vấn phân tích tài chính và xúc tiến bảo lãnh pháthành

Tiếp xúc khách hàng, thoả thuận

xúc tiến BLPH

Phân tích, đánh giá doanhnghiệp và tư vấn tài chính

Lập hồ sơ và xin phép bảo lãnh

Phân phối chứng khoán và kết

thúc

Trang 14

* Thể thức, nội dung hợp đồng và giới hạn trách nhiệm về mặt pháp lý.

* Kinh phí và mức kinh phí tư vấn

* Yêu cầu cung cấp thông tin và hồ sơ tài liệu cần thiết nhằm đáp ứngyêu cầu phân tích, đánh giá doanh nghiệp

Giai đoạn 2: Phân tích, đánh giá doanh nghiệp và tư vấn tài chính

a) Phân tích và đánh giá doanh nghiệp

* Đánh giá chung về doanh nghiệp phát hành.

• Đánh giá về doanh nghiệp

• Đánh giá về sản phẩm

• Đánh giá về công nghệ sản xuất

• Đánh giá về vị trí địa lý

• Đánh giá về nguồn cung ứng

• Đánh giá về nguồn nhân lực

* Phân tích tài chính doanh nghiệp:

• Tình hình huy động và sử dụng vốn

• Xem xét khả năng thanh toán

• Xem xét năng lực hoạt động của tài sản

• Xem xét khả năng sinh lời

* Phân tích dự án sử dụng nguồn vốn huy động.

• Phân tích đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư qua việc phân tích đánh giácho thấy sự đúng đắn trong định hướng đầu tư và sự phù hợp trong việc lựachọn hình thức đầu tư, tính thực tiễn trong các giải pháp kỹ thuật….bằng việctính toán tỷ suất sinh lời, điểm hoà vốn, NPV, IRR, thời gian hoàn vốn và tínhtoán độ nhạy của dự án

• Đánh giá tính thực tiễn của dự án về lĩnh vực đầu tư, quy mô đầu tư cũngnhư các yếu tố ảnh hưởng, những yếu tố đảm bảo dự án

• Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả tài chính của dự án bằng phươngpháp : chiết khấu và thời gian thu hồi vốn

Trang 15

b) Tư vấn bảo lãnh

Sau khi nghiên cứu những nội dung trên, các nhà bảo lãnh thường ký kết với

tổ chức phát hành một hợp đồng tư vấn tài chính Với tổ chức bảo lãnh thì đây

là một bước quan trọng để đi tới quyết định có thực hiện bảo lãnh hay không.Tiếp theo việc thẩm định và xem xét các tài liệu liên quan tới đợt phát hành,

tổ chức bảo lãnh thường tư vấn về một số nội dung chủ yếu, trực tiếp quyếtđịnh đến sự thành công của đợt phát hành Đó là:

* Căn cứ vào đợt phát hành:Tư Căn cứ vào đợt phát hành:vấn Căn cứ vào đợt phát hành:tái Căn cứ vào đợt phát hành:đầu Căn cứ vào đợt phát hành:tư

Trên cơ sở những thông tin tìm hiểu được về tổ chức phát hành, tổ chứcbảo lãnh sẽ đưa ra những tư vấn cần thiết về việc tái cơ cấu lại công ty

Trường hợp công ty là một doanh nghiệp nhà nước đang trong tiến trình

cổ phần hoá thì việc phát hành chứng khoán sẽ có ảnh hưởng như thế nào tớihoạt động của công ty, quá trình cổ phần hoá sẽ diễn ra theo trình tự như thếnào?

Trường hợp công ty là công ty nhỏ muốn huy động nguồn vốn lớn nhưngkhả năng không cho phép thì việc sát nhập hay hợp nhất với một công ty khác

sẽ giúp việc huy động vốn thông qua hoạt động phát hành chứng khoán trởnên dễ dàng hơn…Như vậy, tổ chức bảo lãnh chính là người tư vấn cho tổchức phát hành những khúc mắc trên Trong nền kinh tế thị trường như hiệnnay, việc chuyển đổi hình thức công ty diễn ra thường xuyên và việc tìm một

tổ chức bảo lãnh phát hành để tư vấn tái đầu tư cơ cấu là hết sức cần thiết chonhững bước chuẩn bị tiếp theo để có thể phát hành chứng khoán ra côngchúng

* Căn cứ vào đợt phát hành:Tư Căn cứ vào đợt phát hành:vấn Căn cứ vào đợt phát hành:về Căn cứ vào đợt phát hành:loại Căn cứ vào đợt phát hành:chứng Căn cứ vào đợt phát hành:khoán Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành

Trước khi thực hiện việc tư vấn về loại chứng khoán mà tổ chức pháthành sẽ phát hành thì tổ chức bảo lãnh cần tìm hiểu những loại chứng khoánnào mà tổ chức phát hành được phép phát hành

Trang 16

Đối với loại hình công ty cổ phần thì công ty được phép phát hành cả cổphiếu và trái phiếu, còn với công ty trách nhiệm hữu hạn thì chỉ được pháthành trái phiếu Như vậy, việc tư vấn về loại chứng khoán phát hành chỉ diễn

ra đối với công ty cổ phần còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì tổchức bảo lãnh sẽ tư vấn cho họ nên phát hành loại trái phiếu nào với mệnhgiá, lãi suất và thời hạn là bao lâu để đợt phát hành mang lại hiệu quả cao, chiphí thấp nhất Do đó, tổ chức bảo lãnh phát hành phải tiến hành tìm hiểu cơcấu vốn của công ty thông qua các báo cáo tài chính và xem xét nguồn vốncần huy động cho hoạt động đầu tư cần sử dụng trong thời gian bao lâu, xemxét tình hình quản trị và uy tín của công ty như thế nào để từ đó liên hệ vớinhững ưu nhược điểm của từng chứng khoán mà đưa ra những quyết định tưvấn thích hợp

* Căn cứ vào đợt phát hành:Tư Căn cứ vào đợt phát hành:vấn Căn cứ vào đợt phát hành:về Căn cứ vào đợt phát hành:thời Căn cứ vào đợt phát hành:điểm Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành Căn cứ vào đợt phát hành:chứng Căn cứ vào đợt phát hành:khoán

Là việc tổ chức bảo lãnh phát hành tư vấn cho tổ chức phát hành thờiđiểm nào nên phát hành chứng khoán thì có lợi nhất và thích hợp nhất Điềunày rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chi phí phát hành, khối lượng vốn cóthể huy động và cả uy tín của tổ chức phát hành…

Thời điểm phát hành cổ phiếu, trái phiếu thích hợp nhất đối với tổ chứcphát hành là lúc tổ chức phát hành đang nổi tiếng( sản phẩm được ưu chuộng,thị phần lớn, lợi nhuận cao….), giá bán chứng khoán sẽ có lợi có thể cao hơnrất nhiều so với mệnh giá, chi phí phát hành sẽ thấp vì tổ chức bảo lãnh sẽ dễdàng chấp nhận với những điều kiện thuận lợi cho tổ chức phát hành Bêncạnh đó, một yếu tố có ảnh hưởng tới giá phát hành không thể không kể tới làmức độ sôi động của thị trường chứng khoán.Nếu thị trường chứng khoántrầm lắng, số lượng nhà đầu tư ít thì rủi ro về giá là rất lớn.Trong trường hợpnày, tổ chức phát hành có thể không bán được chứng khoán hoặc bán rất ítkhiến đợt phát hành bị thất bại Hoặc khi thị trường biến động lớn về giáchứng khoán thì nhà đầu tư có xu hướng mua trái phiếu nhiều hơn cổ phiếu

Trang 17

Điều này khiến cho việc phát hành cổ phiếu là không có lợi Ngược lại, khi thịtrường chứng khoán đang náo nhiệt và hấp dẫn, giá cổ phiếu bắt đầu tăng thìđây là thời điểm phát hành chứng khoán thích hợp nhất.

* Căn cứ vào đợt phát hành:Tư Căn cứ vào đợt phát hành:vấn Căn cứ vào đợt phát hành:về Căn cứ vào đợt phát hành:giá Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành Căn cứ vào đợt phát hành:chứng Căn cứ vào đợt phát hành:khoán

Khâu xác định giá phát hành chứng khoán là khâu quan trọng và khó khănnhất đối với tổ chức phát hành Giá chứng khoán liên quan trực tiếp đếnquyền lợi của tổ chức phát hành, nhà đầu tư cũng như các bên có liên quanđến đợt phát hành đồng thời nó cũng đảm bảo cho sự thành công của tổ chứcphát hành Có rất nhiều phương pháp để xác định giá chứng khoán phát hànhnhưng việc xác định giá chứng khoán lại phụ thuộc vào tình hình cụ thể củatừng công ty, môi trường pháp lý và kinh tế của từng nước, và có sự khácnhau theo tính chất của đợt phát hành (định giá cho chứng khoán đã giao dịchtrên thị trường thứ cấp khác với định giá cho chứng khoán mới phát hành lầnđầu) Cụ thể :

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:+ Căn cứ vào đợt phát hành:Đối Căn cứ vào đợt phát hành:với cổ phiếu của công ty đã được giao dịch trên thị trường thứ cấp:

Giá cổ phiếu phát hành thêm được xác định rất đơn giản vì đã có sẵn giá củaloại chứng khoán đó trên thị trường thứ cấp.Việc xác định giá cổ phiếu sắpphát hành dựa vào giá giao dịch trên thị trường của cổ phiếu đó trước thờiđiểm phát hành mới Thông thường giá phát hành được xác định dựa trên cơ

sở giá đóng cửa của ngày hôm trước hoặc giá thị trường bình quân của một sốngày trước ngày phát hành

+ Căn cứ vào đợt phát hành:Đối với cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng :

Trên thực tế, có nhiều phương pháp để xác định giá chứng khoán phát hànhlần đầu ra công chúng Một số phương pháp hiện nay :

• Phương pháp định giá cổ phiếu theo luồng cổ tức

Là phương pháp mà giá cổ phiếu được tính bằng tổng giá trị hiện tại của cáckhoản cổ tức nhận được trong tương lai và giá trị hiện tại của cổ phiếu tại thờiđiểm bán sau này Cụ thể:

Trang 18

Giá cổ phiếu =

Tổng giá trị hiện tại của các khoản cổ tức trong tương lai

+

Giá trị hiện tại của cổ phiếu tại thời điểm bán

sau này

Trong trường hợp cổ phiếu được người đầu tư nắm giữ vô hạn thì các khoản

cổ tức nhận được sẽ tiến tới vô cùng Khi đó giá trị hiện tại của vốn gốc sẽtiến tới 0 Như vậy :

Giá CP = Tổng giá trị hiện tại của các khoản cổ tức nhận được

trong tương lai

Là phương pháp dựa trên một nguyên lý cơ bản là giá trị doanh nghiệp đượcxác định bằng các luồng thu nhập mà doanh nghiệp nhận được trong tương laiquy về hiện tại bằng cách chiết khấu chúng với một mức lãi suất chiết khấuphù hợp với mức độ rủi ro của doanh nghiệp đó Hai thông số cơ bản trongphương pháp này cần được xác định là luồng thu nhập mà công ty nhận đượctrong tương lai và mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó

Giá CP = P/E * thu nhập ròng trên một cổ phiếu

Theo phương pháp này, người ta xác định giá chứng khoán dựa vào giá trị P/

E được công bố đối với loại cổ phiếu có cùng mức độ rủi ro với cổ phiếuchuẩn bị được phát hành, sau đó lấy giá trị này nhân với thu nhập ròng trênmột cổ phiếu của tổ chức phát hành cổ phiếu đó để tìm ra giá cổ phiếu pháthành

• Phương pháp xác định giá cổ phiếu theo giá trị tài sản

Đây là phương pháp mà giá trị cổ phiếu được xác định dựa trên giá trị tài sảnthực có của doanh nghiệp theo giá trị thị trường chứ không phải giá trị ghi sổtrên sổ sách Tuy nhiên khi định giá cổ phiếu theo phương pháp này cần có sựđiều chỉnh thêm giá trị lợi thế hoặc khả năng sinh lời của tổ chức phát hành

Trang 19

cho phù hợp Như vậy, thực chất phương pháp này là sự kết hợp của tất cả cácphương pháp trên.

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:+ Đối với Trái phiếu

Trái phiếu là chứng khoán nợ nên có những đặc điểm khác mà cổ phiếukhông có như: lãi suất, thời gian đáo hạn, phương thức trả lãi Việc xác địnhgiá Trái phiếu tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng loại trái phiếu pháthành Thông thường, khi phát hành trái phiếu ngưòi ta quan tâm tới việc xácđịnh lãi suất trái phiếu phát hành và đây là yếu tố quan trọng nhất để xác địnhgiá bán

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:Trái phiếu chính phủ

Là loại trái phiếu có rủi ro thấp nhất Lãi suất trái phiếu chính phủ là mức lãisuất chuẩn cho các loại lãi suất khác trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Lãisuất trái phiếu chính phủ thường được xác định thông qua bảo lãnh phát hànhhoặc đấu thầu giữa các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tàì chính Các

tổ chức này thực hiện đấu thầu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủxong sẽ bán lại cho công chúng hoặc nắm giữ coi như phần đầu tư của mình.Giá bán trái phiếu chính phủ có thể cao hơn, thấp hơn hoặc bằng mệnh giá tuỳthuộc vào phương thức trả lãi (trả sau, trả trước hoặc trả định kỳ)

Trái phiếu công ty

Khi phát hành trái phiếu công ty, lãi suất được xác định trên cơ sở lãi suất tráiphiếu chính phủ có kỳ hạn tương đương và mức độ tín nhiệm của công ty là

sự nhận xét của một tổ chức định mức tín nhiệm về độ rủi ro của loại tráiphiếu được phát hành Trái phiếu có mức độ tín nhiệm cao đưa lại một hìnhảnh đẹp về tổ chức phát hành, đây là nền tảng thuận lợi cho việc xác định giátrái phiếu phát hành Các tổ chức định mức tín nhiệm sẽ quyết định một địnhmức tín nhiệm cho một công ty sau khi đã phân tích các nhân tố định lượng

và định tính bao gồm phân tích ngành, về hoạt động kinh doanh và phân tích

Trang 20

tình hình tài chính sau đó sẽ xếp loại từ định mức cao nhất đến định mức thấpnhất.

Giai đoạn 3: Lập hồ sơ và xin phép phát hành

Sau khi chấp nhận bảo lãnh phát hành, tổ chức bảo lãnh sẽ liên hệ với công ty

tư vấn và các tổ chức đại lý phân phối để thiết lập tổ hợp bảo lãnh nếu cần Tổchức bảo lãnh phải ký cam kết bảo lãnh với tổ chức phát hành Trường hợpbảo lãnh phát hành theo tổ hợp thì cam kết bảo lãnh phát hành phải được kýgiữa tổ chức bảo lãnh chính và tổ chức phát hành Việc lập, chuẩn bị hồ sơxin phép phát hành cùng được thực hiện và họ phải chịu trách nhiệm mộtphần về tính trung thực của hồ sơ Sau khi hoàn thành việc chuẩn bị hồ sơ, tổchức bảo lãnh chuyển hồ sơ xin phép phát hành cho công ty tư vấn luận đểxem xét khía cạnh pháp lý liên quan tới đợt phát hành đó Đồng thời các bênliên quan đến đợt phát hành như tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh pháthành, công ty tư vấn cũng tiến hành họp để phân định trách nhiệm lần cuối.Trong cuộc họp này các bên phải rà soát lại các bước đã thực hiện đồng thờixác định rõ trách nhiệm của mỗi bên tham gia Các bên sẽ ký vào biên bảncuộc họp (đây là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề kiện tụng phát sinhsau này nếu có) Sau khi kết thúc cuộc họp nói trên, tổ chức bảo lãnh hoànchỉnh hồ sơ xin phép phát hành lần cuối cùng và nộp lên Uỷ ban chứngkhoán UBCKNN chấp nhận hồ sơ và định giá phát hành chính thức

Giai đoạn 4: Giai đoạn phân phối và kết thúc

* Tổ chức thực hiện việc thông báo phát hành theo quy định của pháp luật

sau khi được UBCKNN chấp thuận hồ sơ xin phép phát hành

* Làm thủ tục báo cáo phát hành lên UBCKNN.

• Bản cáo bạch tóm tắt

• Thông báo phát hành

• Các tài liệu khác theo yêu cầu.

* Làm thủ tục đăng ký và đặt cọc mua chứng khoán với các nhà đầu tư

Trang 21

* Tổng hợp đăng ký và thông báo kết quả đặt mua chứng khoán đến các

nhà đầu tư

* Thực hiện việc phân phối chứng khoán theo đăng ký

* Báo cáo kết quả của đợt phát hành lên UBCKNN và thực hiện các quy

định của UBCKNN về hoạt động sau phát hành

1.2.5 Vai trò của nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:Vai Căn cứ vào đợt phát hành:trò Căn cứ vào đợt phát hành:với Căn cứ vào đợt phát hành:thị Căn cứ vào đợt phát hành:trường Căn cứ vào đợt phát hành:sơ Căn cứ vào đợt phát hành:cấp Căn cứ vào đợt phát hành:và Căn cứ vào đợt phát hành:thứ Căn cứ vào đợt phát hành:cấp:

* Với thị trường sơ cấp:

Việc công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành với mộtquy trình chặt chẽ bao gồm sự kết hợp nhiều kỹ năng từ nghiên cứu tài chínhcông ty, nghiên cứu thị trường, tư vấn cho khách hàng chào bán chứng khoánđến bình ổn giá chứng khoán đã giúp cho quá trình gia tăng hàng hoá trên thịtrường sơ cấp diễn ra nhanh hơn và giảm thiểu rủi ro rất nhiều cho chủ thểphát hành cũng như quyền lợi của người đầu tư chứng khoán được bảo vệ tốthơn

* Với thị trường thứ cấp :

Các công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trên thịtrường thứ cấp thông qua việc bình ổn giá chứng khoán sau khi phát hành vàtạo tính thanh khoản cho các chứng khoán Điều này thúc đẩy sự phát triểncủa thị trường thứ cấp, giúp thị trường thứ cấp hoạt động sôi động hơn

 Vai Căn cứ vào đợt phát hành:trò Căn cứ vào đợt phát hành:đối Căn cứ vào đợt phát hành:với Căn cứ vào đợt phát hành:nền Căn cứ vào đợt phát hành:kinh Căn cứ vào đợt phát hành:tế Căn cứ vào đợt phát hành:quốc Căn cứ vào đợt phát hành:dân:

Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp huy động vốn nhanh chóng

và hiệu quả phục vụ công cuộc đầu tư, phát triển kinh tế đồng thời tạo ra cơhội đầu tư cho những người có nguồn tích kiệm nhàn rỗi góp phần thúc đẩyquá trình lưu thông tiền tệ diễn ra nhanh chóng hơn Hơn nữa với việc cungcấp các dịch vụ tư vấn tài chính chuyên nghiệp, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

đã làm tăng tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trườngkinh doanh minh bạch, công khai hoá thông tin, hỗ trợ thị trường tài chính

Trang 22

phát triển đẩy nhanh quá trình hội nhập với thị trường tài chính khu vực vàthế giới.

 Căn cứ vào đợt phát hành:Vai Căn cứ vào đợt phát hành:trò Căn cứ vào đợt phát hành:đối Căn cứ vào đợt phát hành:với Căn cứ vào đợt phát hành:tổ Căn cứ vào đợt phát hành:chức Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành:

* Với doanh nghiệp:

Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành rất quan trọng trong việc hướng dẫn và hỗ trợdoanh nghiệp tiếp cận với các phương pháp quản lý khoa học, nâng cao hiệuquả quản lý tài chính, cung cấp các dịch vụ, giải pháp tổng thể đảm bảo cho

sự phát triển của hoạt động kinh doanh, phát huy các ưu thế cạnh tranh vàthích ứng được với sự biến động của môi trường kinh doanh Bảo lãnh pháthành còn là một yếu tố đảm bảo cho sự thành công của đợt phát hành chứngkhoán nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của tổ chức phát hành với chi phí hợp lý

và giảm thiểu rủi ro

* Với chính phủ :

Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ đã thu hút được nguồn vốnnhàn rỗi từ dân chúng nhằm bù đắp những thiếu hụt tạm thời của ngân sáchNhà nước và nhu cầu chi tiêu của Chính phủ Tuy nhiên, để đạt được mục tiêucủa việc phát hành thì kế hoạch phát hành phải được xây dựng một cách khoahọc và cụ thể, dựa trên chiến lược tổng thể về kinh tế - xã hội và mục tiêu củachính sách tiền tệ quốc gia Hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu giúpchính phủ xây dựng được dự toán Ngân sách trong từng thời kỳ trên cơ sở đóđưa ra kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ cùng với việc kết hợp vớichính sách tiền tệ, chính sách tài khoá trong quản lý và điều hành thị trườngtrái phiếu đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển xã hội Thông thường, để bảolãnh phát hành trái phiếu Chính phủ phải cần tới một tổ hợp bảo lãnh vì khốilượng vốn huy động là rất lớn Tổ hợp bảo lãnh sẽ tiến hành phân phối sốlượng trái phiếu Chính phủ trên cơ sở đã được ấn định trước về số lượng, lãisuất, thời hạn Theo đó, Chính phủ có thể kiểm soát được số lượng, lãi suất,

kỳ hạn trái phiếu

Trang 23

 Vai Căn cứ vào đợt phát hành:trò Căn cứ vào đợt phát hành:đối Căn cứ vào đợt phát hành:với Căn cứ vào đợt phát hành:nhà Căn cứ vào đợt phát hành:đầu Căn cứ vào đợt phát hành:tư:

Thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán, nhà đầu tư có được sựphân tích và những thông tin cần thiết về tổ chức phát hành như: tình hình tàichính, ưu điểm và nhược điểm của cơ cấu tổ chức cũng như các thông tinkhác có liên quan tới sự biến động giá chứng khoán Hơn nữa, nhà đầu tư cònbiết được môi trường kinh doanh hiện tại của tổ chức phát hành, cơ chế quản

lý của Nhà nước đối với hoạt động chứng khoán nói chung và hoạt động bảolãnh phát hành nói riêng, biết được các chuẩn mực quốc tế và sự thay đổi củachúng trong lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán, tiền tệ nhằm giúp nhà đầu

tư có được những thông tin tổng thể và toàn diện khi tham gia vào thị trườngchứng khoán

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán

1.3.1 Nhân tố khách quan

 Căn cứ vào đợt phát hành:Môi Căn cứ vào đợt phát hành:trường Căn cứ vào đợt phát hành:kinh Căn cứ vào đợt phát hành:tế Căn cứ vào đợt phát hành:vĩ Căn cứ vào đợt phát hành:mô

Là nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động của thị trườngchứng khoán nói chung và nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán nóiriêng Cụ thể :

* Tốc độ tăng trưởng kinh tế : Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn

định thì kích thích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nhu cầu vốn lớn, nhucầu huy động vốn tăng nhanh Phương án huy động vốn bằng cách phát hànhchứng khoán sẽ được sử dụng nhiều hơn và nghiệp vụ bảo lãnh cũng vì thế cóthể được phát triển

* Tỷ lệ lạm phát : Tỷ lệ lạm phát làm sói mòn thu nhập thực tế của nhà đầu

tư Điều này có tác động không nhỏ tới mức độ tham gia của các nhà đầu tưcũng như hoạt động của các công ty chứng khoán nói chung và nghiệp vụ bảolãnh nói riêng

* Tỷ lệ thất nghiệp: Tỷ lệ thất nghiệp vừa phải thể hiện nền kinh tế đang

Trang 24

trong trạng thái toàn dụng nhân lực Tại tỷ lệ thất nghiệp này, số lượng cácchủ thể trong nền kinh tế tham gia , tiếp cận với thị trường chứng khoán là lớnnhất Như vậy, có thể nói với một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải thì thị trườngchứng khoán và nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán có điều kiện pháttriển.

* Lãi suất: Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một khoảng

thời gian nhất định mà người sử dụng vốn trả cho người sử hữu nó Hoạt độngđầu tư trên thị trường chứng khoán có phản ứng rất nhạy cảm với sự biếnđộng lãi suất trên thị trường Khi lãi suất trên thị trường tăng, người dân sẽgửi tiền vào ngân hàng thay vì tham gia hoạt động đầu tư chứng khoán rủi ro.Đây là nguyên nhân kìm hãm hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoánnói chung và hoạt động bảo lãnh phát hành nói riêng

* Tình trạng của cán cân Ngân sách nhà nước : Trong trường hợp Ngân

sách

thâm hụt buộc Chính phủ phải tìm cách bù đắp như : phát hành trái phiếu, vaytrong và ngoài nước….Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm ảnh hưởng tới lãisuất thị trường và cản trở tới hoạt động đầu tư trong nền kinh tế, từ đó ảnhhưởng tới hoạt động của CTCK và nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

 Căn cứ vào đợt phát hành:Khuôn Căn cứ vào đợt phát hành:khổ Căn cứ vào đợt phát hành:pháp Căn cứ vào đợt phát hành:lý

Để thị trường chứng khoán có thể phát triển ổn định, lành mạnh và hiệu quảthì việc tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ, thông thoáng là một vấn đề cầnthiết Hành lang pháp lý này là cơ sở điều chỉnh hoạt động của các chủ thểtham gia trên thị trường chứng khoán, đảm bảo quyền và lợi ích cũng nhưnghĩa vụ mà nhà đầu tư và các tổ chức trung gian phải thực hiện Điều nàygóp phần gia tăng nguồn vốn huy động cho nền kinh tế thông qua phát hànhchứng khoán

Trang 25

 Căn cứ vào đợt phát hành:Nhu Căn cứ vào đợt phát hành:cầu Căn cứ vào đợt phát hành:của Căn cứ vào đợt phát hành:các Căn cứ vào đợt phát hành:doanh Căn cứ vào đợt phát hành:nghiệp Căn cứ vào đợt phát hành:và Căn cứ vào đợt phát hành:Chính Căn cứ vào đợt phát hành:phủ Căn cứ vào đợt phát hành:đối Căn cứ vào đợt phát hành:với Căn cứ vào đợt phát hành:hoạt Căn cứ vào đợt phát hành:động Căn cứ vào đợt phát hành:bảo

lãnh Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành Căn cứ vào đợt phát hành:chứng Căn cứ vào đợt phát hành:khoán Căn cứ vào đợt phát hành:

Có thể nói đây chính là điều kiện về nhu cầu của nền kinh tế đối với hoạtđộng bảo lãnh phát hành chứng khoán Trong điều kiện nền kinh tế thị trường,các nhà cung cấp muốn tồn tại thì phải đáp ứng kịp thời nhu cầu của thịtrường Có cầu tất có cung Và đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu đượcnếu muốn cho nghiệp vụ này tồn tại và phát triển

 Căn cứ vào đợt phát hành:Mức Căn cứ vào đợt phát hành:phí Căn cứ vào đợt phát hành:cho Căn cứ vào đợt phát hành:tổ Căn cứ vào đợt phát hành:chức Căn cứ vào đợt phát hành:bảo Căn cứ vào đợt phát hành:lãnh:

Một mức phí hợp lý đủ bù đắp cho việc chịu rủi ro của tổ chức bảo lãnh vàđem lại doanh thu cao sẽ khuyến khích tổ chức bảo lãnh tập trung để pháttriển nghiệp vụ này

1.3.2 Nhân tố chủ quan

 Căn cứ vào đợt phát hành:Quy Căn cứ vào đợt phát hành:trình Căn cứ vào đợt phát hành:nghiệp Căn cứ vào đợt phát hành:vụ Căn cứ vào đợt phát hành:bảo Căn cứ vào đợt phát hành:lãnh Căn cứ vào đợt phát hành:phát Căn cứ vào đợt phát hành:hành

Để đảm bảo cho một đợt bảo lãnh phát hành chứng khoán thành công thì việcxây dựng và triển khai một quy trình bảo lãnh phát hành chuẩn và phù hợpvới tình hình thị trường cũng như điều kiện cụ thể của mỗi tổ chức bảo lãnh

là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của công ty chứngkhoán Có thể nói rằng mỗi bước trong quy trình bảo lãnh đều có vai trò và ýnghĩa riêng được thực hiện theo một trình tự nhất định Với việc tuân thủnghiêm ngặc quy trình này giúp tổ chức bảo lãnh có thể đánh giá được tổchức phát hành, quy mô, khối lượng, thời điểm phát hành cũng như khảnăng thành công trong việc phân phối chứng khoán Như vậy, đây là nhân tốquan trọng có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất tới nghiệp vụ bảo lãnh pháthành chứng khoán

 Căn cứ vào đợt phát hành:Khả Căn cứ vào đợt phát hành:năng Căn cứ vào đợt phát hành:tài Căn cứ vào đợt phát hành:chính Căn cứ vào đợt phát hành:

Đây là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến quy mô bảo lãnh phát hành chứngkhoán Tổ chức bảo lãnh luôn thường trực phải gánh chịu một mức rủi ro cao

Trang 26

nên để thực hiện nghiệp vụ này đòi hỏi một mức vốn khá lớn Thực tế mộtCTCK có sức mạnh về vốn sẽ để lại sự an tâm cho tổ chức phát hành Vì vậy,hạn chế về khả năng tài chính có thể dẫn đến trở ngại cho sự phát triển củahoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.

 Căn cứ vào đợt phát hành:Điều Căn cứ vào đợt phát hành:kiện Căn cứ vào đợt phát hành:kỹ Căn cứ vào đợt phát hành:thuật Căn cứ vào đợt phát hành:và Căn cứ vào đợt phát hành:trình Căn cứ vào đợt phát hành:độ Căn cứ vào đợt phát hành:nhân Căn cứ vào đợt phát hành:sự

Để đợt phát hành chứng khoán có thể được triển khai và thành công đòi hỏi tổchức bảo lãnh phải có sự thăm dò thị trường, tìm hiểu về nhu cầu và cách thứcđáp ứng tốt nhất nhu cầu của tổ chức phát hành Đồng thời phải phân tích,đánh giá tình hình tài chính của tổ chức phát hành, phải xây dựng được hệthống phân phối chứng khoán Tất cả những đòi hỏi trên đều được giải quyếtthông qua những điều kiện về kỹ thuật và trình độ nhân viên của tổ chức bảolãnh Khả năng thành công của đợt phát hành sẽ cao hơn nếu nhân viên tổchức bảo lãnh giỏi về chuyên môn, giàu kinh nghiệm, nhiệt tình với công việc

và có đạo đức nghề nghiệp tốt cùng với những trang thiết bị hiện đại nhằmthu thập thông tin, phục vụ phân tích tài chính doanh nghiệp

1.4 Kinh nghiệm một số nước về bảo lãnh phát hành chứng khoán

1.4.1 Kinh nghiệm bảo lãnh phát hành chứng khoán ở Trung Quốc

Mấy năm gần đây, TTCK Trung Quốc được biết tới là một trong nhữngthị trường có tốc độ phát triển nhanh Mức vốn hoá của TTCK cao hơn cảGDP của nước này (năm 2007, mức vốn hoá của TTCK là 21147 nghìn tỷNDT tương đương 2800 tỷ USD) Một nét tiêu biểu là các đợt IPO các doanhnghiệp lớn đã được thực hiện hết sức thành công, một phần là do hành langpháp khá hoàn thiện, và một phần là bởi tính chuyên nghiệp trong hoạt động

tư vấn, bảo lãnh do công ty chứng khoán đảm nhiệm Hoạt động phát hành vàbảo lãnh phát hành chứng khoán được điều chỉnh bởi Luật chứng khoán nướcCộng hoà nhân dân Trung Hoa ra ngày 29/12/1998, trong đó quy định rõ:

Trang 27

Công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành chứng khoán ra công chúngphải tuân thủ các quy định của pháp luật và quy định hiện hành Nghiệp vụbảo lãnh phát hành chứng khoán bao gồm 2 phương thức: Đại lý và bao tiêu.

Đại lý chứng khoán là phương thức bảo lãnh mà công ty chứng khoánphân phối chứng khoán thay tổ chức phát hành chứng khoán, khi kết thúc đợtbảo lãnh, các công ty chứng khoán chưa bán hết được trả lại toàn bộ cho tổchức phát hành

Bao tiêu chứng khoán là phương thức bảo lãnh mà công ty chứng khoáncăn cứ theo hợp động mua toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành, hoặckhi đợt bảo lãnh kết thúc sẽ tự mua vào toàn bộ số chứng khoán còn lại saukhi bán

CTCK nhận bảo lãnh phải kiểm tra tính chân thực của bản thông báophát hành Sau khi đảm bảo tính chân thực, hoàn chỉnh của nó các tổ chức bảolãnh nộp hồ sơ của tổ chức phát hành lên Uỷ ban giám quản Trung Quốc(CSRC) và CSRC xem xét, nếu thiếu thì sẽ đề nghị bổ sung Sau khi hồ sơđầy đủ, vụ quản lý phát hành thẩm định hồ sơ theo quy trình :

• Xem xét có phù hợp với Luật công ty hay không, đánh giá năng lực lợi

nhuận của công ty trong tương lai, số vốn góp của các sáng lập viên, thànhviên Hội đồng quản trị có hợp pháp hay khôn, công ty có hoạt động độc lậphay không, trong 3 năm gần đây nhất công ty có phát triển so với các công tykhác trong cùng ngành nghề không, kế hoạch trong tương lai?

• Vụ phát hành của CSRC thẩm định (về mặt pháp lý, quy chế công bố thông

tin) sau đó gửi Hội đồng Chấp thuận phát hành để xem xét chất lượng củacông ty trên cơ sở các tiêu chí đã được ban hành Sau khi Hội đồng chấpthuận, CSRC sẽ chấp thuận cho công ty phát hành chứng khoán

Trang 28

Tổng giá trị theo mệnh giá của chứng khoán phát hành ra công chúngnếu vượt quá 50 triệu CNY phải do tổ hợp bảo lãnh phát hành bảo lãnh Tổhợp bảo lãnh phát hành bao gồm tổ chức bảo lãnh chính và các tổ chứcđồng bảo lãnh.

Giá phát hành do tổ chức phát hành cùng công ty chứng khoán nhận bảolãnh thoả thuận xác định và báo cáo lên CSRC xét duyệt Việc xác định giáphát hành được thực hiện bằng cách biểu quyết bỏ phiếu để đưa ra giá pháthành chính thức Việc mua bán chứng khoán được thực hiện qua mạng hoặcqua các tổ chức tài chính trung gian

1.4.2 Kinh nghiệm bảo lãnh phát hành chứng khoán ở Mỹ.

Hiện nay, TTCK Mỹ đạt mức vốn hoá là 17,99 nghìn tỷ USD, gấp 1000lần TTCK Việt Nam, tương đương với 132% GDP của nước này

Ở Mỹ phần lớn việc phát hành chứng khoán ra công chúng đều đượcthực hiện thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành là các CTCK và Ngân hàngđầu tư Từ năm 1999, có thêm cả các tổ chức tài chính, tín dụng, các công tybảo hiểm tham gia vào lĩnh vực bảo lãnh phát hành chứng khoán

Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán ở Mỹ giống như một hìnhthức bảo hiểm Trong một đợt chào bán được bảo lãnh, các tổ chức bảo lãnhmua lại chứng khoán từ các tổ chức phát với mức giá họ đặt ra rồi trừ đi %phí bảo lãnh nhất định Như vậy, với việc chấp nhận bảo lãnh thì tổ chức bảolãnh phát hành chứng khoán phải chịu rủi ro là có thể không bán được hếttoàn bộ số chứng khoán phát hành với mức giá ban đầu buộc các tổ chức bảolãnh phải bán theo giá thị trường và có thể bị thua lỗ Ngoài ra, hoạt động bảolãnh ở Mỹ còn có thể tiến hành thông qua tổ hợp bảo lãnh Trong một đợtchào bán chứng khoán có tổ hợp bảo lãnh tham gia thì tổ hợp này sẽ muachứng khoán từ tổ chức phát hành và chào bán lại cho nhà đầu tư Nhà bảo

Trang 29

lãnh chính sẽ lựa chọn những CTCK nào có khả năng tiếp thị, chào bán đểthành lập một tổ hợp bảo lãnh Việc thành lập tổ hợp bảo lãnh sẽ san sẻ rủi ro

và giúp phân phối chứng khoán được thuận lợi hơn

Bước đầu tiên trong quy trình bảo lãnh phát hành chứng khoán ở Mỹ là

tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh có những thỏa thuận thống nhất banđầu và kết thúc sau 25 ngày kể từ đợt chào bán chính thức được phép tiếnhành đối với chứng khoán được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặcthị trường phi tập trung Nếu là chứng khoán không đủ khả năng niêm yết thìđợt chào bán thường kết thúc sau 90 ngày kể từ khi chứng khoán chính thứcđược chào bán

Việc chào bán chứng khoán được thực hiện theo trình tự: Lập hồ sơphát hành, đăng ký với Uỷ ban giao dịch chứng khoán (SEC), SEC đưa ranhững ý kiến sửa đổi đăng ký, chuẩn bị bản cáo bạch sơ bộ, tiến hành quảngcáo về đợt chào bán, tiến hành nghiên cứu về công ty, thoả thuận giá cả, kýkết hợp đồng bảo lãnh và kết thúc

Luật chứng khoán Mỹ 1933 có quy định tổ chức bảo lãnh phát hành sẽtiến hành nghiên cứu về tổ chức phát hành và chuẩn bị hồ sơ đăng ký với Uỷban chứng khoán Tham gia vào quy trình bảo lãnh còn có cả tổ chức kiểmtoán và tư vấn pháp luật Tổ chức bảo lãnh phải chuẩn bị: hợp đồng bảo lãnhphát hành, hồ sơ pháp lý, số liệu tình hình tài chính của tổ chức phát hành đểcông bố cho công chúng biết tại văn phòng của SEC Hồ sơ đăng ký chỉ đượccoi là có hiệu lực khi SEC không còn bất kỳ sửa đổi nào và ngày nộp hồ sơđược tính kể từ ngày đó

Trong thời gian chờ đợi sự chấp thuận về việc phát hành chứng khoán,

tổ chức bảo lãnh lập tổ hợp bảo lãnh (nếu có), in ấn và phát hành bản cáobạch sơ bộ, lựa chọn đại lý chuyển nhượng và sở giao dịch niêm yết, tổ chức

Trang 30

quảng cáo cho đợt phát hành Đồng thời tổ chức bảo lãnh phát hành bàn bạcvới các bên có liên quan về chào bán chứng khoán, nghiên cứu các vấn đề liênquan tới điều lệ công ty….để có thể hạn chế rủi ro cho đợt phát hành.

Để đi tới thoả thuận và quyết định cuối cùng về khối lượng và giáchứng khoán phát hành phải căn cứ vào tình hình chung của thị trường, tìnhhình tài chính của tổ chức phát hành, giá chứng khoán khác cùng ngành, giá

dự kiến Khi hồ sơ đăng ký phát hành có hiệu lực thì tổ chức bảo lãnh ký hợpđồng bảo lãnh và chứng khoán được bán ra ngoài

1.4.3 Bài học kinh nghiệm

Như vậy, có thể thấy việc bảo lãnh phát hành ở Mỹ đạt được nhiềuthành công chính là nhờ sự tham gia tích cực của những định chế tài chínhchuyên nghiệp: NHTM, CTCK , Tổ chức bảo hiểm, Công ty đầu tư Các tổchức này sẽ mua trực tiếp toàn bộ số chứng khoán từ tổ chức phát hành, sau

đó bán lại cho các nhà đầu tư khác trên thị trường thứ cấp Để có thể gánh váchết rủi ro, các định chế tài chính trung gian này sẽ phải cố gắng hết sức xácđịnh một mức giá chào bán chính xác và phù hợp để sao vừa có lãi mà vẫnđược nhà đầu tư chấp nhận

Còn với Trung Quốc, một nhân tố quyết định tới thành công của bảolãnh chính là việc quy định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức pháthành chứng khoán và tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán

Đây chính là những bài học quý báu mà các CTCK ở Việt Nam cầnxem xét học tập: cần phải tư vấn cẩn thận ngay từ khâu đầu tiên và tuân thủđúng quy định, trong đó khâu định giá chứng khoán đòi hỏi các CTCK phảilựa chọn biện pháp tính giá phù hợp nhất, chính xác nhất với tình hình của tổchức phát hành, phải căn cứ trên giá trị của bản thân doanh nghiệp chứ khôngtính toán qua loa, đại khái, chạy theo xu hướng giá thị trường

Trang 31

Kết luận chương I

Trong chương này, đề tài tập trung nghiên cứu vào những vấn đề mangtính chất khái quát nhất về hoạt động phát hành và bảo lãnh phát hành chứngkhoán, cùng kinh nghiệm của một số nước trong lĩnh vực này Nội dung chínhcủa chương này đề cập tới một số vấn đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, cáchình thức bảo lãnh phát hành chứng khoán cũng như vai trò của bảo lãnh pháthành chứng khoán, quy trình thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán…

Trên nền tảng lý luận đó, chúng ta có thể nhận định được chính xácthực trạng bảo lãnh phát hành chứng khoán ở Việt nam, đánh giá khách quan

và đầy đủ những gì là ưu và khuyết điểm của nghiệp vụ này, để từ đó đề xuấtnhững biện pháp phù hợp giúp nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoáncủa các CTCK ở Việt Nam ngày càng phát triển và hoàn thiện

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CỦA

CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng phát hành chứng khoán tại Việt Nam

Như chúng ta đã biết, thị trường chứng khoán là môi trường tác độngtrực tiếp đến hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp, cũngnhư hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của các TCBL phát hành.Một thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và sôi động sẽ kích thích

sự huy động vốn của các doanh nghiệp thông qua việc phát hành chứngkhoán Tuy nhiên thực tế trong thời gian qua, hình thức vay vốn qua hệthống ngân hàng vẫn là kênh huy động vốn quen thuộc của hầu hết cácdoanh nghiệp cổ phần Như vậy, muốn để các doanh nghiệp coi phát hànhchứng khoán là kênh huy động vốn chính thì sự ra đời của thị trường chứngkhoán chưa thể là đủ, mà quan trọng là cơ chế hoạt động, chủ thể trên thịtrường đó đã hoàn thiện hay chưa?

Trong 2 năm trở lại đây, thị trường chứng khoán Việt Nam đã cónhững bước phát triển đáng ghi nhận:

• Số chứng khoán niêm yết trên toàn thị trường tăng qua các năm: năm

2006 có 193; năm 2007 có 249

55, năm 2007 có 74 và quý II/2008 có 87 công ty chứng khoán

• Giá trị vốn hóa của thị trường cũng tăng: năm 2005 là 2% GDP; 2006 là

22,6% GDP; 2007 là 43%GDP

Tuy nhiên thực tế thì thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn tồn tạirất nhiều hạn chế như: số nhà đầu tư chứng khoán chỉ chiếm 0.4% tổng sốdân; trong đó nhà đầu tư cá nhân chiếm tới 70%; số lượng công ty niêm yết

Trang 33

so với số doanh nghiệp cổ phần hoá chiếm tỷ lệ còn khiêm tốn; sự hoạtđộng của các tổ chức tạo lập thị trường còn khá đơn điệu … Tất cả nhữnghạn chế trên đều góp phần làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam đãhình thành nhưng chưa thể hoàn thiện được.

Nếu con người là chủ thể không thể thiếu trên thị trường thì hàng hoátrên thị trường cũng vậy Hiện nay, hàng hoá trên thị trường chứng khoáncủa ta mới có cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và một số chứngkhoán phái sinh như quyền mua, quyền cấp Tuy nhiên đề tài liên quan tớibảo lãnh phát hành vì vậy ta chỉ xét tới 2 thị trường chính là : trị trường cổphiếu và thị trường trái phiếu

2.1.1 Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu tuy đã xuất hiện từ lâu do những lợi ích mà tráiphiếu đem lại nhưng xét về sự sôi động trong giao dịch thì không thể như

là sự giao dịch của cổ phiếu

Thị trường trái phiếu của ta cũng khá khả quan với hơn 600 tráiphiếu bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đô thị, trái phiếu công ty vàtrái phiếu Ngân hàng, trong đó trái phiếu Chính phủ chiếm đến tới 89%.Cuối năm 2007, tổng số trái phiếu niêm yết trên thị trường là 570 loại, vớitổng giá trị là hơn 114,809 tỷ đồng tăng gấp 104 lần so với 2000, tuy nhiênmức vốn hoá của thị trường trái phiếu vẫn chỉ khoảng 10% GDP

Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành: Căn cứ vào đợt phát hành:- Căn cứ vào đợt phát hành:Trái Căn cứ vào đợt phát hành:phiếu Căn cứ vào đợt phát hành:Chính Căn cứ vào đợt phát hành:phủ

Từ 2003 đến nay, qua hệ thống kho bạc Nhà Nước đã có 4 đợt phát hànhvới tổng giá trị là 33750 tỷ VNĐ Giá trị trái phiếu phát hành qua hình thứcđấu giá trên thị trường giao dịch chứng khoán cũng tăng dần qua các năm:

9197 tỷ ( 2006); 12000 tỷ (2007), trong quý đầu 2008: 5000 tỷ Đáng chú

ý, sau khi quyết định số 2276/2006/QĐ- BTC (6/2006) được ban hành quyđịnh tập trung đấu thầu trái phiếu Chính phủ quy về một mối là HASTC thìtính riêng trái phiếu Chính phủ do kho bạc Nhà nước phát hành thông qua

Trang 34

30 phiên đấu thầu tại HASTC đã huy động được 12.695 tỷ đồng choNSNN Trước và sau khi có quyết định này, số trái phiếu đưa vào niêm yết

đã tăng từ 12 mã lên 148 mã, với giá trị niêm yết 56.321 tỷ

 Căn cứ vào đợt phát hành:Trái Căn cứ vào đợt phát hành:phiếu Căn cứ vào đợt phát hành:đô Căn cứ vào đợt phát hành:thị Căn cứ vào đợt phát hành:

Hiện nay, thị trường trái phiếu đô thị chưa thật sự phát triển Trước hết là

về số lượng, mới gần 60 loại trái phiếu được niêm yết Tiếp sau là về phạm

vi phát hành, chỉ mới được triển khai ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và thànhphố HCM, trong đó chiếm phần lớn là trái phiếu đô thị thành phố HCM.Trong năm 2006 và 2007, thành phố HCM đã hoàn thành kế hoạch pháthành trái phiếu đô thị thông qua phương thức bảo lãnh và đấu thầu với khốilượng là 2000 tỷ đồng mỗi năm

 Căn cứ vào đợt phát hành:Trái Căn cứ vào đợt phát hành:phiếu Căn cứ vào đợt phát hành:doanh Căn cứ vào đợt phát hành:nghiệp:

Có thể nói, trái phiếu doanh nghiệp chỉ thực sự khởi sắc từ năm 2006 khi

có Nghị định 52/CP về việc cho phép các doanh nghiệp phát hành theohình thức riêng lẻ Hàng loạt các doanh nghiệp phát hành trái phiếu với quy

mô lớn đưa tổng giá trị phát hành trái phiếu 2006 lên đến 7000 tỷ đồng như: Lilama, Nam Triều, CII, Vincom, Vinaconex, Vilexim, tổng Công tythép…Và xu hướng này tiếp tục gia tăng trong năm 2007, chỉ riêng 7 thángđầu năm giá trị trái phiếu phát hành đã bằng cả năm 2006

Bảng 1 : Số doanh nghiệp phát hành trái phiếu và giá trị trái phiếu

Ngày đăng: 15/12/2012, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động phát hành  chứng khoán - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Sơ đồ th ể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động phát hành chứng khoán (Trang 12)
Bảng 1 : Số doanh nghiệp phát hành trái phiếu và giá trị trái phiếu  qua các năm - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 1 Số doanh nghiệp phát hành trái phiếu và giá trị trái phiếu qua các năm (Trang 34)
Bảng 2 : Số lượng công ty cổ phần phát hành cổ phiếu ra công chúng và  giá trị phát hành qua các năm - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 2 Số lượng công ty cổ phần phát hành cổ phiếu ra công chúng và giá trị phát hành qua các năm (Trang 35)
Bảng 5: Giá trị bảo lãnh phát hành và huy động vốn trên TTCK  qua các năm - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 5 Giá trị bảo lãnh phát hành và huy động vốn trên TTCK qua các năm (Trang 41)
Bảng 7 : Thị phần bảo lãnh của các CTCK qua các năm - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 7 Thị phần bảo lãnh của các CTCK qua các năm (Trang 42)
Bảng 6 : Tỷ trọng doanh thu bảo lãnh trên tổng doanh thu của các CTCK - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 6 Tỷ trọng doanh thu bảo lãnh trên tổng doanh thu của các CTCK (Trang 42)
Bảng 9 : Một số đợt bảo lãnh phát hành tiêu biểu qua các năm - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 9 Một số đợt bảo lãnh phát hành tiêu biểu qua các năm (Trang 44)
Bảng 10 : Vốn điều lệ của một số CTCK - Giải pháp mở rộng và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Bảng 10 Vốn điều lệ của một số CTCK (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w