1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

78 497 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 633,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Giải pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Lời mở đầu 1

Chương 1: Các vấn đề cơ bản về cầu trên thị trường 5

chứng khoán 5

1.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán 5

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm thị trường chứng khoán 5

1.1.2 Vai trò của TTCK 6

1.1.3.Các chủ thể trên TTCK 9

1.1.3.1.Người phát hành chứng khoán 9

1.1.3.2.Người đầu tư chứng khoán 9

1.1.3.3.Tổ chức trung gian trên TTCK 10

1.1.3.4 Tổ chức quản lý và giám sát TTCK 11

1.2 Các vấn đề về cầu trên TTCK 12

1.2.1 Khái niệm về cầu trên TTCK 12

1.2.2.Vai trò của cầu đối với TTCK 13

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu trên thị trường chứng khoán 14

1.3 Chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán 18

1.3.1Khái niệm về chính sách kích cầu trên TTCK 18

1.3.2.Các công cụ kích cầu trên thị trường chứng khóan 18

Chương 2 : Thực trạng cầu trên thị trên thị trường 22

chứng khoán Việt Nam 22

2.1 Khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam 22

2.1.1 Thị trường trái phiếu 22

2.1.1.1 Trái phiếu Chính phủ 23

2.1.1.2 Trái phiếu công ty 24

2.1.2 Thị trường cổ phiếu 26

Trang 2

2.1.1.1 Cổ phiếu niêm yết 26

2.1.2.2 Cổ phiếu chưa niêm yết 29

2.2 Thực trạng cầu và chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam 29

2.2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư chứng khoán 29

2.2.2 Thực trạng chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam 34

2.3.Đánh giá thực trạng cầu và chính sách kích cầu trên TTCK Việt Nam.42 2.3.1.Những kết quả đạt được 42

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 46

2.3.2.1.Hạn chế: 46

Chương 3:Giải pháp kích cầu cho thị trường chứng khoán 55

Việt Nam 55

3.1 Vai trò của việc phát triển thị trường chứng khoán trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước 55

3.2 Định hướng chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam: 57

3.2.1.Định hướng phát triển thị trường chứng khoán: 57

3.2.2.Quan điểm về kích cầu cho thị trường chứng khoán Việt Nam: 59

3.2.2.1 Giải pháp chung 59

3.2.2.1.1.Những giải pháp về mặt chính sách: 59

3.2.2.1.2 Những giải pháp về mặt tài chính: 63

3.2.2.1.3 Những giải pháp về phổ cập giáo dục 64

3.2.2.2 Giải pháp đối với từng đối đượng đầu tư: 66

3.2.2.2.1.Nhà đầu tư nước ngoài: 66

3.2.2.2.2.Nhà đầu tư trong nước: 71

Kết luận 75

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 3

đổ vào khoảng 4 tỉ USD.Bên cạnh đó, sau bảy năm hoạt động,thị trườngchứng khoán Việt Nam cũng đã trải qua những thăng trầm,có lúc tưởng nhưkhông còn cách nào cứu vãn.Những tháng đầu năm 2008,thị trường Việt Namthất thường, trong đó xu hướng giảm là chủ đạo, tình trạng bán giá sàn nhưngrất ít người mua xảy ra thường xuyên VN-Index tính đến ngày 23/4 chỉ còn523,25 điểm, giảm 40,8% so với mức thấp nhất trong năm 2007 Nếu so vớimức cao nhất thì giảm 73,2%, so với mức trung bình thì giảm 55% Tìnhtrạng "người người thua lỗ" đã biến TTCK từ một kênh đầu tư hấp dẫn trởthành “canh bài thất bại” đối với không ít nhà đầu tư.Trước tình hình trên,nhận thấy sự cấp bách trong việc cân đối lại cung-cầu trên thị trường chứngkhoán,chuyên đề xin được đề cập đến những bất cập , khó khăn chính trên thịtrường hiện nay, đồng thời đưa ra những hướng giải quyết nhằm kích thíchcầu cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

2.Cấu trúc chuyên đề:

Chuyên đề gồm ba chương chính như sau:

Chương1:Các vấn đề cơ bản về cầu trên thị trường chứng khoán

Chương 2: Thực trạng cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 4

Chương 3:Giải pháp kích cầu cho thị trường chứng khoán Việt Nam

Việc đánh giá và đưa hướng giải quyết của chuyên đề có thể còn thiếusót và mang tính chủ quan do thiếu việc thực hành quan sát trên góc độ là mộtnhà đầu tư,do vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô.Đồng thời

em xin gửi lời cảm ơn thầy giáo Đàm Văn Huệ đã tận tình giúp đỡ em hoànthành chuyên đề,cảm ơn cơ sở thực tập – Công ty chứng khoán Thăng Long-

Hà Nội đã tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề này

Trang 5

Chương 1: Các vấn đề cơ bản về cầu trên thị trường

chứng khoán

1.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm thị trường chứng khoán

Khái niệm

Hiện nay tồn tại rất nhiều các quan niệm khác nhau về thị trường chứngkhoán(TTCK) Mỗi quan niệm đều thể hiện một góc độ khác nhau của thịtrường chứng khoán

Quan điểm thứ nhất cho rằng : TTCK cũng chính là thị trường vốn, chỉ

là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm:thị trường tư bản Nếu xét vềmặt nội dung thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ bản chất bên trong củaquá trình mua bán chứng khoán, trong đó thị trường TTCK là biểu hiện bênngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể Như vậy thị trường chứng vốn và thịtrường chứng khoán phản ánh các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của thịtrường tư bản

Quan điểm thứ hai cho rằng : TTCK đươc đặc trưng bởi thị trường vốnchứ không đồng nhất là một Theo quan điểm này, TTCK chỉ giao dich cáccông cụ tài chính chung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và tráiphiêu công ty Các công cụ tài chính ngắn hạn trên thị trường tiền tệ khôngthuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán

Quan điểm thứ ba cho rằng : TTCK là thị trường cổ phiếu hay là nơimua bán các phiếu cổ phần được các công ty phát hành để huy động vốn.Theo quan điểm này, TTCK đươc đặc trưng bởi thị trường mua bán các công

cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu

Trang 6

Các quan điểm trên nhìn chung khác nhau vì dựa trên những cơ sở thựctiễn và trong những điều kiện lịch sử nhất định.

Chuyên đề sẽ đưa ra quan niệm đầy đủ, khái quát phù hợp với sự pháttriển chung của thị trường chứng khoán hiện nay, được trình bày trong giáotrình”Thị trường chứng khoán – phân tích cơ bản của nhà xuất bản đại họckinh tế quốc dân”:

TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán ,trao đổi chứng khoán

Đặc điểm

TTCK không giống với thị trường các hàng hóa thông thường khác vìhàng hóa của TTCK là một loại hàng hóa đặc biệt, là nơi mua bán,trao đổiquyền sở hữu về tư bản Loại hàng hóa này cũng có giá trị và giá trị sử dụngnhưng không cố định mà phụ thuộc vào mối quan hệ giữa cung và cầu củavốn đầu tư Giá cả của CK chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả củavốn đầu tư TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưuthông hàng hóa.Hay nói cách khác,TTCK là thành phần của thị trường tàichính, do vậy TTCK mang đặc điểm của thị tường tài chính:

-Là thị truờng của các công cụ tài chính, trong đó người cung và cầu vốngặp nhau trên thị trường phát hành

-TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo mà ở đó giá cả được hìnhthành trên cơ sở cạnh tranh tự do, dựa trên quan hệ cung-cầu và là sự phảnánh ngay lập tức thông tin liên quan đến chứng khoán

-TTCK là thị trường liên tục.Sau khi được phát hành trên thị trường sơcấp,có thể được mua,bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp, đảm bảo cho nhàđầu tư có thể dịch chuyển vốn đầu tư hay tài sản bất cứ lúc nào

1.1.2 Vai trò của TTCK

Đối với các nước đang phát triển nói chung và với Việt Nam nói riêng,trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát

Trang 7

triển kinh tế với tốc độ hiệu qủa cao Thực tế đã chứng minh và khẳng địnhvai trò quan trọng của TTCK trong phát triển kinh tế:

Thứ nhất, TTCK tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao vì thế có

thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, đẩy nhanh thời hạn của vốn phù hợpvới yêu cầu phát triển kinh tế

Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việcphân phối vốn một cách hiệu quả Thị trường tài chính là nơi tiên phong ápdụng công nghệ mới và nhạy cảm trong môi trường thường xuyên thay đổi.Trên TTCK, tất cả các thông tin được cập nhật và truyền tải tới tất cả các nhàđầu tư, nhờ đó,họ có thể phân tích và định giá cho các CK Vì vậy, chỉ nhữngcông ty có hiệu quả bền vững mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ trên thịtrường

TTCK tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trừờng tài chính, điềunày buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phải quan tâmtới hoạt động của chính họ và giảm chi phí tài chính

Việc huy động vốn trên TTCK có thể làm tăng vốn tự có của các công ty

và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát chặt chẽcủa các ngân hàng thương mại TTCK khuyến khích tính cạnh tranh của cáccông ty trên thị trừơng Sự tồn tại thị trường chứng khoán cũng là yếu tốquyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngòai Đây chính là các yếu tố đảm bảocho sự phân bố có hiệu quả của các nguồn lực trong một quốc gia cũng nhưtrong phạm vi quốc tế

Thứ hai, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông

qua việc buộc các tập đoàn gia đình phát hành chứng khoán ra công chúng,giải tỏa sự tâp trung quyền lực kinh tế của các tập đòan xong vẫn tập trungvốn cho phát triển kinh tế Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội,tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều

Trang 8

nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ Việc giải tỏa tập trungquyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạohiệu qủa và tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý

doanh nghiệp Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, TTCK trở lên phức tạphơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo TTCK tạo điều kiện choviệc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đấy quá trình cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát chặtchẽ của TTCK đã làm giảm tác động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điềukiện kết hơp hài hòa giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lý và những ngườilàm công

Thứ tư, TTCK góp phần hiệu quả cho quá trình quốc tế hóa nền kinh tế.

Việc mở TTCK nhằm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ, tăng cường đầu

tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranhquốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh cho các công ty trong nước

Thứ năm, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài

chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việcthực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ

Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh

doanh trong tương lai Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trướcchu kỳ kinh doanh cho phép Chính phủ cũng như các công ty đánh giá kếhoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ TTCK cũng tạođiều kiện tái cấu trúc nền kinh tế

Ngoài những tác động tích cực trên, TTCK cũng có những tác động tiêu cực: TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo Tuy nhiên ở các thịtrường mới nổi, thông tin đươc truyền tới các nhà đầu tư là không giống

Trang 9

nhau Như vậy các quyết định mua, bán chứng khoán của các nhà đầu tưkhông dựa trên thông tin chính xác, giá cả chứng khoán không phản ánh giátrị kinh tế cơ bản của công ty và không trở thành cơ sở để phân phối hiệu quảcác nguồn lực.

Một số tiêu cực khác của TTCK như hiện tượng đầu cơ, hiện tượng xungđột quyền lực làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc muabán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư Nhiệm vụ củacác nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị trường nhằm đảmbảo cho quyền lợi của nhà đầu tư và tính hiệu quả của thị trường

Như vậy TTCK có những vai trò tích cực và tiêu cực được thể hiện trênnhiều khía cạnh khác nhau Xong những vai trò đó có thực sự được phát huyhay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị trường và sự quản

số tổ chức khác như : các Quỹ đầu tư ; tổ chức tài chính trung gian…

Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể phát hành các chứngkhoán : trái phiếu Chính phủ ; trái phiếu địa phương ; trái phiếu công trình ;trái phiếu kho bạc

Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như tráiphiếu,chứng chỉ hưởng thụ…phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợpvới đặc thù hoạt động theo Luật định

1.1.3.2.Người đầu tư chứng khoán

Chủ thể đầu tư là những người có tiền,thực hiện việc mua và bán

CK trên TTCK

Trang 10

Để tìm kiếm lợi nhuận.Nhà đầu tư có thể chia làm hai đối tượng:Nhà đầu

tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

*Nhà đầu tư cá nhân

Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình,những người có vốnnhàn rỗi tạm thời,tham gia mua bán trên thị trường Ck với mục đích tìm kiếmlợi nhuận.Tuy nhiên, trong đầu tư thì lơi nhuận luôn gắn với rủi ro,kỳ vọngcàng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại.Chính vì vậy các nhà đầu tư cá nhânluôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức

độ chấp nhận rủi ro của mình

*Nhà đầu tư có tô chức

Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư,thường xuyên mua bán

chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường.Một số nhà đầu tư chuyênnghiệp chính trên thị trường là các ngân hàng thương mại,công ty chứngkhoán,công ty đầu tư,quỹ bảo hiểm,quỹ tương hỗ,các quỹ lương hưu và cácquỹ bảo hiểm khác.Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm là có thể

đa dạng hóa các danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởicác chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm

1.1.3.3.Tổ chức trung gian trên TTCK

Các tổ chức trung gian trên TTCK đóng vai trò như cầu nối giữa ngườiđầu tư và người phát hành chứng khoán,giúp cho TTCK hoạt động trôi chảy

và có hiệu quả hơn

* Công ty chứng khoán

Hiện nay,theo Luật định,các doanh nghiệp được phép hoạt động kinhdoanh chứng khoán phải là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổphần.Các công ty này được phép đăng ký thực hiện một , một số hoặc toàn bộcác nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.Tuy nhiên, để tránh xung đột lợi

Trang 11

ích,một số nước trên thé giới tách biệt hoạt động môi giới và tự doanh trongcùng một công ty như Malaysia,Thái lan…

*Ngân hàng thương mại

Để kinh doanh trên TTCK,các NHTM bắt buộc phải lập công ty riêngtrực thuộcngân hàng và hoạch toán độc lập với các hoạt động kinh doanh củangân hàng trên thị trường tiền tệ.Tuy nhiên các ngân hàng vẫn có thể đầu tư

CK với tỷ lệ vốn nhất định hoặc đấu thầu trái phiếu Chính phủ.Ngoài ra,NHTM còn phối hợp với CTCK cho vay đầu tư CK và nhận cầm cố CK

*Công ty quản lý quỹ đầu tư CK

Các quỹ đầu tư CK rất có ý nghĩa trong việc tập hợp những nguồn vốn lẻ

tẻ trong công chúng để đầu tư vào CK.Tuy nhiên,những người quản lý quỹcần phải có được sự tin tưởng và phải có hiểu biết sâu rộng về CK,tàichính,có khả năng kinh doanh CK.Vì vậy, trên thực tế các công ty quản lýquỹ thường là các công ty bảo hiểm,công ty tài chính

*Các tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ

Là các tổ chức nhận lưu giữ các CK và tiến hành các nghiệp vụ thanhtoán bù trừ cho các giao dịch CK.Các NHTM,công ty CK đáp ứng đủ điềukiện của Ủy ban chứng khoán sẽ được thực hiện lưu ký và thanh toán bù trừCK.Hoạt động của các tổ chức này có tính tương hỗ rất quan trọng cho cácgiao dịch trên TTCK

Ngoài ra, các tổ chức liên quan đến TTCK còn có các tổ chức kiểmtoán,hiệp hội các nhà kinh doanh CK , công ty dịch vụ máy tính CK, cônn tyđánh giá hệ số tín nhiệm…

1.1.3.4 Tổ chức quản lý và giám sát TTCK

Các cơ quan quản lý và giám sát TTCK được hình thành dưới nhiềuhình thức khác nhau,có nước do các tổ chức tự quản thành lập,có nước cơquan này trực thuộc Chính phủ hoặc có sự kết hợp giữa cơ quan Nhà nước và

Trang 12

các tổ chức tự quản.Nhưng nhìn chung, cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK

do Chính phủ các nước thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư

và bao đảm cho TTCK hoạt động lành mạnh,an toàn và phát triển bền vững…Tại Việt Nam,từ những kinh nghiệm học tập được ở những nước cóTTCK phát triển,với sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện,hoàn cảnh thựctế,Việt Nam đã thành lập cơ quan quản lý Nhà nước về CK và TTCK trướckhi ra đời TTCK Việt Nam,đó là Ủy ban chứng khoán Nhà nước thành lậptheo Nghị định số 75 CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ.Theo đó,Ủy banchứng khoán Nhà nước là một cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước đối với TTCK Việt Nam

1.2 Các vấn đề về cầu trên TTCK

1.2.1 Khái niệm về cầu trên TTCK

Đặc trưng của CK khác với các loại hàng hóa khác ở mục đích trao đổicủa các nhà đầu tư.Điều này cũng xuất phát từ tính chất đặc biệt của loại hàng

hóa này, đó là có tính thanh khoản,rủi ro và sinh lợi.Ngoài ra, điểm khác

biệt còn thể hiện ở khả năng chuyên nghiệp hóa đầu tư và quy mô đầu tư củacác nhà đầu tư có tổ chức.Nghĩa là,một quyết định mua hay bán CK với sốlượng bao nhiêu,tại mức giá chấp nhận ra sao…không chỉ phụ thuộc vào ýthức nhất thời của cá nhân mà là kết quả của hệ thống các phương pháp phântích tỉ mỉ và cẩn trọng dựa trên cả lý thuyết lẫn thực tế nhằm đưa ra một kếtluận chuẩn xác cà tin cậy nhất

Dựa trên những đặc tính trên của CK,chuyên đề sẽ đưa ra một khái niệmthống nhất về cầu trên TTCK:

”Cầu trên TTCK là nhu cầu sở hữu gắn với khả năng thanh toán đối với những CK trên thị trường”.

Tùy theo nhu cầu và mục đích của các nhà đầu tư mà hoạt động đầu tưtrên thị trường chứng khoán rất đa dạng, bao gồm : Đầu tư hưởng lợi(là hình

Trang 13

thức đầu tư của phần lớn các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường, nắm giữ chứngkhoán nhằm mục đích nhận lợi tức được chia hoặc chênh lệnh giá do bánchứng khoán) ; đầu tư nắm quyền kiểm soát(là hình thức đầu tư của các nhàđầu tư có tổ chức như các tập đoàn kinh tế lớn thâu tóm lẫn nhau, hoăc cácđối tác trong sản xuất và kinh doanh nắm giữ cổ phiếu của nhau nhằm san sẻrủi ro hay các ngân hàng nắm giữ cổ phiếu của khách hàng nhằm hạn chế rủi

ro xảy ra cho đơn vị mình…);và đầu tư ngân quỹ (là hình thức đầu tư của cáccông ty cổ phần mua lại cổ phiếu của chính mình nhằm đảm bảo tính thanhkhoản của cổ phiếu cũng như hưởng thặng dư vốn)

Do đó, riêng đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, rất nhiều các dịch

vụ được mở ra để mang lại hiệu quả phục vụ tốt nhất với các nhà đầu tư, cácloại hình phổ biến gồm có các công ty CK, các quỹ đầu tư và các công ty tưvấn đầu tư Các công ty này bằng khẳ năng phân tích và hiểu biết chuyên môncủa mình có thể cung cấp cho các nhà đầu tư những dịch vụ phân tích đầu tưđáng tin cậy và góp phần thu hút lượng vốn đầu tư trên TTCK

1.2.2.Vai trò của cầu đối với TTCK

*Là nhân tố quyết định trong việc tạo tính thanh khỏan cho chứng khoán.

Điều này xuất phát từ mục đích của những người nắm giữ chứng khoán.Khi nhà đầu tư quyết định mua chứng khoán, họ đã nhìn thấy được khả năngđem lại thu nhập và sự sẵn sàng mua lại của những nhà đầu tư khác, đến lượtmình, những người sở hữu chứng khóan này cũng hi vọng sẽ dễ dàng bán lạichúng trên thị trường…cứ như vậy,giá trị của chứng khoán nhờ đó mà tănglên

*Là nhân tố quyết định mức độ hiệu quả của TTCK

Cũng như quy luật trên tất cả các thị trường hàng hóa khác, TTCK đươchình thành từ ba yếu tố kiên quyết, đó là hàng hóa,những người cung cấp

Trang 14

hàng hóa và những người có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đó Bên cạnh việctìm kiếm và mở rộng nguồn hàng cung cấp cho TTCK, Chính phủ phải cónghĩa vụ đề ra các giải pháp khuyến khích,thu hút sự tham gia của đông đảocác nhà đầu tư Điều này quyết định đến sự tồn tại và phát triển lâu bền củaTTCK.

*Là cơ sở đánh giá giá trị của cổ phiếu thông qua các giao dịch trên thị trường.

Luật cầu chỉ rõ rằng : một loại hàng hóa có nhiều giá trị thị cầu đối vớiloại hàng hóa đó càng lớn Hàng hóa trên TTCK cũng không nằm ngoài quyluật này Xét trong thời điểm ngắn hạn, loại chứng khoán nào đang có nhiềulệnh yêu cầu đặt mua thì điều đầu tiên phải thừa nhận đó là loại chứng khoán

đó đang đáp ứng tốt được đòi hỏi của mọi người Tuy nhiên trong trường hợpthông tin không hoàn hảo hay tâm lý quá nóng vội của nhà đầu tư mà một cổphiếu có thể được đánh giá cao hơn hoăc thấp hơn giá trị thực của nó, nhưngnói chung nhìn vào lượng cầu ,người ta có thể xác định được tiềm năng củamột loại chứng khoán

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu trên thị trường chứng khoán

*Hàng hóa trên TTCK

Cũng như mọi thị trường hàng hóa khác,cầu trên TTCK chịu ảnh hưởngtrực tiếp của cung chứng khoán(CK) Cung hàng hóa ở đây không chỉ đề cậptới số lượng mà còn bao gồm các điều kiện về chất lượng và giá cả thị trường

chứng khoán được định nghĩa là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhựong, xác định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư) ,đồng thời xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp,bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó Vì vậy, khi nhà đầu tư xác định một số vốn

đầu tư vào một loại chứng khoán thì chắc chắn loại chứng khoán đó phải đảmbảo được tính thanh khoản (dễ chuyển nhượng),tính sinh lời(là việc thu lợi

Trang 15

nhuận từ chênh lệnh giá cả hoặc lợi tức) Chỉ có chứng khoán của nhữngdoanh nghiêp, tổ chức đang có hoạt động kinh doanh hiệu quả, không có tiền

lệ vi phạm công bố thông tin hay giao dịch nội gián…mới đủ các điều kiệntrên Hơn nữa, một thị trường chứng khoán với nhiều chủng loại hàng hóa,nhiều sự lựa chọn khác nhau sẽ giúp cho các nhà đầu tư sàng lọc,đa dạng hóanguồn vốn đầu tư của mình từ đó đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn Nhưvậy,vấn đề mẫu chốt trong các giải pháp kích cầu chính là tăng cường sốlượng và chất lượng chứng khoán được niêm yết, để TTCK là sự lựa chọn sốmột của mọi nhà đầu tư

*Yếu tố tâm lý nhà đầu tư

Đối với thị trường CK- một môi trường hoạt động dựa trên thông tinhoàn hảo, cân xứng với sự biến động liên tục về giá cả từng phút,từng giờ thìyếu tố tâm lý nhà đầu tư có tính đặc biệt quan trọng quá trình đầu tư vào thịtrường chứng khoán phải dựa trên những hiểu biết về chuyên môn, nắm bắtthông tin nhanh nhạy và dựa trên cả những nhận định mang tính chất chủquan của nhà đầu tư Ngoài những phương pháp phân tích đầu tư đa dạngnhư phương pháp hiện đại,phương pháp cổ đỉển,hay phân tích cơ bản,phântích kỹ thuật,nhà đầu tư chủ yếu dựa vào kinh nghiệm,óc quan sát và nhữngquyết định nhạy bén của chính bản thân mình Như vậy mỗi quyết định đầu tưhay bán cổ phiếu là sự kết hợp tính logic giữa những con số vô chi với nhữngbài học thưc tiễn trong quá trình học hỏi Tuy nhiên,kinh nghiệm và nhậnđịnh của mỗi người lại khác nhau,có người cho rằng thị trường đang bắt đầuxuống dốc và nhanh chóng chuyển vốn ra khỏi thị trường,nhưng cũng cóngười giữ lại để chờ đợi một thời kỳ phát triển mới Chính những quyết địnhtrái chiều nhau tại những thời điểm khác nhau mà thị trường chứng khoánluôn giữ được sự ổn định và phát triển Đối với một thị trường mới mở nhưcủa Việt Nam thì bằng mọi gía phải thu hút được các nhà đầu tư trong và

Trang 16

ngoài nước,tạo một môi trường chứng khoán lành mạnh,trách tình trạng thôngtin không cân xứng hoặc những kẻ lợi dụng thời cơ đưa ra những thông tintrái với sự thật (Ví dụ trong tháng 3 năm 2008 có kẻ đưa tin tổng giám đốccông ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI)-Trần Duy Hưng bị bắt, thông tin nàyngay lập tức đã ảnh hưởng tới tâm lý các nhà đầu tư và làm cho giá cổ phiếucủa công ty này sụt giảm mạnh ngay từ phiên giao dịch đầu tiên).

tư tương đối lớn tùy thuộc vào mục đích và quyết định của họ Như vậy đểthu hút được dòng vốn phong phú từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoàithì một câu hỏi đặt ra cho nền kinh tế là làm thế nào để đẩy lùi lạm phát, giữvững nền kinh tế ổn định và phát triển,tăng thu nhập cho người dân

*Giá cả của hoạt động đầu tư

Bất cứ nhà đầu tư nào khi bỏ ra vốn (chi phí ban đầu) cũng hi vọng sẽmang về thu nhập Thu nhập của một hoạt động đầu tư được xác định làdoanh thu trừ đi (–) chi phí Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, chi phíbao gồm tiền hoa hồng môi giới và thuế thu nhập (có thể có) Còn doanh thucủa hoạt động đầu tư chứng khoán là phần chênh lệnh giá được hưởng hoặc

cổ tức được hưởng từ việc nắm giữ chứng khoán

Do vậy muốn huy động được nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trườngthì cần phải giảm thiểu tối đa chi phí để khi so sánh mức chi phí phải bỏ ra

Trang 17

với thu nhập kỳ vọng, nhà đầu tư vẫn đảm bảo được hoạt động đầu tư của mình

và có lãi

*Yếu tố dân trí,tập quán ,văn hóa

Đây là yếu tố có tính truyền thống, rất khó thay đổi một sớm một chiều

và có ảnh hưởng đặc biệt tới tâm lý cũng như cách sử dụng nguồn vốn của cácnhà đầu tư Đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam thì đây là mộttrở ngại trong việc thay đổi nếp sống và nếp nghĩ của người dân để khuyếnkhích họ đầu tư vào thị trường chứng khoán

Khi thị trường CK của Việt Nam còn non trẻ,diễn biến chưa ổn định vànền dân trí chưa cao thì rõ ràng,người dân chưa thể quen ngay với loại hìnhđầu tư mới mẻ này, nhất là với suy nghĩ “ TTCK là sản phẩm bậc cao của nềnkinh tế thị trường”

Hơn nữa thói quen sử dụng tiền mặt, hay đầu tư vào những tài sản hữuhình có thể cầm giữ được, như vàng, tiền tiết kiệm, bất động sản v v cũng làmột trở ngại lớn trong việc khuyến khích người dân tham gia vào thị trườngchứng khoán với những loại hàng hóa phi vật chất và mang tính rủi ro cao

*Chính sách

Các chính sách ở đây trước hết phải đề cập tới những chính sách tàichính của chính phủ nhằm kích cầu trên thị trường chứng khoán Dựa vàomối quan hệ chặt chẽ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán, Chínhphủ có thể đưa ra các đạo Luật,các Nghị quyết, các Thông tư nhằm hạn chếhay khuyến khích đầu tư trên các thị trường này Hiển nhiên dòng vốn sẽ dịchchuyển một cách tự động từ thị trường bị hạn chế đến thị trường được khuyếnkhích đầu tư

Ngoài ra cầu trên thị trường chứng khoán còn chịu ảnh hưởng lớn từ cácchính sách dành cho thị trường Nhằm thu hút lượng cầu đủ phong phú để thịtrường CK luôn vận hành ổn định, khi tìm ra được nguyên nhân chính xác của

Trang 18

sự thiếu cầu,bản thân các công ty chứng khoán sẽ đề ra các biện pháp kíchcầu như ra tăng các lợi ích,các dịch vụ,giảm bớt hạn chế với nhà đầu tư,hỗ trợcho các nhà đầu tư chưa đủ khẳ năng tài chính tham gia v.v

1.3 Chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán

1.3.1Khái niệm về chính sách kích cầu trên TTCK

Hiện nay, chưa có văn bản chính thức nào đưa ra khái niệm về chínhsách kích cầu trên thị trường chứng khoán tuy nhiên,có thể hiểu đơn giản nhấtnhư sau :

Chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán là các kế hoạch và chương trình hành động của Chính phủ tác động làm tăng nhu cầu của các đối tượng đầu tư có khả năng thanh toán cho nhu cầu đó trên thị trường chứng khoán hoặc các đối tượng có nhu cầu nhưng chưa đủ khả năng thanh toán.

Các chính sách kích cầu này đưa ra nhằm mục tiêu:

- Kích thích nhu cầu sở hữu chứng khoán của các đối tượng có đủ khảnăng thanh toán cho nhu cầu đó

- Hỗ trợ tốt nhất đối với các đối tượng có nhu cầu sở hữu chứng khoánnhưng chưa đủ khả năng thanh toán

- Thu hút lượng đầu tư đa dạng và phong phú trên diện rộng

- Thực hiện các chương trình phổ cập kiến thức chứng khoán tới mọingười dân

- Giữ vững sự ổn định cho thị trường,bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư

1.3.2.Các công cụ kích cầu trên thị trường chứng khóan

* Công cụ giá

Công cụ giá là các biện pháp,chính sách ưu đãi của Chính phủ về giá khichứng khoán phát hành lần đầu đối với các nhà đầu tư Các công ty khi pháthành chứng khoán lần đầu cho công nhân viên,người lao động hay các đối tác

Trang 19

đều đưa ra các chế độ ưu đãi về giá Ý nghĩa thực sự của chế độ này là thúcđẩy mối quan tâm của các thành phần liên quan vào sự phát triển của công tycũng như tạo mối liên kết rằng buộc giữa công ty với nhân viên để họ có thểchia sẻ một phần trách nhiệm đối với công ty,trách trường hợp bị sáp nhậphoặc mua lại bởi các đối tượng bên ngoài Đồng thời, bằng cách này,công tycũng đảm bảo một lượng cầu đủ lớn trước khi phát hành ra công chúng.

*Công cụ lãi suất –tỷ giá

Vì thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán có sự tương hỗnhau,Chính phủ có thể dùng lãi suất để điều chỉnh sự cân đối nguồn vốn giữahai thị trường Khi lãi suất tiền gửi giảm, người dân có xu hướng rút tiền tiếtkiệm để đầu tư vào các lĩnh vực khác có kỳ thu nhập lớn hơn Chính phủ cóthể sử dụng công cụ lãi suất khi nền kinh tế nói chung và thị trường chứngkhoán nói riêng bị suy thoái, bằng cách giảm tỷ lệ dự trữ bắt buôc và giảm lãisuất triết khấu để các nhà đầu tư phân bố lại doanh mục tài sản cuả mình.Bên cạnh đó,Chính phủ phải đảm bảo một mức tỷ giá hơp lý trách việcđồng bản tệ bị mất giá làm ảnh hưởng tới TTCK và cả nền kinh tế quốc dân

*Công cụ phí

Phí ở đây là tiền hoa hồng trả cho các giao dịch mua bán chứng khoáncho công ty môi giới và phí cho hoat động tư vấn bảo lãnh cho công ty tư vấnbảo lãnh

Như chuyên đề đã trình bày, phí là một yếu tố trong giá của hoạt độngđầu tư chứng khoán Rõ ràng, xét trên lợi ích cá nhân thì nhà đầu tư bị thiệtthòi khi thu nhập của họ bị triết khấu một phần cho công ty môi giới nếu họbán chứng khoán, kể cả trong trường hơp hoạt động mua bán chứng khoán bị

lỗ họ vẫn mặc nhiên bị triết khấu tiền hoa hồng Đối với những nhà đầu tư lớntham gia vào thị trường CK từ lâu thì phí hoa hồng không thực sự là điềukhiến họ phải phân vân, nhưng đối với nhứng nhà đầu tư nhỏ chỉ dành ít tiền

Trang 20

tiết kiệm được cho đầu tư chứng khoán thì chắc chắn rằng họ sẽ nao núngphần nào khi phí bị chiết khấu.

Đối với các công ty cổ phần cũng vậy,mối đợt phát hành chứng khoán họphải trả mức phí giao động từ 8 -12% tổng giá trị bảo lãnh cho toàn bộ phần

tư vấn bảo lãnh phát hành Đây cũng là một trở ngại lớn khi sự cạnh tranh vềmức phí giữa các công ty chứng khoán còn ít, các công ty sẽ có xu hướng ưutiên các mối quen biết sẵn có

*Công cụ thuế

Công cụ thuế bao gồm các hình thức ưu đãi thuế đối với công ty niêmyết và cả với nhà đầu tư Tùy thuộc vào lịch sử và tình hình phát triển của mốinước mà người ta quy định giảm hoặc miễn thuế đối với những thu nhập cóđược từ việc đầu tư chứng khoán Ví dụ như các doanh nghiệp Việt Nam khiniêm yết chứng khoán trên sở giao dịch sẽ được hưởng ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp trong vài năm đầu,kéo theo giá trị chủ sở hữu doanh nghiệptăng do đó giá trị cổ phiếu của công ty cũng tăng.Việc cắt giảm hay ưu đãithuế thu nhập có thể sẽ ảnh hương đến nguồn thu ngân sách,nhưng xét về lâudài đây là một công cụ hữu ích trong việc thu hút các doanh nghiệp tham giaTTCK, da dnạg và phong phú nguồn hàng hóa cung cấp trên thị trường.S

Trang 21

Tóm lại, cầu trên thị trường chứng khoán có vai trò quyết định tới sự tồn

tại của thị trường chứng khoán trong mọi thời điểm Để kích thích thị trườngsôi động, phát triển ổn định,Chính phủ cần có các giải pháp,chính sách cụ thểchuyên sâu,và lâu dài kết hợp với việc thực hiến một cách kịp thời tác độngvào lượng cầu,biến chúng thành kênh huy động vốn hiệu quả và tích cực đốivới nền kinh tế Việt Nam

Trước khi đưa ra những giải pháp cụ thể, để có một cái nhìn sâu sắc,toàndiện về thị trường chứng khoán Việt Nam,chuyên đề sẽ đi vào khái quát thựctrạng và đánh giá tình hình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Namtrong thời gian qua

Trang 22

Chương 2 : Thực trạng cầu trên thị trên thị trường

chứng khoán Việt Nam

2.1 Khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam

Trải qua 8 năm hình thành và phát triển kể từ phiên giao dịch đầu tiên từngày 28/07/2008, nhà đầu tư cả trong và ngoài nước tham gia mạnh mẽ, các

tổ chức trung gian phát triển… đặc biệt là trong năm 2006 và những tháng

đầu năm 2007

Mức vốn hóa của thị trường cổ phiếu (sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội) tính đến ngày 29/6/2007 đạt 304.000 tỷ đồng (tương đương

20 tỷ USD), chiếm khoảng 33% GDP, trong khi cuối năm 2006, mức vốn hóa

là 221.156 tỷ đồng (tương đương 14 tỷ USD), chiếm 22,7% GDP Trong đó,tổng giá trị vốn hóa tại TTGDCK TP HCM đạt trên 211.000 tỷ đồng (tươngđương 13,2 tỷ USD) Hiện đang có thêm nhiều doanh nghiệp nộp hồ sơ niêmyết ở sàn này, ước tính đến năm 2008 sẽ có gần 200 doanh nghiệp tham gianiêm yết; số lượng các CTCK cũng tăng mạnh, từ 9 công ty được cấp phépvào năm 2002 đến nay đã có 55 CTCK, trong đó 47 công ty trở thành thànhviên của 2 trung tâm GDCK TP HCM và Hà Nội, với tổng số vốn điều lệ đạtgần 4.645 tỷ đồng.Trong số này có 31/55 công ty được phép hoạt động đủ 5nghiệp vụ.Theo UBCKNN, đến cuối năm 2007, sẽ có thêm gần 50 CTCK đượccấp phép hoạt động

2.1.1 Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu Việt Nam đã có sự khởi sắc trong một vài năm

gần đây ở cả khu vực chính phủ và doanh nghiệp Tuy nhiên, với những hạnchế khách quan của trái phiếu doanh nghiệp về quy mô hoạt động, hệ thống

kế toán - kiểm toán, định mức tín nhiệm, trái phiếu doanh nghiệp chưa có

Trang 23

nhiều cơ hội phát triển nên việc chú trọng phát triển trái phiếu chính phủ làcần thiết hiện nay.

2.1.1.1 Trái phiếu Chính phủ

Trên thị trường trái phiếu Chính phủ hiện nay, được chào đón và thuhút nhiều nhất các nhà đầu tư là trái phiếu phát hành bằng ngoại tệ trên thịtrường quốc tế Cùng với sự ra đời của hai trung tâm giao dịch chứng khoán

là tại Tp.HCM và Hà Nội, các trái phiếu chính phủ phát hành bằng đồng nội

tệ cũng bắt đầu được giao dịch một cách rộng rãi hơn so với trước đây nhưngvẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư có tổ chức, do đó, khốilượng giao dịch rất ít Điều này có thể bắt nguồn từ quy mô của thị trường, cơ

sở vừa yếu vừa thiếu của hạ tầng thanh toán trong hệ thống tài chính ViệtNam Cụ thể bao gồm một số điểm sau:

-Trước hết, quy mô của trái phiếu nói chung và trái phiếu chính phủ nóiriêng hiện chiếm tỉ lệ rất thấp trong tổng tài sản tài chính cả nước với chỉ bằng8% so với GDP, con số này khoảng 5 tỷ USD rất nhỏ bé nếu so với mức đủ đểđạt tính thanh khoản 100-200 tỷ USD

-Huy động vốn thông qua loại hình trái phiếu CP hiện chưa phải là kênhphổ biến mà chủ yếu là thông qua hệ thống ngân hàng với tổng tài sản chiếmđến 80% cơ cấu tài sản tài chính Điều này tạo sự bất cân xứng trong kỳ hạnhuy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng, thiếu một kênh huy độngvốn dài hạn để phục vụ cho các mục tiêu phát triển lâu dài Cả hai yếu tố nàyđều góp phần làm tăng chi phí vốn cho nền kinh tế

- Lượng trái phiếu phát hành bằng đồng nội tệ hiện chủ yếu được giaodịch hoặc nắm giữ bởi các ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính tương đươngcũng làm cản trở sự phát triển của thị trường trải phiếu Điều này tạo sự đơnđiệu trong danh mục đầu tư, dẫn đến giá trái phiếu có mức biến động đáng kể

Trang 24

khi các nhà đầu tư này thực hiện bán ra hoặc mua vào Khối lượng phát hànhmỗi đợt tương đối nhỏ chỉ khoảng 20 - 30 triệu USD/đợt khó thu hút sự chú ýcủa các nhà đầu tư có tổ chức và vì vậy cũng làm giảm sức hấp dẫn của trái phiếuchính phủ.

-Thể chế pháp luật còn thiếu các qui định cần thiết nên hạn chế sử dụngcác công cụ bảo hiểm rủi ro như hoán đổi lãi suất, mua bán kỳ hạn hay táimua lại nhằm giúp nhà đầu tư có thể bảo vệ rủi ro cho mình

- Hệ thống thanh toán chưa có sự liên thông giữa các thị trường trongkhu vực, dẫn đến nhà đầu tư gặp khó khăn khi giao dịch xuyên biên giới vàđiều này cũng làm cho nhà đầu tư không mặn mà mấy với loại hình chứngkhoán này

Tuy vậy, những đợt phát hành vừa qua cho thấy nhu cầu của nhà đầu tưđang rất quan tâm đến thị trường trái phiếu chính phủ phát hành bằng đồngnội tệ, khối lượng đặt mua thường từ 2000 - 3000 tỷ VND, gấp 4 - 5 lần mứcphát hành Xu hướng này có thể do tình hình tăng trưởng kinh tế khả quantrong những năm gần đây và những dự báo cho thấy tỉ giá đồng nội tệ có xuhướng tăng lên Nhưng qua đó cũng cho thấy trái phiếu chính phủ đang đượcđịnh giá quá thấp Rất may là xu hướng này đang dần được khắc phục (với lãisuất trái phiếu phát hành đang giảm dần trong những đợt gần đây, từ 7.9% đợt1/2007 xuống còn 7.2% trong đợt 5/2007)

2.1.1.2 Trái phiếu công ty

Trước năm 2006, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp được thựchiện theo Nghị định số 120/CP ngày17/9/1994 của Chính Phủ về phát hành cổphiếu, trái phiếu của doanh nghiệp Nhà nước Khi đó, thị trường này chưaphát triển, chỉ có các tổ chức tài chính tín dụng phát hành trái phiếu, còn trái

Trang 25

phiếu doanh nghiệp thì có rất ít các doanh nghiệp phát hành, chính xác thì chỉ

có 5 doanh nghiệp là: Công ty Cơ điện lạnh REE phát hành 5 triệu USD (năm1996), Tổng công ty Dầu khí phát hành 300 tỷ (năm 2003), Tổng công tyĐiện lực (EVN) phát hành 300 tỷ, Tổng công ty Xi măng 200 tỷ và EIS 10 tỷ(năm 1998).Vì vậy, trong khoảng thời gian này, kênh cấp vốn cho doanhnghiệp chủ yếu là thông qua tín dụng ngân hàng hoặc ngân sách Nhà nướchoặc Nhà nước cho vay rồi vay lại.Hoạt động huy động vốn trực tiếp trên thịtrường hầu như chưa phát triển Tuy nhiên, kể từ năm 2006 trở lại đây, thịtrường trái phiếu doanh nghiệp đã có bước phát triển tích cực, đặc biệt là saukhi có Nghị định 52/CP về việc cho phép các doanh nghiệp phát hành tráiphiếu theo hình thức riêng lẻ

Hiện nay, chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp không chỉ là doanhnghiệp Nhà nước như trước đây mà còn có các công ty TNHH, công ty cổphần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngay cả nguyên tắc pháthành cũng thông thoáng hơn rất nhiều Các doanh nghiệp có quyền tự vay, tựtrả, tự chịu trách nhiệm và công khai minh bạch thông tin Điều này có nghĩa

là Nhà nước không còn can thiệp quá sâu vào việc phát hành trái phiếu củadoanh nghiệp

Tuy nhiên, nhìn chung quy mô thị trường giao dịch trái phiếu doanhnghiệp vẫn còn nhỏ, chủ yếu vẫn là thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư vẫn chủyếu mua và giữ trái phiếu tới khi đáo hạn, các dịch vụ liên quan nhằm hỗ trợthị trường trái phiếu như dịch vụ định mức tín nhiệm, định giá trái phiếu haydịch vụ lưu ký… hầu như chưa có

Trên thực tế, các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc phát hành trái phiếu, đặc biệt là phát hành ra nước ngoài

Trang 26

Điều này xuất phát từ nguyên nhân là thị trường trái phiếu nội địa củachúng ta hiện nay vẫn chưa thực sự phát triển Riêng khu vực trái phiếu doanhnghiệp đến thời điểm này cũng chỉ chiếm 10% tổng giá trị thị trường

Hơn nữa, trên thị trường trái phiếu nội địa, viêc phát hành cũng chỉ mớitập trung ở một vài tập đoàn, doanh nghiệp lớn Nói cách khác là các doanhnghiệp cũng mới chỉ đi những bước đi đầu tiên trong viêc phát hành trái phiếudoanh nghiệp

Vì vậy, để bước chân ra thị trường quốc tế, đòi hỏi các doanh nghiệpphải tự hòa thiện mình lên rất nhiều để có được uy tín cũng như những kinhnghiệm, đáp ứng được yêu cầu của thị trường Nếu chúng ta gia nhập thịtrường thế giới quá sớm, trong khi chưa có được sự chuẩn bị cơ bản thì chắcchắn các doanh nghiệp của chúng ta sẽ phải trả một cái rất đắt

2.1.2 Thị trường cổ phiếu

2.1.1.1 Cổ phiếu niêm yết

Thời gian vừa qua,Việt Nam đã được chứng kiến một đợt khó khănnhất kể từ khi thành lập của thị trường chứng khoán Việt Nam Tâm trạng "ubuồn" tràn ngập các công ty chứng khoán, trái ngược hẳn với hình ảnh háohức hồi cuối năm 2006, đầu 2007, khi các sàn giao dịch chật ních các nhàđầu tư, mắt dán chặt vào các màn hình lớn được biểu thị bằng "gam màuxanh tím" đến khó tin.Tính riêng quý I/2008, chỉ số Vn-Index đã giảm tới44%

Trang 27

Diễn biến VNIndex - Quý I năm 2008

Biểu đồ chỉ số VN-INDEX từ 16/4/2008 đến 25/4/2008:

Nhìn lại giai đoạn "hoàng kim" của thị trường CK Việt Nam –nhữngtháng đầu năm 2007, Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) đã cảnh báo cần hạ nhiệt thịtrường Và Cơ quan quản lý đã hành động: chỉ thị cho ngân hàng dừng chovay đối với các cá nhân, các công ty vay vốn để đầu cơ vào cổ phiếu Độngthái này đã làm cho "bong bóng” thị trường "xì hơi" đôi chút.Thế nhưng, vào

Trang 28

đầu 2008, biện pháp này thậm chí đã phải gỡ bỏ một phần để cứu thịtrường.Oái oăm thay, thị trường chứng khoán lúc này lại còn chịu sức ép củanhững lo ngại về tình trạng lạm phát trong nước và sự suy thoái của nền kinh

tế Mỹ, vốn là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam.Đểkiềm chế cơn bão lạm phát – gần 20% trong tháng 03/2008 so với cùng kỳnăm ngoái – Chính phủ đã áp dụng lại các biện pháp kiểm soát tín dụng.Tấtnhiên, bởi vậy thị trường chứng khoán đang khó lại càng khó hơn

Từ cuối tháng 03/2008, khi đà xuống dốc liên tục gia tăng, những ngânhàng trước đây đã cho nhà đầu tư vay vốn cầm cố chứng khoán nhận ra mìnhđang giữ những cổ phiếu thế chấp rủi ro cao, cần giải chấp.Thị trường lạithêm một bước khó hơn Tổng Công Ty Đầu Tư và Kinh Doanh Vốn NhàNước (SCIC), một công ty nắm giữ phần vốn của nhà nước trong các doanhnghiệp cổ phần hoá đã vào cuộc, tham gia "ngăn lũ" bằng việc mua vào cổphiếu để hỗ trợ thị trường.Nhưng thị trường vẫn chưa hết khó khăn

Ngày 27/03/2008, một biện pháp mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn được Ủyban Chứng khoán Nhà nước thực hiện: xiết lại biên độ dao động giá, cụ thể là

±1% (thay vì ±5% tại HOSTC) và ±2% (thay vì ±10% tại HaSTC) trong ngàygiao dịch.Các ngân hàng cũng được yêu cầu ngưng không giải chấp các cổphiếu mà họ đang nắm giữ.Suốt 8 phiên liên tiếp, hầu như cả 2 sàn giao dịchtại hai đầu đất nước đều tăng kịch trần với dư bán gần như trắng trơn

Ngày 03/04/2008, Chính phủ lại có thông báo nới rộng biên độ giaodịch ra thành ±2% và ±3% tương ứng với HoSTC và HaSTC kể từ ngày07/04/2008 Thị trường vẫn giữ đà lên trong phiên đầu tiên nới biên độ,nhưng sau đó lại bắt đầu tình trạng "rơi tự do" kể từ đó đến nay

Từng trải nghiệm với nhiều thăng trầm trong đầu tư chứng khoán, dườngnhư các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn kiên định Cơ quan quản lýthị trường, Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước, cho biết rằng các nhà đầu tư

Trang 29

nước ngoài là những người mua nhiều hơn bán trong giai đoạn từ đầu nămđến nay Tổng giá trị mua vào của khối các nhà đầu tư ngoại đã vượt mức1.000 tỷ đồng, một dấu hiệu lạc quan hiếm thấy

Như vậy, có thể thấy được thị trường cổ phiếu có sức hút lớn mạnh thếnào đối với các nhà đầu tư,nhất là những nhà đầu tư lâu năm-những người đã

kề vai sát cánh với TTCK Việt Nam trong những “cơn lũ” vừa qua

2.1.2.2 Cổ phiếu chưa niêm yết

Thời điểm thị trường cổ phiếu niêm yết đang tăng trưởng vùn vụt,thịtrường cổ phiếu không niêm yết trở nên khá buồn tẻ nhưng càng về sau,khithị trường chứng khoán chính thức đưa vào thế ổn định,hành lang pháp lýđược xây dựng đầy đủ,thị trường tự do đang nóng nên từng ngày Xu hướngchuyển hướng đầu tư sang các loại cổ phiếu tự do thể hiện ngày càng rõnét,nhất là với các công ty chứng khoán,họ có khả năng tiếp cận thông tin củangười bán và người mua nên các nhân viên ở đây đang tập trung nguồn vốncủa mình đầu tư vào cổ phiếu chưa niêm yết

2.2 Thực trạng cầu và chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư chứng khoán

Việc mua bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi cácdoanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, tuy TTCK nước ta mới chính thức hoạtđộng từ năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh ngày 28-7-2000 Khi đó mới có một vài cổ phiếu được giaodịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công ty chứng khoán thành viên Hơn 6năm đầu, mức vốn của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD Vài năm gầnđây mức vốn của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt

Trang 30

24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếutính cả trái phiếu thì đạt mức 46% GDP

Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% so với năm 2000 Vốnđầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Namcũng có sự gia tăng đáng kể Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổvào khoảng 4 tỉ USD Theo dự tính, quy mô của thị trường còn tiếp tục được

mở rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá sẽ tiếp tục niêm yếtvào năm 2007-2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngânhàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn

tỉ đồng… Hoạt động đầu tư theo đó cũng trên đà phát triển

* Nhìn chung thời gian qua hoạt động đầu tư CK trên thị trường có những điểm nổi bật sau:

-Cùng với sự phát triển của các nhà đầu tư là doanh nghiệp (bảo đảm vềnăng lực tài chính, có tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứngkhoán ) thì sự phát triển của các nhà đầu tư cá nhân rất đông (chiếm hơn60% số nhà đầu tư) và nhà đầu tư nước ngoài cũng quan tâm đầu tư vàoTTCK nước ta ngày càng nhiều (bao gồm cả những nhà đầu tư có tổ chức vànhà đầu tư cá nhân) Theo tính toán của một số chuyên gia kinh tế thì ước tínhvốn đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện đã lênđến 4 tỉ USD và còn tiếp tục tăng thêm trong thời gian tới Các nhà đầu tưnước ngoài (hiện có khoảng 1.700) chủ yếu đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu

đã niêm yết (khoảng 68% cổ phiếu và 32% trái phiếu), trong đó các nhà đầu

tư nhỏ lẻ đã nắm giữ tới 1tỉ USD

Trang 31

- Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổphiếu ở nước ta mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết,

cả những người mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng

“nóng”, hiện tượng “bong bóng” là có thật và cũng qua đó nhiều người đượchưởng từ “một vốn, bốn lời” thậm chí tới 10 hoặc hơn 10 lời Tình hình sôiđộng của TTCK thời gian qua phản ánh hiện tượng kinh tế tốt lành là: Nềnkinh tế Việt Nam đã và đang tăng trưởng và có xu hướng tiếp tục tăng trưởng.Vốn cho đầu tư phát triển được huy động qua kênh TTCK và vẫn cònđiều kiện phát triển qua kênh này trong thời gian tới, do nhiều doanh nghiệplớn (trong đó có các ngân hàng thương mại nhà nước) tiến hành cổ phần hoá,phát hành trái phiếu, thực hiện niêm yết tại các công ty chứng khoán Tuynhiên, việc phát triển “nóng” của TTCK cũng sẽ phát sinh vấn đề cần phảiquan tâm,đó là việc các nhà đầu tư nước ngoài có điều kiện thao túng, dễ gâyrủi ro cho TTCK trong nước hoặc tác động đến thị trường bất động sản, đẩygiá nhà, đất lên cao

-Các ngân hàng thương mại cổ phần sau quá trình tái cơ cấu đã làm ăntốt, đang ổn định và phát triển, tiếp tục tái cơ cấu để tăng cường năng lựccạnh tranh và hội nhập theo các cam kết của WTO, trong đó có việc phát hànhthêm cổ phiếu để tăng vốn Theo quy định tại Nghị định số 141 ngày 22 - 11 -

2006 của Chính phủ “Về ban hành danh mục vốn pháp định của tổ chức tíndụng” thì đến hết năm 2007 vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại nước

ta phải đạt 1000 tỉ đồng và đến năm 2010 phải đạt 3000 tỉ đồng Để thực hiệnđược việc này, các ngân hàng thương mại phải tìm mọi cách để tăng vốn,trong đó bao gồm cả việc phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng (phát hànhmới, phát hành thêm, thưởng cuối năm bằng cổ phiếu) và đây cũng là mộttrong những nguyên nhân làm cho cổ phiếu ngân hàng luôn “nóng”

Trang 32

-Có sự chuyển dịch đáng kể vốn từ ngân hàng thương mại sang đầu tưchứng khoán theo 2 hướng:

- Các nhà đầu tư cá nhân rút tiền gửi tiết kiệm để đầu tư chứng khoánNhững đối tượng khác (bao gồm cả công ty chứng khoán của ngân hàng) lạivay tiền của ngân hàng thương mại để kinh doanh chứng khoán (theo báo cáocủa Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ các ngân hàng thương mại cho các công tychứng khoán ngân hàng vay để kinh doanh chứng khoán tại thời điểm cuốinăm 2006 là 2,6%) Qua đây cũng phần nào tác động đến hoạt động của ngânhàng thương mại và cả Ngân hàng Nhà nước với vai trò quản lý và điều hànhchính sách tiền tệ

Thống kê tại TTGDCK Hồ Chí Minh

Năm Số TK DN niêm yết KLGD (triệu

đồng) Vốn hóa (tỷ đồng)

Trang 33

Bên cạnh đó, còn tồn tại những khó khăn mà các nhà đầu tư đang phảiđối mặt,đó là:

-Tính minh bạch trên TTCK còn thấp,thông tin chưa chính xác

Ví dụ, thông tin về SJS "sập sàn" do báo Tiền phong điện tử đăng ngày12/1/2007 Thực chất là do SJS chia 3 cổ phiếu thưởng cho 1 cổ phiếu hiện tạinên giá cổ phiếu của công ty giảm tương ứng từ 728.000đ/CP xuống còn190.000đ/CP Mặt khác, về nội dung thông tin do cơ quan truyền thông cungcấp, chủ yếu vẫn là tin tức, diễn biến thị trường, chưa có nhiều các thông tinnhận định phân tích mang tính định hướng cho nhà đầu tư và thị trường

-Trình độ quản trị công ty của phần lớn các công ty niêm yết còn hạnchế

-Thị trường dễ bị chi phối và biến động bởi những yếu tố tâm lý do quy

mô thị trường vẫn còn nhỏ, tính thanh khoản thấp, sự tham gia của các nhàđầu tư có tổ chức vẫn còn hạn chế

-Chưa có các tổ chức chuyên nghiệp chẳng hạn như tổ chức tạo lập thịtrường (market maker)

Bên cạnh những thách thức chung, các nhà đầu tư cá nhân còn phải đốimặt thêm với những thách thức sau đây:

-Khả năng tiếp cận thông tin hạn chế

-Thiếu năng lực, thời gian để bao quát, theo dõi một số lượng lớn công ty.-Kỹ năng đánh giá, phân tích không chuyên nghiệp

Trang 34

-Với lượng vốn khiêm tốn, nhà đầu tư cá nhân không có điều kiện đadạng hóa đầu tư mà thường có xu hướng tập trung vào một số cổ phiếu mà họquen thuộc,do vậy làm tăng rủi ro đầu tư khi những cổ phiếu này hoạt độngkhông như mong muốn.

-Từ những thách thức trên, các quỹ đầu tư không ngừng ra đời và pháttriển để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của các nhà đầu tư cá nhân cũngnhư góp phần làm tăng tính ổn định cho TTCK

2.2.2 Thực trạng chính sách kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trước hết chúng ta cùng nhìn lại những nỗ lực kích cầu trên TTCK ViệtNam trong thời gian qua thể hiện qua những chính sách của Ủy ban chứngkhoán Nhà nước:

*Các chính sách phát triển thị trường chứng khoán của ủy ban

chứng khoán Viêt Nam:

Ngày 05/08/2003,Chính phủ ban hành quyết định 163/2003/QĐ-TTg vềphê duyêt chiến lược phát triển thị trường Việt Nam tới 2010,trong đó nêu rõquan điểm phát triển “ổn định và hiệu quả TTCK” đặc biệt chú trọng đẩymạnh phát triển số lượng nhà đầu tư,tăng cầu cho TTCK Việt Nam

Chuyên đề xin nêu ra một số định hướng phát triển đươc chọn lọc trongQĐ:

Phần 3 mục d: Thực hiện các chính sách khuyến khích các tổ chức và

cá nhân tham gia thị trường chứng khoán:

- Thực hiện chính sách khuyến khích thuế với nhà đầu tư

- Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng,các tổ chức cánhân nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán

Trang 35

- Mở rộng giới hạn đầu tư cổ phiếu đối với các nhà đầu tư nước ngoàitrên thị trường chứng khoán Việt Nam,cho các tổ chức kinh doanh chứngkhoán nước ngoài góp vốn,mua cổ phần hoặc thành lập công ty chứng khoánliên doanh với các pháp nhân trong nước,cho phép các quỹ đầu tư chứngkhoán nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam.

Phần 4 mục c: Định hướng phát triển TTCK Việt Nam tới 2010 với mục

đích phát triển các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà đầu tư cá nhân:

- Thiết lập hệ thống các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà đầu tư cánhân bao gồm các ngân hàng thương mại,các công ty chứng khoán,các công

ty tài chính,các công ty ảo hiểm,các quỹ bảo hiểm,các quỹ đầu tư,các nhà đầu

tư trong nước và nước ngoài…Tạo điều kiện cho các tổ chức này tham gia thịtrường với vai trò là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và thực hiệnchức năng của nhà tạo lập thị trường

- Mở rộng và phát triển các loai hình quỹ đầu tư chứng khoán,tạo điềukiện cho các nhà đầu tư nhỏ,các nhà đâu tư cá nhân tham gia vào thị trườngchứng khoán thông qua góp vốn vào các quỹ đầu

- Thực hiện chính sách khuyến khích về thuế, đối với nhà đầu tư

- Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng, các tổ chức và

cá nhân nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán

- Mở rộng giới hạn đầu tư cổ phiếu đối với các nhà đầu tư nước ngoàitrên thị trường chứng khoán Việt Nam; cho phép các tổ chức kinh doanhchứng khoán nước ngoài góp vốn, mua cổ phần hoặc thành lập Công tyChứng khoán liên doanh với các pháp nhân trong nước; cho phép các quỹ đầu

tư chứng khoán nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam

Phần 9 mục d: Tăng cường công tác đào tạo nghiên cứu và thông tin

tuyên truyền

Trang 36

- Xây dựng và phát triển Trung tâm Nghiên cứu và Bồi dưỡng nghiệp

vụ chứng khoán và thị trường chứng khoán thành đơn vị có đủ điều kiện vàkhả năng nghiên cứu về TTCK, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lýTTCK,hợp tác với các trường đại học,các cơ sở nghiên cứu trong và ngoàinước trong hoạt động nghiên cứu,đào tạo cơ bản và nâng cao kiến thức về thịtrường vốn

- Đa dạng hóa hình thức đào tạo,bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm đáp ứngyêu cầu của các đối tượng và thông tin tuyền truyền,phổ biến kiến thức về thịtrường chứng khoán cho công chúng

Phần 2 mục d: Đối với việc đa dạng hóa nguồn cung hàng hóa cho

- Gắn tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước với việc phát hành

cổ phiếu ra công chúng và niêm yết trên thị trường chứng khoán

-Lựa chọn các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng thương mại cổ phần có

đủ điều kiện để phát hành thêm cổ phiếu và tham gia niêm yết trên thị trườngchứng khoán tập trung

-Mở rộng việc chuyển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thànhcông ty cổ phần và có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gianiêm yết cổ phiếu trên thị trường tập trung

- Khuyến khích và tạo điều kiện để đưa các loại trái phiếu công trình, trái

Trang 37

-Phát triển các loại chứng khoán khác như : quyền mua cổ phiếu, tráiphiếu công ty, trái phiếu chuyển đổi của doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ đầu tư

để đưa vào niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán

- Giám sát và hỗ trợ các công ty niêm yết trong việc thực hiện thông lệtốt nhất về quản trị công ty; thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán theo quy địnhcủa pháp luật Tăng cường quản lý, giám sát các công ty niêm yết trong việcthực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và các nghĩa vụ đối với nhà đầu tư

Bên cạnh đó là việc hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứngkhoán, nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán:Ban hành đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thị trườngchứng khoán theo hướng bao quát, toàn diện và phù hợp với thực tiễn thịtrường Xây dựng Luật Chứng khoán trình Quốc hội thông qua vào năm 2005

*Đối với nhà đầu tư nước ngoài:

Ngày 17/7/2003,Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số146/2003/QĐ_TTg quy định về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCKViệt Nam:

Điều 1 Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán cổ phiếu trên thị trường

chứng khoán Việt Nam được nắm giữ tối đa 30% tổng số cổ phiếu niêm yếtcủa tổ chức phát hành

Điều 2 Tỷ lệ góp vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài

trong Công ty Chứng khoán liên doanh hoặc Công ty Quản lý Quỹ liên doanhtối đa là 49% vốn điều lệ

Điều 3 Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ không giới hạn tỷ lệ

trái phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 38

Những chính sách trên đưa ra vừa tránh việc các nhà đầu tư nước ngoàilũng đoạn thị trường ,đồng thời cũng mở rộng cơ hội khi cho phép các nhàđầu tư này” ngoài được nắm giữ không giới hạn tỷ lệ trái phiếu lưu hành trênthị trường chứng khoán Việt Nam”.

*Đối với nhà đầu tư trong nước:

Nhà đầu tư trong nước có thể được chia thành hai đối tượng,bao gồm các

tổ chức chuyên doanh trong lĩnh vực tài chính và các đơn vị sản xuất kinhdoanh một phần vốn đầu tư vào lĩnh vực CK

Theo sự quan sát mới nhất của chuyên đề, dựa trên quy định mới trong

Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân được Bộ Tài chínhđưa ra để lấy ý kiến các bộ ngành thì”Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiềncông, chuyển nhượng bất động sản, cổ tức… đều nằm trong diện phải nộpthuế thu nhập cá nhân trong năm 2009”

Theo bản dự thảo các khoản thu nhập chịu thuế là các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công, tiền thưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền hoa hồng môi giới, tham gia đề tài, dự án, tiền nhuận bút; tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức khác

Trước khi nộp thuế, các cá nhân sẽ được xem xét mức giảm trừ gia cảnhvới mức không quá 48 triệu đồng một năm Trong đó, mức trừ cho mỗi ngườiphụ thuộc mà người nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 1,6 triệu đồng mộttháng kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng Mỗi người phụ thuộc chỉđược tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế trong năm tính thuế.Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phải nuôi dưỡng thì tự thỏathuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh cho một người

Trang 39

Cũng theo dự thảo luật, các khoản thu nhập từ chuyển nhượng chứngkhoán được xác định bằng giá bán chứng khoán trừ đi giá mua và các chi phíliên quan đến việc chuyển nhượng cùng với khoản lỗ của những năm trướcnhưng không quá 5 năm kể từ năm phát sinh lỗ

Trong đó, giá bán niêm yết là giá chuyển nhượng thành công tại công tychứng khoán và tổ chức lưu ký tại thời điểm bán được áp dụng một trong haimức thuế 20% trên thu nhập tính thuế cả năm hoặc 0,1% trên giá chuyểnnhượng từng lần và không thực hiện quyết toán thuế

*Những nỗ lực nhằm kích cầu cho TTCK Việt Nam thời gian gần đây:

Ngày 15/1/2008,tại Hà Nội, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã tổ chứchội nghị tổng kết hoạt động của thị trường chứng khoán năm 2007 và triểnkhai các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán năm 2008 Tại đây, một

số giải pháp kích cầu cho thị trường chứng khoán đã được đề cập

Theo nhận định của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, tình trạng mất cânđối cung, cầu trên thị trường hiện nay là do hoạt động đấu giá cổ phần lần đầu

ra công chúng (IPO) của nhiều doanh nghiệp diễn ra trong thời gian ngắn,trong đó có một số doanh nghiệp lớn như Bảo Việt và Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam Việc nhiều doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu với sốlượng lớn, lại dồn vào cuối năm, cũng làm cung vượt xa cầu, khiến thị trườngliên tục xuống dốc

Thị trường chứng khoán ảm đạm còn do nhiều công ty nhà nước ồ ạt bánbớt cổ phần nắm giữ trong thời gian qua; xu hướng lập ngân hàng mới, thịtrường bất động sản đã “hút” một lượng vốn đáng kể từ thị trường chứngkhoán Khả năng chuyển đổi nguồn ngoại tệ từ các nhà đầu tư nước ngoài hạnchế, cộng với tâm lý tiêu cực của một bộ phận nhà đầu tư cũng là những lý dokhiến thị trường đi xuống trong gian gần đây

Ngày đăng: 15/12/2012, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dưới đây cho thấy ở Việt Nam tổng số tiền để dành (ngắn, trung và  dài hạn) trong ngân hàng hiện lên tới trên 15 tỷ đô la Mỹ năm 2006 và tăng  rất nhanh (coi biểu đồ 1) - Giải pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng d ưới đây cho thấy ở Việt Nam tổng số tiền để dành (ngắn, trung và dài hạn) trong ngân hàng hiện lên tới trên 15 tỷ đô la Mỹ năm 2006 và tăng rất nhanh (coi biểu đồ 1) (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w