1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp đẩy mạnh Cổ phần hóa các CNHH của Thành phố Hà Nội

101 419 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa các DNNN của thành phố Hà Nội
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Kim Dung, ThS. Nguyễn Thị Luyến
Trường học Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW
Chuyên ngành Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 651,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Giải pháp đẩy mạnh Cổ phần hóa các CNHH của Thành phố Hà Nội

Trang 1

Lời mở đầu

Ngày nay, nền kinh tế các nước phát triển nhanh chóng trong điều kiện hội nhập, sự giao lưu quốc tế đã được mở rộng ở mức cao nhất Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó, sự mở cửa của nền kinh tế đòi hỏi một tiềm lực thực sự của đất nước Tuy nhiên, bước đi hay thay đổi nào cũng phải đảm bảo không chệch khỏi hướng đi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, tuy chúng ta đã thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thích hợp với yêu cầu đổi mới từ Đại hội Đảng VI (12/1986) nhưng vẫn phải giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Thực hiện chính sách này, đòi hỏi phải có sự thay đổi một cách sâu sắc

và toàn diện hoạt động của DNNN cho phù hợp với tình hình mới Mục tiêu của quá trình đổi mới DNNN là từng bước phát huy có hiệu quả vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô

CPH được xem là một trong những phương thức cơ bản, hữu hiệu nhất nhằm đổi mới hoạt động của DNNN, đa dạng hóa hình thức sở hữu và đổi mới phương thức hoạt động của DN, phương thức quản lý kinh tế của Nhà nước, tạo động lực cho người lao động thực sự làm chủ DN, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu hút vốn đầu tư trong xã hội CTCP là một trong những xu hướng chuyển đổi và hình thành DN chính trên thế giới, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hiện nay

Thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp lại DNNN ở nước ta từ năm 1992 đến nay đã có kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, tiến độ CPH nói riêng và sắp xếp DNNN nói chung còn diễn ra chậm so với kế hoạch Nguyên nhân của

Trang 2

tình hình đó là do đâu? Và làm thế nào để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ CPH? Để góp phần làm rõ hơn vấn đề này, trong thời gian thực tập em đã

chọn đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh CPH các DNNN của thành phố Hà Nội”

để làm luận văn tốt nghiệp Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề CPH DNNN Phạm vi nghiên cứu là các DNNN trực thuộc UBND thành phố Hà Nội quản lý

Kết cấu luận văn bao gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về CPH DNNN.

Chương 2: Thực trạng CPH DNNN của thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và biện pháp đẩy mạnh CPH các DNNN của

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DNNN

1. Doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà

Bộ, ngành, DN mà Nhà nước giữ phần lớn cổ phần và cả những DN mà Nhà nước không giữ phần lớn cổ phần song do sự phân tán của cổ đông mà Nhà nước giữ quyền chi phối

Khái niệm DNNN trong hệ thống pháp luật Việt Nam thay đổi qua nhiều thời kì, tương ứng với sự thay đổi về quan niệm đối với sở hữu, thay đổi trong

cơ chế quản lý kinh tế Điều 1 trong Luật DNNN 2003 được phát triển tương đối sâu trong cách định nghĩa DNNN: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý” Luật này áp dụng với các DNNN tổ chức dưới hình thức DN độc lập, tổng công ty, DN thành viên của tổng công ty và quản lý phần vốn của Nhà nước đầu tư ở các DN Như vậy, khái niệm trên đã phản ánh những thay đổi cơ bản trong nhận thức của các nhà lập pháp và các nhà hoạch định chính

Trang 4

sách đối với thành phần kinh tế Nhà nước Điều đó thể hiện ở chỗ: việc xác định DNNN không hoàn toàn dựa vào tiêu chí sở hữu Quan niệm trên đã thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong một DNNN, tiêu chí xác định DNNN là quyền kiểm soát và chi phối DNNN Như vậy, DNNN có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Quan niệm trên là một sự tiến bộ lớn trong cách nhận thức, mở đường cho các cải cách liên quan đến DNNN sau đó

1.1.2 Đặc điểm của DNNN

1.1.2.1 DNNN thuộc quyền sở hữu của Nhà nước

Quyền sở hữu DNNN thuộc về Nhà nước, thể hiện ở lượng vốn chủ yếu ở các DNNN là do Nhà nước đầu tư Việc sở hữu này quyết định sự kiểm soát của Nhà nước ở một mức độ nhất định và quyền can thiệp vào các hoạt động kinh doanh của DN Người quản lý DN không có quyền đối phó với những điều kiện thay đổi của thị trường Các tổ chức lao động trong DNNN mạnh hơn tư nhân nên người làm công trong các DNNN được hưởng lương cao hơn

và có chế độ ưu đãi xã hội tốt hơn Vì vậy, các DNNN ít có khả năng thay đổi đầu vào về nguồn lao động, gặp khó khăn trong việc giảm số lao động dư thừa

Việc quyết định sản xuất các mặt hàng phụ thuộc vào Chính Phủ và mục đích của Chính phủ trong từng giai đoạn DNNN có thể phải sản xuất hàng hóa công cộng phi thương mại đáp ứng yêu cầu của nhân dân mà không xuất phát từ lợi nhuận hay động cơ kinh tế nào Thêm vào đó là tính không rõ ràng

về nhiệm vụ được giao, DNNN phải tồn tại và phát triển đảm bảo lợi ích quốc gia cũng như lợi ích chung của xã hội Tất cả điều này do tính chất phi thương mại của sở hữu Nhà nước, DN buộc phải thỏa mãn yêu cầu tiêu dùng trong nước với giá ưu đãi, hoặc thỏa mãn dịch vụ do chính phủ yêu cầu, thậm chí

Trang 5

Chính phủ có thể yêu cầu DN chỉ được vay vốn từ một nguồn nào đó, hoặc phải đầu tư cho phù hợp với kế hoạch quốc gia

Sở hữu Nhà nước hàm nghĩa là sở hữu của các công dân, cũng đồng nghĩa là vô chủ, không có cá nhân nào thấy sự giám sát theo dõi là cần thiết Tuy nhiên, sự sở hữu này cũng có mặt tích cực của nó, vì Chính phủ có xu hướng sở hữu các nguồn vốn lớn, dễ huy động các nguồn vốn trong các hoạt động phát triển hay kinh doanh của các DNNN

1.1.2.2 Các cơ chế kích thích trong DNNN

Các cơ chế kích thích trong khu vực tư nhân rất rõ ràng và dường như rất đơn giản, vì khu vực tư nhân hoạt động vì lợi nhuận, trong khi đó, với DNNN, việc đánh giá những hoạt động của người quản lý gặp khá nhiều khó khăn Một DNNN phải thực hiện nhiều mục tiêu, đôi khi mâu thuẫn nhau, như việc phải đạt lợi nhuận lớn nhưng vẫn đảm bảo số lượng việc làm cao cho người lao động Điều này rất khó thực hiện vì với một DN chỉ cần một số lượng lao động nhất định có tay nghề cao mang lại lợi nhuận nhiều hơn so với nhiều lao động nhưng không có trình độ, vì vậy, việc giảm biên chế là cần thiết, nhưng như vậy lại không đảm bảo được số lượng việc làm cao Khu vực DNNN gặp khó khăn trong việc đề ra một phương án thích hợp động viên người quản lý, sa thải nếu làm việc không hiệu quả là một việc rất ít làm vì chế độ biên chế nhà nước hoàn toàn khác với chế độ hợp đồng của khu vực tư nhân Các khoản lương, đãi ngộ nếu quá cao cũng sẽ bị phản đối bởi các người lao động khác trong DN Do vậy, người quản lý hoàn toàn có thể tuân theo những động cơ có lợi khác, ưu tiên cho những người mang lại cho họ phần thưởng về uy tín và quyền lực chính trị trong tương lai hơn là thu hút những người có năng lực thực sự làm giàu cho DN Đây cũng là một khó khăn lớn trong quản lý DNNN

1.1.2.3 Chế độ trách nhiệm trong DNNN

Trang 6

Việc đại diện cho chủ sở hữu, cho Nhà nước trong các DNNN phức tạp

và nhiều tầng cấp Các Bộ, UBND tỉnh, Hội đồng quản trị tổng công ty Nhà nước hay công ty Nhà nước được coi là đại diện của chủ sở hữu Tuy nhiên các cơ quan này không phải là đại diện theo đúng nghĩa, chỉ có một số cá nhân cụ thể của những cơ quan này thực hiện chức năng đại diện Vì vậy, sự phân quyền trách nhiệm là đa cấp, không xác định rõ nội dung mối quan hệ đại diện phát sinh giữa chủ sở hữu Nhà nước với cơ quan đại diện cho chủ sở hữu và đại diện của cơ quan đại diện Điều này gây khó khăn rất lớn cho việc

ra một quyết định vì phải lấy ý kiến của rất nhiều cấp có liên quan, là lý giải cho sự chậm trễ của các quyết định cũng như việc phát sinh cái gọi là “lỗi của tập thể”

1.2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

1.2.1. Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

- CPH DNNN là việc chuyển DN mà chủ sở hữu là Nhà nước (DN đơn

sở hữu) thành CTCP (DN đa sở hữu), chuyển DN từ chỗ hoạt động theo Luật DNNN sang DN hoạt động theo các quy định về CTCP trong Luật DN Điều

1 thông tư 50 TC/TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ tài chính ghi rõ: DNNN chuyển thành CTCP (hay còn gọi là CPH DNNN) là một biện pháp chuyển

DN từ sở hữu nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần, trong đó tồn tại một phần sở hữu nhà nước

Như vậy, xét về hình thức, nhà nước sẽ bán một phần hay toàn bộ cổ phần cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế Những người mua cổ phần sẽ trở thành cổ đông của CTCP, có quyền và trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp Xét về bản chất, CPH chính là phương thức thực hiện

xã hội hóa sở hữu, chuyển hóa quyền sở hữu (từ đơn sở hữu sang đa sở hữu)

và do đó, sự thay đổi cả quyền quản lý và sử dụng, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa các quyền liên quan đến vốn và tài sản của DN Đến lượt mình, điều đó

Trang 7

lại là điều kiện thiết yếu để đảm bảo quyền làm chủ thực sự của những người góp vốn Bên cạnh đó, CPH còn là sự thay đổi căn bản về quy chế hoạt động của DN Từ chỗ DN bị chi phối toàn diện của Nhà nước, sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng và tính tự chịu trách nhiệm được đề cao.

- Quan niệm về CTCP được nêu rõ trong Luật công ty, nằm trong Luật

DN, được ban hành năm 2005, cụ thể: CTCP là loại hình DN có tư cách pháp nhân, trong đó:

* Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

* Cổ đông (người sở hữu cổ phần) chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp của mình

* Cổ đông có cổ phiếu phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác

* Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, thường không có sự hạn chế mức tối đa, mà chỉ có sự hạn chế số lượng tối thiểu

Trong thực tế, có nhiều cách thức khác nhau để hình thành CTCP, tuy nhiên có hai cách thức chủ yếu sau:

* Một số người có ý tưởng và khả năng kinh doanh khởi xướng và kêu gọi mọi người góp vốn đăng kí thành lập CTCP Những người đó gọi là cổ đông sáng lập và họ có những quyền lợi đặc biệt trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật

* Chuyển loại hình tổ chức kinh doanh không phải CTCP thành CTCP Việc chuyển hóa các loại hình DN không phải CTCP sang hoạt động theo quy chế của CTCP gọi là CPH Đây là hiện tượng tự nhiên của nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh có quyền tự do lựa chọn loại hình tổ chức kinh doanh trong khuôn khổ quy định của pháp luật

1.2.2. Các chủ trương, chính sách về CPH DNNN

Trang 8

Đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Việc sắp xếp các DNNN được thực hiện bằng các giải pháp: sáp nhập, CPH, giao, bán, khoán, cho thuê DN, tổ chức lại các tổng công ty và thành lập các tập đoàn kinh tế Trong tất cả các giải pháp trên thì CPH được coi là một giải pháp quan trọng, chủ yếu để cơ cấu lại, đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN Chủ trương CPH đã được bắt đầu từ năm 1991, với tinh thần Nghị quyết Hội nghị

TW Đảng lần 2 khóa VII (11-1991): “Chuyển một số DN quốc doanh có điều kiện thành CTCP và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp”

- Thời kì thí điểm (1992-1996): Ngày 8-6-1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ

trưởng ban hành Chỉ thị số 202/CT về thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP Văn bản của Hội Đồng Bộ Trưởng quy định chuyển một số DNNN đáp ứng các điều kiện: quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi hoặc triển vọng

có lãi, Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn sang hoạt động dưới hình thức CTCP Đối tượng được ưu tiên mua cổ phần là người lao động trong DN, DNNN khác, hạn chế bán cổ phần cho tư nhân hoặc cho tư nhân trong nước

và ngoài nước

Tuy nhiên, đối tượng được mua cổ phần đã được mở rộng theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị (số 10/NQ-TW ngày 17-3-1995), đưa ra phương châm tiến hành CPH: Thực hiện từng bước vững chắc CPH một bộ phận DN

mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn Tùy tính chất, loại hình DN mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần cho cho công nhân viên chức làm việc tại DN

và bán cổ phần cho các tổ chức hay cá nhân ngoài DN Như vậy, trong thời gian đó, quan điểm CPH đã thay đổi trong việc xác định đối tượng mua cổ phần, đó là một sự tiến bộ lớn nhằm huy động vốn tốt hơn

Trang 9

- Thời kì triển khai CPH (1997-2001): Sau khi tổng kết công tác thí điểm

CPH, Chính phủ ban hành Nghị định NĐ28/CP (7-1996) về CPH DNNN nhằm chuẩn hóa quy trình CPH DNNN Mặc dù chính sách CPH do Nghị định NĐ 28/CP đưa ra đã bước đầu đưa quá trình CPH DNNN vào quy củ nhưng do các DN và các cơ quan chủ quản còn được quyền quyết định có hoặc không đăng kí và thực thi CPH nên vẫn tồn tại tình trạng đăng kí thì nhiều nhưng trong quá trình thực hiện lại xin rút

Ngày 21-4-1998 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị CT20/TTg về đẩy mạnh sắp xếp lại DNNN theo tiêu chuẩn phân loại đã được định chuẩn Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP (29-6-1998) về CPH thay thế Nghị định NĐ28/CP với nhiều ưu đãi DN CPH và người lao động hơn, như: chi phí CPH trừ vào vốn nhà nước, loại bỏ nợ và tài sản không thuộc trách nhiệm quản lý sử dụng khỏi giá trị DN, đơn giản thủ tục kiểm toán

- Thời kì đẩy mạnh CPH hiện nay (2002 đến nay) : Ngày 19-6-2002 Chính

phủ ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP, thay thế Nghị định

44/1998/NĐ-CP, xác định rõ hơn mục tiêu CPH, mở rộng hơn phạm vi DNNN CPH, quy định cụ thể hơn các vấn đề liên quan đến CPH như vấn đề xử lý tài chính và xác định giá trị DN trước khi CPH, mở rộng quyền được mua cổ phần lần đầu tại các DN CPH… Tuy nhiên quy định tại Nghị định này còn nhiều bất cập, việc xác định giá trị DN chưa phản ánh hết thực chất giá trị DN, cơ cấu bán

cổ phần lần đầu do có cổ phần ưu đãi, không còn cổ phần bán ra ngoài nên dẫn đến bán cổ phần khép kín trong nội bộ DN

Thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khóa

IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN Chính phủ ban hành Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg (24/8/2004) ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty nhà nước Quy định thu hẹp hơn những

Trang 10

ngành, lĩnh vực Nhà nước nắm giữ 100% vốn, nắm giữ cổ phần chi phối trên 50%, quy định những công ty cần tiến hành đa dạng hóa sở hữu dưới các hình thức CPH, quy định các điều kiện tồn tại đối với tổng công ty nhà nước và những tổng công ty nhà nước không đáp ứng đủ các điều kiện sẽ được sắp xếp lại theo hướng sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể sau khi sắp xếp lại các công ty thành viên.

Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ bổ sung đối tượng CPH là các công ty nhà nước có quy mô lớn, kể cả các tổng công ty Nhà nước, đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong cơ chế CPH DNNN trước đây, đồng thời cũng bổ sung hướng giải quyết, tháo gỡ vướng mắc cho các DN sau khi chuyển thành CTCP Quy định rõ đối tượng

và điều kiện CPH, bổ sung các giải pháp xử lý các tồn tại về tài chính cho các DNNN trước khi CPH, hoàn thiện cơ chế định giá và bán cổ phần theo hướng gắn với thị trường và đảm bảo tính khách quan, minh bạch

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới DNNN của các Bộ, ngành, Tổng công ty 91 Chỉ thị số 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW, thực hiện nghiêm Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty Nhà nước thành CTCP, đảm bảo nguyên tắc thị trường trong CPH DNNN, thực hiện xác định giá trị DN thông qua các tổ chức có chức năng định giá, không CPH khép kín trong các DN, thực hiện bán đấu giá cổ phần công khai

Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định 109/2007/NĐ-CP về việc chuyển DN 100% vốn nhà nước thành CTCP và Quyết định 38/2007/NĐ-CP

về việc phân loại DN 100% vốn nhà nước nhằm sửa đổi những bất cập trong các Nghị định trước Trong Nghị định 109 có quy định rất cụ thể về vấn đề xác định giá trị quyền sử dụng đất cũng như quy định bán cổ phần lần đầu và

Trang 11

quản lý, sử dụng tiền thu từ CPH Quyết định 38 đã đưa ra các tiêu chí mới cụ thể, các lĩnh vực mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và những lĩnh vực

mà Nhà nước nắm trên 50% cổ phần

2. Nội dung cơ bản của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Đã có hàng loạt các văn bản được ban hành nhằm hướng dẫn các vấn đề

cụ thể trong quá trình CPH thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, phần này xin được trình bày mục tiêu, đối tượng, quy trình CPH theo văn bản hiện hành.2.1. Mục tiêu, yêu cầu của việc cổ phần hóa

Mục tiêu CPH đã được khẳng định trong Nghị định số 64/2002/NĐ-CP (19/6/2002) như sau:

- Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của DN, tạo ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho DN để sử dụng hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và DN

- Huy động vốn của toàn xã hội (cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội trong

và ngoài nước) để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển DN

- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, các cổ đông, tăng cường sự giám sát của các nhà đầu tư, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước, DN, nhà đầu tư, người lao động

Tiếp đến Nghị định số 109/2007/NĐ-CP của Chính phủ (26/6/2007) khẳng định lại việc chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành CTCP nhằm các mục tiêu sau đây:

- Huy động vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

- Đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, DN, nhà đầu tư và người lao động trong DN

Trang 12

- Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN, gắn với phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán.

Trang 13

2.2. Đối tượng cổ phần hóa

Ở nước ta, CPH được đặt trong chương trình tổng thể đổi mới, sắp xếp DNNN Theo quyết định số 58/2002 của Thủ tướng Chính phủ (26/4/2002), DNNN được phân loại như sau:

- DN có số vốn điều lệ Nhà nước nắm giữ là 100%

- DN Nhà nước nắm giữ cổ phần khi CPH

- DN Nhà nước không nắm giữ cổ phần khi CPH

Như vậy, các DNNN CPH chỉ cần thỏa mãn một điều kiện là DN không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Đối tượng áp dụng CPH (theo Nghị định 64/2002 của Chính phủ) là các

DN và đơn vị phụ thuộc của các DN quy định tại điều 1 của Luật DN không phụ thuộc vào thực trạng kết quả sản xuất kinh doanh của DN

Tiếp theo, tại Nghị định 109/2007 đã ghi rõ đối tượng thực hiện CPH là:

- Công ty Nhà nước độc lập thuộc các Bộ, ngành, địa phương

- Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước

- Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ- công ty con

- Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập

- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty Nhà nước độc lập, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty

- Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều

lệ

2.3. Điều kiện cổ phần hóa

Quy định của Nhà nước về điều kiện CPH khá rõ ràng với những yêu cầu đặt ra cho DN Nhà nước tiến hành CPH cụ thể như sau:

Trang 14

- Đối với các công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước thực hiện CPH khi đảm bảo đủ hai điều kiện:

• Không thuộc diện nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

• Còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị DN

- Đối với đơn vị hạch toán phụ thuộc, ngoài điều kiện trên còn phải đảm bảo:

• Có đủ điều kiện hoạch toán độc lập

• Việc CPH đơn vị hạch toán phụ thuộc không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN hoặc các bộ phận còn lại của DN

- Nếu DN sau khi đã được xử lý tài chính mà giá trị thực tế của DN thấp hơn các khoản phải trả thì chuyển sang thực hiện bán hoặc giải thể, phá sản

- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại các DN hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

2.5. Xử lý tài chính khi cổ phần hóa

Đây là vấn đề quan trọng cũng như phức tạp nhất trong quá trình tiến hành CPH DNNN ở nước ta Vì vậy, những quy định về vấn đề này có lẽ

Trang 15

được xem xét nhiều nhất Các quy định về tài chính được thay đổi phù hợp với các vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện những nghị định trước Nghị định 109/2007/NĐ-CP quy định rõ:

2.5.1 Kiểm kê, phân loại tài sản và xử lý tồn tại về tài chính

- DN CPH có trách nhiệm thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm theo chế độ Nhà nước quy định Nếu thời điểm xác định giá trị DN không trùng với thời điểm kết thúc năm tài chính, DN cổ phần có trách nhiệm lập báo cáo tài chính tại thời điểm xác định giá trị DN

- Trên cơ sỏ kết quả kiểm kê, kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm, DN CPH có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan chủ động xủ lý theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật những tồn tại về tài chính trước khi xác định giá trị DN CPH

2.5.2 Các khoản nợ phải thu

- DN CPH có trách nhiệm đối chiếu, thu hồi các khoản nợ phải thu đến hạn trước khi CPH Đến thời điểm xác định giá trị DN còn tồn đọng nợ phải thu khó đòi thì xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng

- DN CPH có trách nhiệm bàn giao các khoản công nợ không có khả năng thu hồi đã loại khỏi giá trị DN CPH cho các cơ quan có thẩm quyền liên quan

- Đối với các khoản đã trả trước cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ như: tiền thuê nhà, thuê đất, mua hàng, tiền công phải đối chiếu với hợp đồng

để tính vào giá trị DN CPH

2.5.3 Các khoản nợ phải trả

- Nợ phải trả các tổ chức, cá nhân:

Trang 16

DN CPH phải huy động các nguồn vốn hợp pháp để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả trước khi CPH hoặc thỏa thuận với các chủ nợ để

- Trong quá trình CPH, nếu DN CPH có khó khăn về khả năng thanh toán các khoản nọ quá hạn do kinh doanh thua lỗ thì xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng

2.5.4 Xử lý tài chính ở thời điểm DN chính thức chuyển thành CTCP

- Căn cứ vào giá trị DN CPH đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định,

DN có trách nhiệm điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán; lập báo cáo tài chính

DN giai đoạn từ thời điểm xác định giá trị DN đến thời điểm DN chính thức chuyển thành CTCP

- Trong thời gian một tháng từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh lần đầu, DN CPH phải hoàn thành việc lập báo cáo tài chính tại thời điểm đăng ký kinh doanh, xác định giá trị phần vốn Nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành CTCP và các tồn tại về tài chính cần tiếp tục

xử lý

2.6. Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa

2.6.1 Xác định giá trị DN theo phương pháp tài sản

Giá trị thực tế của DN CPH là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của DN tại thời điểm CPH có tính đến khả năng sinh lời của DN mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được

Trang 17

- Khi CPH toàn bộ tập đoàn, tổng công ty nhà nước thì giá trị vốn nhà nước là giá trị thực tế vốn nhà nước được xác định tại tập đoàn, tổng công ty nhà nước.Trường hợp CPH công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ- công ty con thì giá trị vốn nhà nước là giá trị thực tế vốn Nhà nước tại công ty mẹ Đối với các tổ chức tín dụng, tài chính, khi xác định giá trị DN theo phương pháp tài sản được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn và giá trị quyền sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định.

- Riêng các khoản sau đây không được tính vào giá trị DN để CPH: các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi; chi phí xây dựng cơ bản dở dang của những công trình đã có quyết định hoãn của cấp có thẩm quyền trước thời điểm xác định giá trị DN

- Các căn cứ để xác định giá trị thực tế của DN gồm: số liệu theo sổ kế toán của DN tại thời điểm xác định giá trị DN; tài liệu kiểm kê, phân loại và đánh giá chất lượng tài sản của DN tại thời điểm xác định giá trị DN; giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm tổ chức định giá; giá trị quyền sử dụng đất được giao, được thuê và giá trị lợi thế kinh doanh của DN

Trong các căn cứ trên, vấn đề tính giá trị quyền sử dụng đất là vấn đề được nêu ra cụ thể nhất

- Đối với diện tích đất DN CPH đang sử dụng làm mặt bằng xây dựng trụ

sở, văn phòng giao dịch, xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh…thì DN CPH

có trách nhiệm xây dựng phương án sử dụng đất trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định Nếu DN được giao đất thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN theo giá đất đã được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy định và công bố Trong trường hợp DN lựa chọn hình thức thuê đất, nếu

DN trả tiền thuế đất hàng năm thì không tính tiền thuê đất vào giá trị DN, nếu

Trang 18

DN trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ thời gian thuê thì tính tiền thuê đất vào giá trị DN theo giá sát với giá thị trường tại thời điểm định giá

2.6.2 Xác định giá trị DN theo phương pháp dòng tiền chiết khấu

Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại DN được xác định theo phương pháp dòng tiền chiết khấu dựa trên khả năng sinh lời của DN trong tương lai Giá trị thực tế của DN bao gồm giá trị thực tế phần vốn Nhà nước, nợ phải trả, số dư bằng tiền Quỹ khen thưởng, Qũy phúc lợi và số dư kinh phí sự nghiệp nếu có Ngoài ra, trường hợp DN lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền một lần hoặc giao đất thì phải bổ sung giá trị quyền sử dụng đất, tiền thuê đất vào giá trị DN

Phương pháp dòng tiền chiết khấu xác định giá trị DN theo các báo cáo tài chính của DN trong 5 năm liền kề, trước thời điểm xác định giá trị DN; phương án hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN trong 3 đến 5 năm sau khi chuyển thành CTCP cùng với lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất, trước thời điểm tổ chức thực hiện xác định giá trị DN và

hệ số chiết khấu dòng tiền của DN được định giá

2.7. Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Theo công văn số 11712/TC/TCDN ngày 10/11/2003 và Thông tư 146/2007/TT-BTC (12/2004) của Bộ Tài chính, quy trình CPH bao gồm các công việc sau :

Bước 1: Xây dựng phương án CPH

1. Thành lập Ban chỉ đạo CPH và tổ giúp việc

2 Chuẩn bị hồ sơ tài liệu

3. Kiểm kê, xử lý những vấn đề tài chính và tổ chức xác định giá trị DN

4. Hoàn tất phương án CPH

Bước 1: Lập phương án CPH với các nội dung chính như sau:

Trang 19

* Giới thiệu khái quát về công ty, tình hình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3-5 năm liền trước khi CPH.

* Đánh giá thực trạng về tài sản, tài chính, công nợ, lao động của công ty tại thời điểm xác định giá trị DN

* Phương án sắp xếp lại lao động

* Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3-5 năm tiếp theo

* Hình thức CPH và vốn điều lệ theo yêu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP

* Dự kiến cơ cấu vốn điều lệ: số cổ phần nhà nước nắm giữ, số cổ phần bán ưu đãi cho các nhà đầu tư chiến lược, số cổ phần ưu đãi cho người lao động

* Phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định

- Tổ chức hội nghị công nhân viên chức lấy ý kiến hoàn thiện phương án

Bước 2: Tổ chức bán cổ phần

1. Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định

2. Tổ chức bán cổ phần, DN có thể lựa chọn một trong các hình thức sau: bán đấu giá trực tiếp tại DN, bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian, bán cổ phần tại trung tâm giao dịch chứng khoán

3 Tổng hợp kết quả bán cổ phần cho cơ quan quyết định CPH

Bước 3: Hoàn tất việc chuyển DN thành CTCP

Trang 20

1. Tổ chức đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất thông qua Điều lệ tổ chức

và hoạt động, phương án sản xuất kinh doanh, bầu HĐQT

2. Căn cứ kết quả Đại hội đồng cổ đông, HĐQT CTCP thực hiện đăng

kí kinh doanh

3. Lập báo cáo tài chính tại thời điểm CTCP được cấp giấy chứng nhận kinh doanh, thực hiện quyết toán thuế, quyết toán chi phí CPH, nộp tiền thu từ CPH về công ty, tổng công ty hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp DN tại Bộ tài chính

4. CTCP mua hoặc in tờ cổ phiếu cấp cho các cổ đông theo quy định hiện hành

- DNNN có vị trí rất quan trọng, góp phần để kinh tế nhà nước thực hiện

được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lực thúc đẩy phân bố

lại dân cư theo hướng công nghiệp hóa, hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, đô thị mới, trang bị lại kĩ thuật, đổi mới công nghệ cho toàn bộ nền kinh

tế quốc dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kĩ thuật, công nhân lành nghề và tạo thêm điều kiện phát triển hạ tầng

- DNNN là công cụ vật chất để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN DNNN đã và đang chiếm vị trí quan

trọng trong nhiều ngành kinh tế chủ chốt, bảo đảm các điều kiện cơ sở hạ

Trang 21

tầng, dịch vụ xã hội ngày một tốt hơn; cung ứng các hàng hóa, vật tư, năng lượng chủ yếu cho sản xuất và đời sống DNNN giữ vai trò quyết định trong việc cung cấp những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân, như điện, sắt thép, xi măng, phân bón, xăng dầu, giấy viết… là lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội thông qua các DN công ích Nhờ có DNNN và lực lượng vũ trang, chúng ta có khả năng ứng phó đặc biệt có kết quả trong việc khắc phục ảnh hưởng và hậu quả thiên tai.

Sự phát triển của DNNN trong các ngành hạ tầng như giao thông, năng lượng, bưu chính viễn thông, dịch vụ… đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển

Mặc dù đã giảm mạnh về số lượng DN và phần tài trợ của Nhà nước, DNNN vẫn đạt được nhiều tiến bộ trong việc bảo đảm hầu hết yêu cầu sản phẩm và dịch vụ công ích, các điều kiện giao thông, điện, nước, thông tin, vật

tư, hàng hóa cho xuất khẩu và thị trường trong nước, đóng góp cho ngân sách Nhà nước

Ngoài ra, DNNN còn đang đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội và ổn định chính trị- xã hội, định hướng công bằng, văn minh, góp phần cùng với khu vực kinh tế khác giải quyết các vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa giáo dục, y tế

- DNNN là khu vực kinh tế có đóng góp tích cực trong hoạt động xuất

nhập khẩu DNNN là đầu mối xuất khẩu hầu hết các mặt hàng quan trọng như

dầu thô, than, gạo, hàng may mặc… Đồng thời, DNNN cũng tạo trên 98% tổng số dự án liên doanh với nước ngoài, với tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân hàng năm là 20%, đã góp phần tạo ra nguồn thu đáng kể cho khu vực này Cũng nhờ vậy, khu vực DNNN chiếm vị trí khá quan trọng trong các nguồn thu của ngân sách nhà nước, các khoản tài trợ trực tiếp và

Trang 22

gián tiếp từ ngân sách cho các DNNN đã giảm làm cho phần đóng góp thực của DNNN vào ngân sách tăng lên.

- Tổng công ty nhà nước thể hiện vai trò nòng cốt, chủ lực trong nền kinh

tế, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, duy trì tỷ lệ tăng trưởng tương

đối cao, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ổn định việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên và tích cực tham gia các chính sách xã hội, huy động nguồn lực nội bộ trong toàn tổng công ty kết hợp với các nguồn vốn khác để điều hòa thực hiện các chương trình đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, khai thác thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước

3.1.2 Những yếu kém, tồn tại của DNNN

Bên cạnh những tiến bộ và vai trò tích cực của DNNN như đã nêu ở trên, những năm qua DNNN trong quá trình hoạt động còn bộc lộ nhiều yếu kém,

nợ trong DNNN hiện nay là quá lớn, khả năng thanh toán lại rất thấp Tỷ lệ

nợ quá hạn hoặc khó đòi chiếm tỷ lệ không nhỏ là một gánh nặng lớn

Tình trạng tài chính không lành mạnh, phần là do lịch sử để lại, phần phát sinh mới chưa được xử lý kịp thời và dứt điểm làm cho hạch toán bị méo

mó và DNNN luôn trong tình trạng bị động ứng phó với số lao động không sắp xếp được và các khoản nợ khó đòi Tư tưởng bao cấp vẫn còn nặng nề Ngoài phần vốn đầu tư ban đầu khi thành lập, hàng năm các DNNN còn được

Trang 23

vay trên 85% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi Nhiều DNNN khi thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc mua sắm thiết bị chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách mà không tìm cách huy động các nguồn vốn khác Có một thực tế là mặc

dù ngân sách luôn thiếu hụt, nhưng Nhà nước vẫn dành một tỷ lệ nhất định

để hỗ trợ cho một số DN nhà nước theo hình thức cấp bổ sung vốn, miễn giảm thuế, xóa nợ, khoanh nợ, giãn nợ, cho vay vốn tín dụng ưu đãi Tuy nhiên việc hỗ trợ này ở nhiều DN, nhiều địa phương không mang lại hiệu quả tương ứng, số nộp vào ngân sách Nhà nước ít hơn phần mà Nhà nước đã hỗ trợ cho DN loại này

- Thứ hai, lao động thiếu việc làm và dôi dư là một khó khăn lớn, ảnh hưởng xấu đến quá trình đổi mới và phát triển DNNN Theo số liệu của Bộ lao

động thương binh và xã hội thì hiện nay số lượng lao động không có việc làm trong DNNN khoảng 6% nhưng trên thực tế nhiều DNNN có số lao động quá lớn so với yêu cầu như Tổng công ty than Việt Nam, các nhà máy xi măng địa phương Số lao động không có việc làm ở các địa phương chiếm tỷ lệ cao hơn, tiếp đến là các Bộ, ngành TW Bên cạnh đó, phần lớn người lao động không qua đào tạo hoặc đào tạo rất hạn chế nên đã ảnh hưởng đến năng suất lao động của DN Khi chuyển sang cơ chế tự chủ của DN thì Nhà nước chưa

có cơ chế giám sát tuyển dụng lao động, trả công lao động gắn với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nên việc tuyển dụng lao động ở nhiều

DN còn rất tùy tiện Ngoài ra, phần lớn DNNN ở nước ta đều hình thành từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp hoặc tiếp quản những cơ sở sản xuất kinh doanh của chế độ cũ, trong giai đoạn chuyển tiếp sang cơ chế mới không có đủ điều kiện tối thiểu, trách nhiệm tài sản không được phân định rõ ràng

- Thứ ba, DNNN còn nhỏ về quy mô, dàn trải, chồng chéo theo cơ quan

quản lý và ngành nghề Đến nay trong cả nước có gần 4000 DNNN với số

lượng DN có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tỷ lệ khá cao Trong lĩnh vực thương

Trang 24

mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng, số DNNN chiếm hơn 25% tổng số DNNN nhưng vốn bình quân chưa bằng 50% mức bình quân của cả nước Nhiều DNNN cùng loại hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và trên cùng một địa bàn tạo ra sự cạnh tranh không đáng

có trong chính khu vực DNNN với nhau Các DN thuộc cùng một ngành kinh

tế kỹ thuật rất phân tán, manh mún, trực thuộc nhiều cơ quan quản lý khác nhau Điển hình là trong các lĩnh vực thương mại, tư vấn, xây dựng Sự liên kết, hợp tác giữa các DNNN với nhau và với các DN thuộc thành phần kinh tế khác còn lỏng lẻo Sự chồng chéo, trùng lặp về ngành nghề, về sản phẩm trong một thị trường còn chưa phát triển và sức mua của nhân dân chưa cao

đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, đầu tư dàn trải trong khi nguồn vốn rất hạn hẹp, quan hệ cung cầu luôn không cân đối

- Thứ tư, trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu là cản trở lớn nhất đối với khả năng cạnh tranh và quá trình hội nhập Phần lớn các DNNN được trang bị

máy móc thiết bị từ nhiều nước khác nhau: Liên Xô cũ, các nước Đông Âu, các nước ASEAN và thuộc các thế hệ khác nhau Số máy móc thiết bị có tuổi trung bình cao nằm hầu hết tại các DNNN Theo số liệu của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường qua khảo sát các xí nghiệp thuộc nhiều ngành trên

cả nước thì máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất của nước ta lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30-50% Mặt khác do hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp nên thời gian khấu hao tài sản cố định kéo dài bình quân từ 10-12 năm, trong khi đó mức khấu hao bình quân của khu vực và trên thế giới là 7-8 năm Hậu quả là khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và thị trường trong nước của các sản phẩm làm ra thấp, nhiều mặt hàng tồn tại được là do chính sách bảo hộ của Nhà nước thông qua thuế nhập khẩu cao Một số mặt hàng sản xuất trong nước như sắt, thép, phân bón,

xi măng… có mức giá cao hơn giá mặt hàng cùng loại nhập khẩu

Trang 25

3 2 CPH xuất phát từ yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó, khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Trong các thành phần kinh tế, thành phần kinh tế Nhà nước là lực lượng kinh tế chủ đạo, vì vậy, vấn đề quan trọng trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chính là vấn đề đổi mới, sắp xếp DNNN

Đổi mới, sắp xếp DNNN bao gồm cả đổi mới hình thức của các DN và cách thức quản lý cũng như cơ chế hoạt động Đổi mới, sắp xếp DNNN gồm các hình thức chính sau:

- Tiến hành sắp xếp, sáp nhập, giải thể, phá sản DNNN để khu vực DNNN có cơ cấu hợp lý, quy mô vừa và lớn, có sức cạnh tranh và hoạt động hiệu quả hơn

- Tổ chức, củng cố và phát triển tổng công ty nhà nước nhằm tập trung nguồn lực của nhà nước vào các ngành then chốt mà nhà nước cần nắm giữ

- CPH một bộ phận DNNN mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn

để huy động thêm vốn, tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

- Thực hiện bán, giao, khoán kinh doanh và cho thuê những DNNN quy

mô nhỏ thua lỗ kéo dài để sử dụng có hiệu quả tài sản của Nhà nước, đảm bảo việc làm và thu nhập của người lao động

Mục tiêu và nhiệm vụ của đổi mới, sắp xếp DNNN nhằm:

- Cất giảm số lượng DNNN đang quá lớn và đang chi phối sâu vào mọi hoạt động của nền kinh tế Việc duy trì DNNN để thực hiện vai trò điều tiết trong nền kinh tế thị trường là đòi hỏi cần thiết nhưng phải cần nhận thức đúng đắn rằng nền kinh tế thị trường chỉ chấp nhận việc duy trì mức độ hợp lý của hệ thống DNNN để đảm bảo chức năng điều tiết hiệu quả

Trang 26

- Phát triển các thành phần kinh tế trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng Do chú trọng vào việc phát triển khu vực DNNN nên khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ và không có điều kiện phát triển trước sự thống trị của khu vực DNNN.

Do vậy, sắp xếp lại DNNN và lựa chọn hình thức CPH có thể coi là cách thức thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên Chỉ có CPH mới làm thay đổi hoàn toàn hình thức kinh doanh cũng như cách thức quản lý trong sản xuất

3.3 Tính ưu việt của công ty cổ phần

3.3.1 CTCP là hình thức tách quan hệ sở hữu với quá trình kinh doanh,

tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng.

Người sở hữu không kinh doanh mà ủy thác cho bộ máy quản lý, dưới hình

thức mua cổ phần và hưởng cổ tức hàng năm, không trực tiếp ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh của công ty Vì vậy, trong CTCP có các thành phần là Đại hội cổ đông và HĐQT Đại hội cổ đông là những người nắm cổ phiếu khống chế, sở hữu phần lớn số lượng cổ phiếu của công ty, tuy nhiên họ chỉ có trách nhiệm trong việc bầu ra HĐQT, là những người trực tiếp quản lý lãnh đạo công ty HĐQT lại đưa ra hoặc thuê Ban giám đốc điều hành, là nhóm người trực tiếp đưa ra quyết định trong các hoạt động sản xuất mang lại lợi nhuận cho công ty và chịu trách nhiệm chính trong công việc, điều này cho phép sử dụng người quản lý chuyên nghiệp Cổ đông được nhận phần chia lãi của công ty hàng năm, và do đó, CTCP chịu trách nhiệm kinh doanh của chính mình mà không phải chịu những tác động bên ngoài như các loại hình DN mà quyền sở hữu và quyền quản lý là một Vì vậy, CTCP đáp ứng được những yêu cầu lý tưởng về công việc kinh doanh quy mô lớn Chính điều này khiến nhiều CTCP phát triển thành các công ty rất lớn trên thế giới

Trang 27

Người quản lý không phải chịu áp lực của các quan hệ sở hữu gây ra, việc phát triển của CTCP phụ thuộc hoàn toàn vào nhân tố quản lý và điều hành.

3.3.2. CTCP là một trong những kênh huy động vốn có hiệu quả.

Có nhiều kênh huy động vốn như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính trung gian Tuy nhiên với những người có đầu óc kinh doanh nhưng lại không có thời gian để tự mình đứng ra điều hành thì việc mua cổ phần của những CTCP là một sự lựa chọn khá tốt Đầu tư vào CTCP thường hấp dẫn và có sức lôi cuốn hơn so với các quỹ tín dụng và ngân hàng, bởi vì người mua cổ phiếu không chỉ mong đợi thu được khoản lợi tức bằng mức gửi vào ngân hàng mà còn hi vọng vào tương lai CTCP làm ăn phát đạt sẽ đưa lại thu nhập cao hơn trong tương lai Mua cổ phiếu mang lợi cổ tức hàng năm tùy thuộc theo tình hình kinh doanh của CTCP, người nào có cổ phiếu khống chế còn được trở thành thành viên của Đại hội cổ đông, có khả năng ảnh hưởng đến các quyết định của CTCP, mà vẫn không phải trực tiếp đứng ra điều hành công ty CTCP huy động được nhiều vốn của các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài, và đặc biệt là của người lao động làm việc tại công ty, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội Hơn nữa, trong quá trình CPH, vốn Nhà nước không hề bị mất đi, ngược lại được bảo toàn và tăng thêm, điều này thể hiện đúng với chủ trương của CPH

3.3.3. CTCP ra đời tạo cơ chế phân bổ rủi ro và tạo điều kiện ra đời thị

Trang 28

nào đó bị phá sản Mặt khác, vốn của CTCP là vốn của nhiều cổ đông khác nhau nên nếu công ty bị phá sản thì đây là hình thức san sẻ rủi ro cho nhiều

cổ đông Vì thế, CTCP có vai trò tạo ra cơ chế phân bố rủi ro đặc thù mà các loại hình DN khác không thể có được CTCP có khả năng tồn tại lâu bền vì vốn góp cổ phần độc lập với các cổ đông Người chủ tiền tệ bỏ tiền ra mua

cổ phiếu của CTCP nhưng không có quyền rút vốn, mà chỉ có quyền sở hữu

cổ phiếu CTCP có thể tồn tại liên tục không bị ảnh hưởng bởi tình trạng của

cổ đông, thậm chí tồn tại ngay cả trong trường hợp nó chỉ đem lại cổ tức bằng với lãi suất của ngân hàng

Ngoài ra, CTCP tạo điều kiện ra đời thị trường chứng khoán CTCP đòi hỏi phát hành, mua bán cổ phiếu và trái phiếu Cổ phiếu và trái phiếu trở thành hàng hóa, việc mua bán này tất yếu cần có thị trường Khi CTCP trở thành hiện tượng kinh tế phổ biến, các CTCP không chỉ phát hành cổ phiếu, trái phiếu mà trong xã hội còn tồn tại cả việc mua đi bán lại cổ phiếu, trái phiếu như một hiện tượng kinh tế bình thường thì thị trường chứng khoán ra đời Sự phát triển của thị trường này dựa trên việc có nhiều cổ phiếu để giao dịch hay không Tuy nhiên số lượng các CTCP của nước ta không lớn, tiềm lực nhỏ bé, việc CPH các DNNN lớn sẽ tạo ra các chủ thể phát hành cổ phiếu

có tiềm lực Hàng hóa chứng khoán sẽ được giao dịch nhiều hơn, chất lượng hơn Điều này tác động trở lại trong việc khuyến khích sự tham gia của công chúng vào việc mua cổ phiếu của DNNN CPH Hơn nữa sự tồn tại của thị trường chứng khoán khiến những cổ đông thực sự yên tâm mua cổ phiếu, làm gia tăng số lượng cổ đông tiềm tàng cho các DNNN CPH Đây là tác động hai chiều tích cực, sự trợ giúp của thị trường chứng khoán đến các DNNN CPH còn ở chỗ tư vấn phát hành cổ phiếu, bảo lãnh phát hành cổ phiếu, giao dịch chứng khoán, điều này giúp xác định chính xác hơn giá trị của DNNN CPH thông qua giá trị các cổ phiếu của họ trên thị trường Sự

Trang 29

tham gia trên thị trường chứng khoán buộc các DN phải thực hiện chế độ tài chính kế toán minh bạch, tình hình sản xuất kinh doanh, lợi nhuận hay các kế hoạch phát triển của công ty đều được lập một cách rõ ràng hơn

Tóm lại, không thể phủ nhận vai trò của các DNNN trong nền kinh tế quốc gia Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các DNNN phải

là lực lượng chủ đạo, mang tính chất định hướng và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên, trước điều kiện hội nhập hiện nay, các DNNN đã xuất hiện những bất cập, yếu kém về năng lực cạnh tranh, khả năng hoạt động Những tồn tại đó ngày càng nhiều, yêu cầu phải có sự sắp xếp, đổi mới các DNNN để DNNN thực hiện tốt vai trò, vị trí, chức năng của mình, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và DNNN nói riêng Trong các hình thức đổi mới, sắp xếp được thực hiện thì CPH là hình thức chiếm tỷ trọng cao nhất, bởi ưu thế của DN sau CPH là rất rõ ràng Chỉ có CPH làm thay đổi hoàn toàn phương thức kinh doanh và quản lý trong DN, đem lại hiệu quả hoạt động cao hơn

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1. Tổng quan tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà

nước trên cả nước

CPH DNNN là một chủ trương quan trọng của Đảng và Chính phủ Việt Nam được thực hiện trong nhiều năm qua và đã trải qua các giai đoạn sau:

1.1 CPH giai đoạn 1992-1996

Giai đoạn 06/1992-04/1996 được coi là giai đoạn thí điểm CPH DNNN

Cơ sở pháp lý để thực hiện CPH là quyết định 200/CT và chỉ thị số 84-TTg (04/03/1993) với nội dung :

- Xác định rõ sự khác biệt giữa CPH và tư nhân hóa

- Mục tiêu là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Những DN được chọn để thí điểm CPH là những DN có quy mô vừa và nhỏ, từ 500-1000 triệu đồng, những DN này là những DN chuyển sang hạch toán kinh tế thật sự, đang kinh doanh có lãi hoặc kinh doanh không có lãi tại thời điểm hiện tại nhưng có triển vọng tốt trong tương lai, tự nguyện đăng kí thí điểm chuyển sang CTCP

- Hình thức: bán cổ phần cho người lao động trong DN, nhưng hạn chế ngưởi mua là các tổ chức kinh tế xã hội trong nước và cả các cá nhân nước ngoài

Trong giai đoạn này, Chính phủ đã xây dựng và phê duyệt Đề án đổi mới

và phát triển DN, chọn 7 DNNN làm thí điểm Tuy nhiên, do trong quá trình thực hiện còn có nhiều vướng mắc nên 7 DN được chọn đã xin rút Kết quả là

có 5 DNNN thực hiện CPH trong giai đoạn này là Công ty |Đại lý liên hiệp

Trang 31

vận chuyển (Tổng công ty hàng hải- Bộ giao thông vận tải), Công ty Cơ điện lạnh (Sở công nghiệp thành phố HCM), Nhà máy Giày Hiệp An (Bộ công nghiệp), Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp), Công ty xuất nhập khẩu Long An (tỉnh Long An) Đây hầu hết là những DN mới thành lập, quy mô nhỏ, chủ yếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong những lĩnh vực không quan trọng Như vậy, giai đoạn này quá trình CPH được thực hiện rất chậm, vì cơ chế vận hành của CTCP và CPH vẫn còn là một vấn đề rất mới

1.2 CPH giai đoạn 1996-2002

- Giai đoạn này được coi là giai đoạn mở rộng thí điểm CPH (5/1996 đến 6/1998): Để đáp ứng nhu cầu bức xúc về vốn của các DNNN và đẩy mạnh CPH, Nghị định số 28/CP đã được ban hành ngày 7/5/1996 Nghị định đã quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ hơn về việc chuyển một số DNNN thành CTCP Lần đầu tiên các vấn đề mục đích, yêu cầu, đối tượng, phương thức tiến hành CPH, thủ tục chuyển đổi, chế độ với người lao động được thể hiện một cách đầy đủ, có hệ thống Tính đến tháng 1/1997 có 3 bộ, 1 tổng công ty, 8 tỉnh thành phố thành lập Ban chỉ đạo CPH Kết quả là hơn 200 DN ở các tỉnh thành phố, tổng công ty 91 đăng kí thực hiện CPH, chiếm 31% số lượng DNNN tại thời điểm đó Tính đến tháng 6/1998 có 25 DNNN chuyển thành CTCP, trong đó, có 3 bộ, 1 tổng công ty, 11 tỉnh thành phố có DN CPH Ngành công nghiệp và xây dựng có số DN CPH nhiều nhất là 12 DN, ngành giao thông vận tải có 3 DN, ngành nông lâm thủy sản có 3 DN, ngành dịch vụ

có 7 DN Xét về quy mô, DNNN CPH đã có quy mô lớn hơn giai đoạn trước rất nhiều, đã có các DN có vốn 120 tỷ và 5 DN có vốn trên 10 tỷ

- Giai đoạn thực hiện CPH theo Nghị định 44/CP từ 1998-2002 Nghị định 44 đã khắc phục và thay đổi một cách cơ bản cơ chế, chính sách CPH hiện hành theo hướng mở rộng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục, đảm bảo chính sách xã hội với người lao động

Trang 32

Biểu 1 : Số lượng DNNN tiến hành đổi mới sắp xếp đến ngày 31/12/1999

Căn cứ vào số liệu thống kê ở bảng trên có thể thấy: Kết quả CPH năm

1999 so với năm 1998 có bước chuyển biến đáng kể Thể hiện ở:

- Số lượng DNNN tiến hành sắp xếp đổi mới năm 1999 là 250 DN, tăng thêm 130 DN, gấp hơn 2 lần so với giai đoạn 1992-1998 (250 DN/120 DN)

- Trong tổng số các DNNN đã tiến hành CPH đến ngày 31/12/1999 thì số DNNN CPH trong năm 1999 có xu hướng tăng mạnh, cụ thể: số lượng DNNN tiến hành CPH trong năm 1999 là 249 DN- chiếm gần 67.3%, số DN CPH giai đoạn 1992-1998 là 116 DN- chiếm 31.35%

Như vậy, chỉ trong một năm 1999, số lượng DNNN CPH đạt được gấp hơn 2 lần (249 DN/116 DN) so với 7 năm trước đó (1992-1998)

Có thể nói sự ra đời của Nghị định 44/CP đã khiến công tác CPH đạt được thành tích vượt bậc so với cả một giai đoạn trước đó Như vậy, xét về tốc độ tiến hành CPH, giai đoạn 1999 đã thực hiện khá tốt, tuy nhiên xét trong

cả tiến trình thì tốc độ CPH còn chậm và nhỏ bé so với số lượng lớn các DNNN giai đoạn đó Nguyên nhân chính của sự tăng nhanh số lượng các DN

là các cơ chế chính sách được ban hành tại Nghị định 44/1999/NĐ-CP đã thể hiện đúng tinh thần của thông báo số 63/TB-TW ngày 4/9/1997 của Bộ chính trị và được phần lớn người lao động trong DN CPH đồng tình Việc hướng dẫn, chỉ đạo của các Bộ, các ngành lần này cũng cụ thể, kịp thời hơn về qui

Trang 33

trình, mẫu biểu, điều lệ mẫu, phương pháp tính toán đã giúp cho các DN chuẩn bị CPH đỡ lúng túng và rút ngắn được thời gian so với trước.

Kết quả CPH phân theo cơ quan chủ quản và vốn điều lệ được phản ánh

Phân tích tình hình CPH ở biểu 2 cho thấy:

- Xét theo cơ quan chủ quản thì trong tổng số DNNN đã sắp xếp theo hướng CPH, số DN trực thuộc tỉnh, thành phố chiếm tỷ trọng cao nhất 74.5% (272 DN/365 DN) Có 67 DN thuộc các Bộ, ngành thực hiện CPH, chiếm 18.3% Có 26 DN thuộc các tổng công ty thực hiện CPH, chiếm 7.12%

Trong từng năm, về cơ bản, tỷ trọng các DN thuộc các tỉnh, thành phố vẫn giữ tỷ trọng cao nhất, sau đó đến các DN thuộc Bộ, ngành và cuối cùng là các DN thuộc các tổng công ty Giai đoạn 1992-1998, trong tổng số các DN CPH, số lượng các DN thuộc các tỉnh, thành phố thực hiện CPH vẫn chiếm tỷ

lệ cao nhất, 93 DN tương đương với hơn 80% Năm 1999, tỷ trọng trên là gần 72% (179 DN/249 DN) Tiêu biểu cho các địa phương thực hiện tốt công tác CPH là thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Thanh Hóa, Bình Định, Lâm Đồng

Trang 34

Tỷ trọng các DN thuộc các Bộ, ngành thực hiện CPH trong giai đoạn 1992-1998 là 16.3% (19 DN/116 DN) Năm 1999, tỷ trọng trên là 20.3% (49 DN/249 DN) Như vậy, xu hướng chung là tỷ trọng các DN CPH đều tăng, dù

là cấp chủ quản nào Tiêu biểu cho các Bộ, ngành làm tốt công tác CPH là Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Xét theo vốn điều lệ, trong tổng số các DN tiến hành CPH thì số DN có vốn điều lệ lớn, trên 10 tỷ đồng là 41 DN, chiếm 11.2% (41 DN/365 DN) Trong khi đó, số DN có vốn điều lệ nhỏ, dưới 10 tỷ đồng lớn hơn rất nhiều,

324 DN, gấp gần 8 lần số lượng các DN có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng, chiếm 88.7% (324 DN/365 DN)

Số lượng DN CPH có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng trong năm 1999 tăng

126 DN so với giai đoạn trước năm 1998, tức là gấp 2.23 lần (225 DN/99 DN)

Thực tế là các DNNN lớn gặp nhiều phức tạp trong định giá tài sản hơn nhiều lần so với các DN nhỏ hơn, hơn nữa, tâm lý chung của các DNNN lớn

là ngại phải thay đổi, do cơ cấu lao động cũng như quản lý quá cồng kềnh Đây cũng là một trong những điểm đáng chú ý trong công tác CPH tại Việt Nam và cần được khắc phục ở những giai đoạn sau này bằng các chính sách

ưu đãi hơn cho các DNNN tiến hành CPH

Sau năm 1999 (từ năm 2000 đến 2002), tốc độ CPH có xu hướng chậm lại và có những sự thay đổi nhất định trong quá trình sắp xếp lại DNNN Biểu

3 dưới đây biểu hiện cho điều đó:

Biểu 3 Kết quả CPH giai đoạn 2000-2002

Năm Số lượng Số lượng DNNN sắp xếp theo Tổng số DNNN

Trang 35

Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN

Như vậy, số lượng DNNN tiến hành CPH đã có sự suy giảm, tốc độ không đồng đều qua các năm, số lượng DNNN sắp xếp theo các hình thức khác có xu hướng tăng mạnh Cụ thể là:

- Năm 2000, số lượng các DN CPH là 212 DN, chiếm 84.8% trong tổng

số các DNNN tiến hành sắp xếp (212 DN/250 DN) Năm 2001, tỷ lệ trên là 52% (205 DN/394 DN) Đến năm 2002, tỷ lệ DNNN CPH trên tổng số DN tiến hành sắp xếp giảm xuống còn 38.4% (164 DN/427 DN) Như vậy, trong

- Trên thực tế, trong hai năm 2001, 2002, tỷ trọng các DNNN thực hiện sắp xếp theo các hình thức khác chiếm ưu thế hơn DNNN CPH Từ 38 DN sắp xếp theo các hình thức khác trong năm 2000; đến năm 2001 là 189 DN, tăng 151 DN, tức là gấp gần 5 lần Năm 2002, số lượng các DNNN tiến hành sắp xếp theo các hình thức khác tăng ít hơn (tăng 74 DN so với năm 2001), bằng 61.6% tổng số DN tiến hành đổi mới, sắp xếp trong năm đó (263 DN/427 DN), chiếm ưu thế hơn hẳn so với hình thức CPH

Trang 36

- Trong giai đoạn này, mỗi năm có 193 DNNN CPH với tốc độ tăng trung bình là 33%/năm.

Như vậy, tốc độ sắp xếp, đổi mới của các DNNN vẫn tăng, trung bình tăng gần 33% /năm, song tốc độ tăng lại không đều Điều này kết hợp với sự sụt giảm số lượng DN tiến hành CPH trong giai đoạn này chứng tỏ có sự vướng mắc lớn trong quá trình thực hiện Nguyên nhân chủ yếu của việc sụt giảm này là do đã xuất hiện những bất cập của Nghị định 44/CP, thể hiện ở một số điểm như nghị định có quy định phân loại DN để sắp xếp, CPH, tuy nhiên sự phân định này chỉ mang tính chất định hướng, chung chung nên đã làm các Bộ, ngành, địa phương lúng túng trong việc lựa chọn các DN đưa vào diện CPH Sự sụt giảm tốc độ này đã thúc đẩy cho sự ra đời của Nghị định mới, thay thế cho Nghị định trước và đẩy nhanh hơn tiến độ CPH DNNN theo tinh thần của Nghị quyết TW3 khóa IX, ngày 19/6/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP, xác định rõ hơn mục tiêu CPH, mở rộng đối tượng có quyền mua cổ phần lần đầu, xóa bỏ khống chế bán cổ phần ưu đãi cho người lao động, khuyến khích bán cổ phần ra bên ngoài, chính sách

ưu đãi về thuế cho các DN CPH, phân cấp mạnh cho các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trong việc quyết định giá trị DN, phê duyệt các phương án cổ phần… Tất cả những tiến bộ trên đã tạo tiền đề cho sự tăng nhanh về số lượng các DN hoàn thành CPH giai đoạn sau năm 2002

1.3 CPH giai đoạn 2003 đến nay

Với sự ra đời của Nghị định 64/2002/NĐ-CP, tình hình thực hiện CPH đã

có nhiều bước tiến đáng kể Cụ thể như sau:

Biểu 4 : Kết quả thực hiện CPH từ năm 2003 đến nay

Năm Số lượng

DNNN CPH

Số lượng DNNN sắp xếp theo các hình thức khác

Tổng số DNNN sắp xếp

Trang 37

Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN

Từ các số liệu ở biểu trên có thể rút ra các nhận xét sau:

- Nhìn chung, tổng số DN tiến hành sắp xếp đổi mới trong các năm 2003,

2004 tăng khá nhanh và nhiều so với giai đoạn trước đó (2000-2002) Cụ thể

là, nếu so với năm 2002 thì tốc độ tăng số lượng DN tiến hành sắp xếp đổi mới là năm 2003 là 121%, tương đương với 518 DN (945 DN/427 DN); năm

2004 là 133%, tương đương với 571 DN (998 DN/427 DN)

Trong hai năm đó, CPH vẫn luôn là hình thức sắp xếp đổi mới được các DNNN lựa chọn nhiều nhất so với các hình thức khác, cụ thể năm 2003 là 532

DN, chiếm 56.3% (532 DN/945 DN); năm 2004 là 753 DN, chiếm 75.45% (753 DN/998 DN) So với năm 2002, số lượng DNNN CPH năm 2003 gấp hơn 4 lần (532 DN/164 DN); năm 2004 gấp hơn 6 lần (753 DN/164 DN) Những con số này chứng tỏ sự đúng đắn trong những thay đổi của Nghị định

NĐ 64/2002/NĐ-CP

- Tuy nhiên, từ năm 2005 đến 2007, số lượng DNNN tiến hành sắp xếp đổi mới có phần suy giảm So với năm 2004, năm 2005 chỉ có 933 DNNN đổi mới sắp xếp, tức là giảm 65 DN (tương đương 6.5%) Năm 2006 có 612 DN đổi mới sắp xếp, giảm so với 2005 là 321 doanh nghiêp, tức là giảm 45% (612 DN/933 DN) Năm 2007, số lượng DNNN đổi mới sắp xếp giảm mạnh hơn nữa, giảm so với năm 2006 là 530 DN, tức là giảm hơn 86%

Giai đoạn 2005-2007 là giai đoạn thực hiện theo Nghị định

187/2004/NĐ-CP, trong đó bổ sung đối tượng CPH là các công ty nhà nước có quy mô lớn,

kể cả các tổng công ty nhà nước, đổi mới phương thức xác định giá trị DN,

Trang 38

đổi mới phương thức bán cổ phần lần đầu, quy định nhà đầu tư chiến lược Chính vì thế, tuy năm 2006, số lượng DNNN CPH chỉ bằng 30% năm 2005 nhưng lại có tổng số vốn nhà nước tại các đơn vị CPH trên 12 tỷ đồng, chiếm tới 64% so với tổng số vốn nhà nước CPH năm 2005, nâng tổng số vốn nhà nước của các DN CPH từ trước đến năm 2006 lên tới 20% giá trị vốn đần tư tại các DNNN Nguyên nhân là do quy mô vốn của DNNN CPH lớn hơn nhiều so với trước đây, có tới 130 đơn vị, chiếm 44.2% tổng số đơn vị CPH

có vốn trên 10 tỷ đồng Hiện nay đã có khoảng 20% số vốn Nhà nước được CPH, trong các CTCP, trung bình nhà nước nắm giữ khoảng 46% cổ phần, người lao động nắm giữ gần 30% và số còn lại thuộc sở hữu của các cổ đông khác

- Trung bình giai đoạn 2003-2007 có 227 DNNN CPH mỗi năm, tốc độ tăng trung bình là gần 20%/năm

Như vậy, nhìn chung, công tác CPH của nước ta đã đạt khá nhiều thành tựu, góp phần đổi mới cơ cấu các DNNN, thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các DN trong thời kì mở cửa

1.4 Thành tựu và hạn chế chủ yếu trong quá trình CPH trên phạm vi cả nước.

1.4.1 Thành tựu đạt được

- Tiến độ CPH từng bước được cải thiện hơn, chẳng hạn, theo thống kê,

10 tháng đầu năm 2003 thực hiện CPH cả nước chỉ đạt khoảng 21.5% kế hoạch (tương ứng với 331 đơn vị)

Tuy nhiên, trong 10 tháng đầu năm 2004 thực hiện CPH đã đạt 57% kế hoạch (tương ứng 425 DN độc lập và 64 bộ phận DN) Năm 2005, số lượng

DN CPH đạt trên 70% kế hoạch

Trang 39

- Nhiều DNNN có quy mô lớn (Công ty sữa Việt Nam, Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh…) và hoạt động trong một số lĩnh vực độc quyền Nhà nước (điện lực, viễn thông…) đã được CPH.

- Nhìn chung sản xuất kinh doanh của các DNNN sau CPH đa dạng sở hữu đều có hiệu quả

1.4.2 Hạn chế

- Vốn Nhà nước được CPH vẫn còn ít mặc dù có tỷ trọng tăng tương đối

nhanh (2004: 6- 7% tăng lên khoảng 12% năm 2005)

- CPH chủ yếu được thực hiện ở các DN nhỏ (có vốn dưới 5 tỷ và dưới

10 tỷ) Rất ít DN có quy mô vốn Nhà nước lớn (hơn 20 tỷ) được CPH

- Tốc độ CPH diễn ra còn chậm, thời gian thực hiện CPH còn khá dài

Theo báo cáo kết quả khảo sát của Dự án hỗ trợ kỹ thuật giám sát chuyển đổi

sở hữu DNNN tại 934 DN đã CPH cho thấy thời gian CPH một DNNN là 437 ngày là rất dài Trong đó, chỉ riêng từ khi thành lập Ban đổi mới DN đến khi xác định xong giá trị DN đã mất 270 ngày, trên 50% thời gian CPH một DN Tại một số Bộ, tổng công ty số lượng DNNN CPH còn nhỏ

2. Thực trạng thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước của

thành phố Hà Nội

2.1. Kết quả thực hiện công tác CPH DNNN của Hà Nội.

2.1.1 Kết quả thực hiện đổi mới, sắp xếp DNNN của thành phố Hà Nội

Thực hiện công tác đổi mới sắp xếp các DNNN theo tinh thần Nghị quyết

TW 3 và Nghị quyết TW 9 (khóa IX), các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, trong từng giai đoạn, UBND thành phố Hà Nội đã xây dựng phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới DNNN thuộc thành phố và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Kết quả của việc thực hiện sắp xếp đổi mới DNNN của Hà Nội giai đoạn 1998-2007 được phản ánh ở biểu sau:

Trang 40

Biểu 5 : Kết quả đổi mới, sắp xếp DNNN của thành phố Hà Nội

TT

Hình thức sắp xếp

Số DN đã sắp xếp Tổng

số

Trong đó 1998-200

0

2001-200 3

Nguồn: Báo cáo của UBND thành phố Hà Nội

Các số liệu ở biểu trên đã đưa ra một bức tranh tổng thể về quá trình thực hiện việc sắp xếp đổi mới DNNN trên toàn thành phố trong 10 năm từ 1998-2007

- Tính đến năm 2007, thành phố Hà Nội đã hoàn thành sắp xếp 344 DNNN Trong tổng số các DNNN tiến hành đổi mới sắp xếp, CPH DNNN là hình thức chủ yếu nhất, 197 DN, chiếm 57.27% (197 DN/344 DN); hình thức sáp nhập là 64 DN, chiếm 19% (64 DN/344 DN), 40 DN chuyển thành công

ty TNHH 1 thành viên chiếm 11.8% (40 DN/344 DN), còn lại là các hình thức khác

- Quá trình sắp xếp đổi mới DNNN không liên tục, đồng đều qua các năm Giai đoạn 1998-2000 là 116 DN, bình quân 58 DN/năm Giai đoạn 2001-2003

có 43 DN, bình quân 22 DN/năm Đến giai đoạn 2004-2006, số lượng các DNNN sắp xếp đổi mới lại tăng khá nhiều, 172 DN, tăng so với giai đoạn trước (2001-2003) là 129 DN, tức là gấp 4 lần Bình quân giai đoạn này là 86

Ngày đăng: 15/12/2012, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Lê Hồng Hạnh. CPH DNNN - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị Quốc gia Khác
2. Ngô Quang Minh. Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DN nhà nước. NXB Thống Kê Khác
3. LeeKangWoo. Quá trình đổi mới DN nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
4. TS. Vũ Minh Trai chủ biên. Thực trạng và giải pháp sắp xếp lại các DN nhà nước của Thành phố Hà Nội. NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 Khác
5. PTS. Nguyễn Ngọc Quang. Vai trò CTCP. NXB Khoa học xã hội 1996 6. Trang web của Chính phủ Việt NamTrang web của UBND thành phố Hà NộiTrang web của Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế TW 7. Các báo cáo của UBND thành phố Hà Nội Khác
8. Các Nghị định, Quyết định, thông tư của Chính phủ có liên quan đến vấn đề CPH DNNN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức khác 5 4 1 - Giải pháp đẩy mạnh Cổ phần hóa các CNHH của Thành phố Hà Nội
Hình th ức khác 5 4 1 (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w