MỞ ĐẦU Đường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung của Đảng ta, ở mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và góp phần phục vụ đường lối đối nội Qua 30 năm đổi[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Đường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung của Đảng ta, ở mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và góp phần phục vụ đường lối đối nội Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường, văn hóa - xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những năm qua
Xu thế hội nhập là một xu thế chung của các nước trên thế giới, và nước
ta cũng không năm ngoài xu thế chung đó Đó là một quá trình lịch sử, một xu thế khách quan, trải qua quá trình phát triển lâu dài, gắn liền với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Đặc biệt trong khi thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã làm cho lực lượng sản xuất của nhân loại phát triển nhanh chóng theo cấp số nhân, xuất hiện nhu cầu mở rộng thị trường thế giới, từ đó xuất hiện quá trình toàn cầu hóa kinh tế thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta Đại hội XII của Đảng đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc
tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều thuận lợi để phát triển đất nước Đảng ta xác định đây là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020; đồng thời là sự thể hiện nhận thức, đánh giá của Đảng ta về vai trò to lớn của công tác đối ngoại trong tình hình mới
Trang 2Với những lý do nêu trên, tôi xin lựa chọn chuyên đề “Đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay” làm bài thu
hoạch hết môn Quan hệ quốc tế
Trang 3NỘI DUNG
1 Cơ sở hoạch định
Xuất phát từ truyền thống ngoại giao của dân tộc: Việt Nam luôn xem trọng giữ gìn hòa khí với nước lớn, hữu nghị hòa bình trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng Lịch sử đã chứng minh điều đó Sau khi đánh bại quân Nguyên mông, vua Trần cử sứ giả sang giản hòa và cứ 2 năm một lần Đại Việt lại cử người sang lập quan hệ ngoại giao hòa hiếu Ngoại giao Việt nam thấm nhuần tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn sâu sắc Điều đó xuất phát từ lý tưởng nhân nghĩa của dân tộc “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn”, “lấy chí nhân thay cường bạo”…Đồng thời nó còn bắt nguồn từ tầm nhìn sâu xa trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng có chung biên giới, xem trọng sự hòa mục
“Hòa ở trong nước thì ít dụng binh; Hòa ở ngoài biên thì không lo bạo động”… Nhất quán quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường “mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất độc lập dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt” Sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ lẫn nhau
Sự chuyển hướng trong đường lối đối ngoại phải phù hợp với xu thế của thời đại Đảng và Nhà nước lấy cục diện quốc tế làm cơ sở để hoạch định đường lối đối ngoại Bẳng chứng là sự chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại từ Nghị quyết số 13 (5/1988) Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới
tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết → Xu thế toàn cầu hoá của thế giới Trước tình hình mới Đảng ta đã kịp thời thay đổi chính sách cho phù hợp với thực tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 - 1991) đề ra
Trang 4chủ trương "hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình" với phương châm "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong công đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" Trên cơ sở đó cho đến nay Việt nam đã đặt quan hệ ngoại giao với hơn 167 nước, tham gia nhiều tổ chức trong khu vực và quốc tế như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), WTO, APEC, phong trào Không liên kết,…
Xem ngoại giao nhân dân có quan hệ mật thiết với hoạt động đối ngoại Xác định hội nhập quốc tế là công việc của toàn dân Phát huy tối đa nội lực dđi đôi với thu hút và sử dụng nguồn lực bên ngoài sẽ tạo thế và lực cho thắng lợi trên mặt ngoại giao
Trong quan hệ ngoại giao luôn tranh thủ sự ủng hộ nhiệt tình của các quốc gia, dân tộc, nhân dân tiến bộ trên thế giới
1.2 Quá trình hình thành và phát triển chính sách đối ngoại đổi mới
1.2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (12/1986) đến Đại hội VII
(6/1991): Gia đoạn hình thành chính sách đối ngoại đổi mới
- Đại hội VI của Đảng (12/1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, đồng thời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới
- Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (5/1998) là bước ngoặt, có tính đột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Đặc biệt là đặt ra vấn đề an ninh kinh tế, cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc, ASEAN, giải quyết mối quan hệ với Campuchia
- Hội nghị Trung ương 6, khóa VI (3/1989) là sự phát triển tiếp theo của đổi mới tư duy đối ngoại
1.2.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VII (6/1991) đến nay: Giai đoạn bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại:
Trang 5- Hội nghị TW 3 khóa VII (1992) đã nêu ra 4 phương châm chỉ đạo, xử lý các vấn đề quốc tế
- Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ (1994) tiếp tục cụ thể hóa hơn nữa chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Việt Nam “muốn làm bạn…”
- Đại hội VIII (6/1996) phát triển chính sách đối ngoại đổi mới, đưa ra chủ trương “xây dựng kinh tế mới, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới”, đồng thời công bố “Việt Nam sẵn sàng làm bạn…” (quan hệ hòa bình, hữu nghị)
- Đại hội IX (4/2001) bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoại độc lập,
tự chủ, mở rộng, đa phương hóa các quan hệ quốc tế “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác…” (mở rộng quan hệ đối ngoại kinh tế)
- Đại hội X (4/2006) của Đảng tiếp tục bổ sung chính sách đối ngoại mới với tuyên bố “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
thế giới…” (không sử dụng từ sẵn sàng).
- Đại hội XI (01/2011) tiếp tục bổ sung hoàn thiện chính sách đối ngoại đổi mới, đưa ra chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối
tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
- Đại hội XII (1/2016) Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc,… thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ…
2 Tư tưởng chỉ đạo về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế
Trong quan hệ đối ngoại, hội nhập KT QT phải quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm:
Một là: bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo
vệ vững chắc Tổ Quốc XHCN, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của VN Một số ví dụ điiển hình cụ thẻ như sau: VN hỗ trợ Malayxia tìm kiếm máy bay mất tích MH 370; hộ trợ quốc tế trong việc phục hồi, giúp đỡ các nạn nhân trong cơn bão Haiyan như Phi-lip-pin gần 100.000USD; Việt Nam tài trợ cho triều tiên 100 triệu tấn gạo trong nhiều năm…
Trang 6Hai là: giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; không chỉ đối ngoại song phương Việt Nam
- Lào - CPC mà còn đối ngoại đa phương với các tổ chức trong khu vực như ASEAN, lớn hơn là các tổ chức trên TG như liên hợp Quốc, WHO, tổ chức ngân hàng thế giới; đa dạng hóa trong lĩnh vực đối ngoại, không chỉ trong lĩnh vực
KT, không chỉ CT, không chỉ văn hóa,
Ba là: nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức đổ thích hợp với từng đối tác, đấu tranh để hợp tác, tránh trực tiếp đối đầu, tránh để
bị đẩy vào thế cô lập
+ trong quan hệ đối ngoại, dù là thực hiện việc hợp tác mở rộng quan hệ
về KT, về văn hóa nhưng luôn giữ vững, đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc Bốn là: mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ CT – XH Coi trọng quan hệ hòa bình, hợp tác với khu vực, chủ động tham gia các tổ chức đa phương, khu vực toàn cầu
+ chúng ta quan hệ với các nước trong chế độ XHCN, đồng thời cũng quan hệ với các nước ở châu phi, ta hỗ trợ lương thực, ta cũng kết bạn với kẻ đứng đầu TBCN như mỹ, ta cũng kết thân với kẻ thù CT như Myc, pháp, Anh, NB
Năm là: kết hợp đối ngoại của Đ’, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, các định hội nhập KT QT là công việc của toàn dân
Sáu là: giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, xã hội; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bả vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảy là: phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiểu quả các nguồn lực bên ngoài, xây dựng nên kinh tế độc lập tự chủ, tạo ra và sử dụng
có hiểu quả các lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình hội nhập KT QT
Trang 7+ Tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực về con người, các thể chế chính sách, là KHCN, là trình độ quản lý, phát huy các nội lực đi đôi với ngoại lực để phát triển
Tám là: trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đẩy mạnh nhịp đổ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của đảng và nhà nước
+ khi gia nhập WTO thì ta đã có lộ trình cụ thể qua từng lĩnh vực, và trong năm
2016 thì ta cam kết hạ giá nhập khẩu ô tô Có lộ trình về xuất khẩu các mặt hàng
ở nước ta đến các nước trên TG thì phải thay đổi các chính sách để phù hợp với quy chế quốc tế
Chín là: giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng, đồng thời phát huy vai trò của nhà nước, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nông dân, tôn trọng và phát huy quyền là chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
3 Những nội dung cơ bản về chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
3.1 Tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, nhiệm vụ
3.1.1 Tư tưởng chỉ đạo
- Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển
- Chính sách đối ngoại đa phương hóa (mở rộng quan hệ với các chủ thể trên thế giới), đa dạng hóa (nhiều hình thức mở rộng quan hệ: toàn diện, chiến lược…; mở rộng quan hệ trên nhiều lĩnh vực, nhiều kênh quan hệ: ngoại giao nhà nước, đối ngoại Đảng – 228 đảng trên thế giới, đối ngoại nhân dân)
3.1.2 Tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, nhiệm vụ
a Nguyên tắc
- Nguyên tắc bao trùm: hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội
Trang 8Năng động, linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các mối quan hệ.
+ Nghiên cứu tình hình thế giới, cân đối thế và lực của đối tác, đối tượng
để có đối sách phù hợp
+ Cố gắng tránh: Tránh dẫn đến đối đầu; tránh dẫn đến xung đột; Tránh bị bao vây, cô lập
- Nguyên tắc cụ thể:
+ Hòa bình, hợp tác, phát triển;
+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước;
b Nhiệm vụ đối ngoại
- Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân
- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…
- Nâng cao vị thế đất nước
- Góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
3.2 Phương châm chỉ đạo hoạt động đối ngoại
- Bảo đảm lợic ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
- Giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
- Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế
- Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới
3.3 Những hoạt động đối ngoại chủ yếu hiện nay
- Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người
Trang 9- Thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện và có hiệu quả các nước trong khu vực
- Đẩy mạnh công tác văn hóa – thông tin đối ngoại
- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
- Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại
3.4 Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Kế thừa chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng khẳng định hội nhập quốc tế là quyết sách chính trị quan trọng, là định hướng mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi bước vào thời kỳ mới, phản ánh sự phát triển về tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sở nhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam Chủ trương hội nhập quốc tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
3.4.1 Mục tiêu
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế phải củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tang cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới
3.4.2 Về quan điểm chỉ đạo
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ tuốc tế; quán triệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn được tổng kết trong Cương lĩnh; đồng thời phải chú trọng một
số quan điểm chỉ đạo sau:
Trang 10Một là, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược
lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Hai là, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống
chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Mọi cơ chế, chính sách phải phát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ba là, hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ
và thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia; gắn kết chặt chẽ với việc tăng cường mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vực trong nước
Bốn là, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác
phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh
tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với
lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước
Năm là, hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định
lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia
Sáu là, nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia
đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy
tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế, chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố
và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào