1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài thu hoạch môn kinh tế phát triển mô hình tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở việt nam

12 26 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài thu hoạch môn kinh tế phát triển mô hình tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Người hướng dẫn PT. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Phát triển
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 29,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2 1 1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 2 1 2 Phát triển kinh tế 2 1 3 Mô hình tăng trưởng kinh[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2

1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 2

1.2 Phát triển kinh tế 2

1.3 Mô hình tăng trưởng kinh tế: 3

1.4 Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế: 3

II SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 7

KẾT LUẬN 9

Trang 2

MỞ ĐẦU

Công cuộc đổi mới ở nước ta đã hơn 30 năm nay, nền kinh tế đã thực hiện những cải cách, đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn Từ một nền kinh tế có quy mô rất nhỏ bé, tích lũy thấp, năng lực sản xuất yếu kém, phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, đến nay Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế (TTKT) liên tục với tốc độ khá cao so với nhiều nước trên thế giới Thành tựu của chuyển đổi mô hình TTKT đã góp phần đưa Việt nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp trong nhóm các nước đang phát triển và cải thiện đáng kể mức sống của nhân dân

Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có sự tăng trưởng liên tục, tốc độ cao, góp phần giải quyết tốt các vấn đề về lao động, việc làm, thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, tiến bộ

và công bằng xã hội từng bước được thực hiện, nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu, đầy đủ vào nền kinh tế khu vực và thế giới Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao

Tuy nhiên, nhìn nhận một các khách quan tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chưa thật sự tương xứng với tiềm năng và cơ hội mà đất nước đã có được Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua vẫn chủ yếu theo bề rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả của tăng trưởng hạn chế, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa còn thấp kém những thành tựu và tiến bộ đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước Trình độ phát triển kinh tế còn thấp so với các nước trên thế giới và ngay

cả một số nước trong khu vực Xem xét ở ba khía cạnh để tăng trưởng bền vững là: kinh tế, xã hội và môi trường để thấy rõ còn nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết

Trang 3

Trong khuôn khổ chương trình cao cấp lý luận chính trị, em chọn chủ đề

“Mô hình tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” để viết bài thu hoạch môn Kinh tế và phát triển.

Trang 4

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, ĐỔI MỚI

MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Là sự gia tăng về quy mô, sản lượng hàng hóa dịch vụ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

1.2 Phát triển kinh tế

Có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh

tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự gia tăng về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội

Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu  cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Ðể xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc: 

- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

- Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người. 

- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất. 

- Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được. 

- Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất. 

- Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân. 

- Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình. 

- Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển

và bảo vệ. 

- Xây dựng một khối liên minh toàn cầu

Trang 5

Phát triển bền vững đang là thách thức cho mọi quốc gia, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.việc ựa chọn con đường, biện pháp

và thể chế, chính sách đảm bảo phát triển bền vững luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi người trong bước đường phát triển. 

1.3 Mô hình tăng trưởng kinh tế:

Mô hình tăng trưởng kinh tế là một cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng Mục đích của các mô hình này là mô tả phương thức vận động của nền kinh tế thông qua mối liên hệ nhân quả giữa các biến số quan trọng trong quá trình tăng trưởng sau khi đã tước bỏ đi sự phức tạp không cần thiết Những diễn đạt này có thể dưới dạng lời văn, sơ đồ hoặc toán học

Ngay từ khi mới ra đời, các mô hình tăng trưởng kinh tế đã trở thành công

cụ hữu ích, giúp các nhà kinh tế mô tả phương thức vận động của nền kinh tế một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn

1.4 Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế:

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo nghĩa phổ biến là việc thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế theo chiều hướng tiến bộ nhằm tối ưu hóa các nguồn lực của quốc gia với một cơ cấu nền kinh tế hợp lý, hiệu quả, hiện đại, nhằm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng phát triển bền vững

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, bởi để thực hiện việc đổi mới mô hình tăng trưởng cần phải cơ cấu lại nền kinh tế, một mặt nhằm khắc phục những khuyết tật, những hạn chế nảy sinh trong quá trình tăng trưởng; mặt khác, xây dựng một cơ cấu kinh tế đáp ứng yêu cầu của mô hình tăng trưởng

Trong điều kiện hiện nay, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế phải là quá trình hiện thực hiệu quả 3 trụ cột: kinh tế - xã hội - môi

Trang 6

trường Đây là những tư tưởng quan trọng nhất, cũng là những nét mới trong tư duy phát triển hiện đại

Việc cơ cấu lại nền kinh tế phải được xác định gắn với việc cơ cấu lại các ngành kinh tế, kỹ thuật, các lĩnh vực cho đến các bộ phận… của nền kinh tế quốc dân

Như vậy, có thể nói đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế là xác lập, định hướng cách thức vận hành nền kinh tế để đạt các mục tiêu tăng trưởng, phát triển, còn cơ cấu lại nền kinh tế là việc thực hiện hay hiện thực hóa cách thức vận hành nền kinh tế đã được lựa chọn

Để đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, cần đánh giá một cách khách quan về mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế hiện có kể cả mặt được

và chưa được, nhất là những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân thì mới định hình việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế

II SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện và đạt được kết quả bước đầu Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý Mô hình tăng trưởng từng bước chuyển đổi theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu; năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và năng lực cạnh tranh quốc gia được cải thiện Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ có bước phát triển Kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, quan tâm đầu tư

Cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng đạt kết quả bước đầu, không để xảy ra tình trạng đổ vỡ, mất an toàn hệ thống Nợ xấu và các ngân hàng yếu kém đang từng bước được xử lý Quản trị doanh nghiệp nhà nước và

Trang 7

quản lý vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp tiếp tục được hoàn thiện Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá; vốn đầu tư nhà nước tiếp tục được bảo toàn và phát triển Hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, bước đầu hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải

Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, phương thức tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới; sản xuất công nghiệp từng bước được phục hồi; giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá Hội nhập kinh tế quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả tích cực; đã hoàn tất việc đàm phán, ký kết một số hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA)

Tuy nhiên, nhìn chung mô hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mô hình cũ, chậm được đổi mới; tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng trưởng thấp Phương thức phân bổ nguồn lực xã hội chưa có sự thay đổi rõ rệt; năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp còn thấp Kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, bội chi ngân sách còn lớn, nợ công tăng nhanh, nợ chính phủ đã vượt trần cho phép, áp lực trả nợ lớn

Việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đạt mục tiêu đề ra Thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được cải thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều trở ngại Việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại còn nhiều khó khăn Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, nhất

là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 8

Cơ cấu lại nền kinh tế triển khai chậm, thiếu đồng bộ, chưa thật sự gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; chưa gắn kết chặt chẽ giữa tổng thể với các trọng tâm Cơ cấu lại đầu tư chưa gắn với cơ cấu lại tài chính ngân sách nhà nước, bảo đảm an toàn nợ công Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn; nợ xấu tiềm ẩn trong nền kinh tế còn cao, an toàn hệ thống còn nhiều bất cập; thiếu cơ chế xử lý dứt điểm, triệt để các tổ chức tín dụng yếu kém và nợ xấu Ðổi mới, sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chưa đạt yêu cầu, tỉ lệ vốn được cổ phần hoá thấp; quản trị doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém

Cơ cấu lại nông nghiệp chưa thực sự gắn với xây dựng nông thôn mới; sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu theo mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún, phân tán; liên kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ còn nhiều bất cập; sự tham gia và đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế Cơ cấu lại các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chưa thực chất, hiệu quả thấp

Cơ chế, chính sách điều phối phát triển vùng chưa đủ mạnh Sự phát triển giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng còn thiếu tính liên kết, bị giới hạn bởi địa giới hành chính; chưa phát huy được các lợi thế cạnh tranh của từng địa phương và của toàn vùng; một số vùng kinh tế trọng điểm chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa phát huy được vai trò đầu tàu, trở thành trung tâm kết nối cho phát triển kinh tế vùng

Những yếu kém, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về đổi mới mô hình tăng trưởng chưa đầy

đủ, có nơi còn bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ và tư duy nhiệm kỳ Việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh

tế ở các cấp, các ngành và địa phương còn thụ động, chậm trễ Đột phá về thể chế, nhất là thể chế thị trường các yếu tố sản xuất để huy động, phân bổ và sử dụng có

Trang 9

hiệu quả nguồn lực phát triển còn bất cập Đổi mới, hoàn thiện thể chế bên trong và hội nhập với bên ngoài chưa được tiến hành đồng bộ; hội nhập quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH

TẾ Ở VIỆT NAM

Một là, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ vào các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp có đủ năng

lực ứng dụng công nghệ mới bằng cách tạo môi trường đầu tư lành mạnh, làm cho yếu tố công nghệ trở thành điều kiện quyết định giành thắng lợi trong cạnh tranh, giảm các ưu tiên, ưu đãi cho một số loại hình doanh nghiệp; có chính sách thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ; có các giải pháp quyết liệt để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ mới; thúc đẩy tăng tốc chuyển giao công nghệ vào các ngành, lĩnh vực bằng cách thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ, phát triển doanh nghiệp khoa học - công nghệ để tăng nguồn cung sản phẩm công nghệ mới cho thị trường Thu hút vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn, chọn các nhà khoa học đầu đàn làm chủ các công trình nghiên cứu khoa học Quy định mức thù lao, mức thưởng thỏa đáng đối với những người có năng lực sáng tạo, có công trình khoa học được áp dụng vào thực tiễn Tăng cường chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại trong các dự án FDI

Hai là, đổi mới chính sách tài chính để góp phần thực hiện chuyển đổi quá

trình tăng trưởng từ chỗ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư mà phần lớn là từ NSNN

và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, sang quá trình tăng trưởng dựa trên cơ sở tăng mạnh vốn đầu tư của khu vực dân doanh để khai thác tiềm năng của đất nước Kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á cho thấy, cần phải tìm cách tăng tỷ trọng

Trang 10

tích lũy đầu tư của khu vực dân doanh trong tổng số vốn tích lũy đầu tư của toàn xã hội Ở Việt Nam, đây là khu vực đầu tư đang có hiệu quả cao gấp đôi so với khu vực kinh tế nhà nước Giảm tỷ lệ vốn đầu tư từ NSNN, vì hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước thấp và có xu hướng giảm

Để khuyến khích tích lũy vốn đầu tư ở khu vực dân doanh thì chính sách tài chính quốc gia cần được đổi mới theo hướng: Chính sách thu phải đảm bảo nâng cao tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp, đặc biệt là cho khu vực dân doanh bằng cách giảm tỷ lệ huy động GDP vào NSNN Hiện nay tỷ lệ này là khoảng 26%

- 27%, theo nhiều chuyên gia kinh tế, đó là tỷ lệ cao, cần giảm xuống còn khoảng 15% - 16% Về chính sách chi NSNN cần điều chỉnh theo hướng tăng chi cho các mục tiêu, nhiệm vụ xã hội, giảm chi cho đầu tư và chi hành chính, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, huy động các nguồn lực xã hội cho tăng đầu tư phát triển thông qua kênh phát hành trái phiếu Thu hẹp phạm vi trang trải của ngân sách, mở rộng phạm vi xã hội hóa, áp dụng mô hình phối hợp công và tư (mô hình PPP - Public Private Partnerships) trong hoạt động dịch vụ công Cơ cấu lại đầu tư công theo hướng ưu tiên cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng sâu, vùng xa Giảm tỷ trọng đầu tư của Nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội không chỉ làm giảm tỷ lệ bội chi ngân sách mà còn hạn chế được mức nợ công

Ba là, phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng, không ngừng nâng cao chất lượng. Thực hiện các giải pháp quyết liệt nâng cao chất lượng giáo dục, đào

tạo, chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật, trung cấp để thay đổi cơ cấu lao động hiện nay Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục - đào tạo theo hướng tăng cường đào tạo các kỹ năng chuyên sâu, giảm tải thời gian học lý thuyết, tăng cường thời gian thực hành cho học sinh, sinh viên Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đáp ứng sự đổi mới của chương trình giáo dục - đào tạo Tăng cường nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở đào tạo, chú

Ngày đăng: 09/02/2023, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w