BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI NGUYỄN THỊ THƠ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NSNN CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM Chuyê[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THƠ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN NSNN CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
Ở HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỨC MINH
Hà Nội, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa họcđộc lập của tôi Những số liệu trong luận văn là hoàn toàntrung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu
do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướngdẫn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thơ
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NSNN CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 5
1.1 Tổng quan về đầu tư XDCB 5
1.1.1 Những vấn đề chung về đầu tư XDCB 5
1.1.2 Vốn đầu tư XDCB từ NSNN 16
1.2 Hiệu quả vốn đầu tư XDCB 20
1.2.1 Khái niệm 20
1.2.2 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả VĐT xây dựng cơ bản 21
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách vào đầu tư XDCB 22
1.3 Sự cần thiết sử dụng hiệu quả nguồn vốn NSNN chi đầu tư XDCB 25
1.4 Tình hình sử dụng vốn NSNN chi đầu tư XDCB ở một số tỉnh thành trong nước và nước ngoài 35
1.4.1 Tỉnh Bắc Ninh 35
1.4.2 Tỉnh Vĩnh Phúc 36
1.4.3 Thành phố Đà Nẵng 37
1.4.4 Một số nước khác 38
1.4.5 Những bài học sử dụng vốn NSNN chi đầu tư XDCB rút ra từ tham khảo của các nước và các tỉnh, thành phố trong cả nước 40
Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN Ở HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 42
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 42
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 42
Trang 42.2 Tình hình thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện Thanh Liêm giai đoan
2013 – 2015 56
2.3 Thực trạng hoạt động đầu tư XDCB từ NSNN huyện Thanh Liêm giai đoạn 2013 -2015 57
2.3.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển huyện Thanh Liêm từ năm 2013 - 2015 57
2.3.2 Hiệu quả sử dụng vốn XDCB từ NSNN ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 59
2.4 Đánh giá tình hình sử dụng vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Liêm 59
2.4.1 Ưu điểm 59
2.4.2 Hạn chế 61
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỬ DỤNG VỐN NSNN CHI ĐẦU TƯ XDCB TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 77
3.1 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đến năm 2020 77
3.1.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn 77
3.1.2 Mục tiêu tổng quát 78
3.1.3 Các mục tiêu cụ thể 79
3.2 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn NSNN chi cho đầu tư XDCB 81
3.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước phải phù hợp với mục tiêu phát tiển của đất nước và các Nghị quyết của Đại hội Đảng 81
3.2.2 Kết hợp chặt chẽ ba lợi ích kinh tế, lợi ịch xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân người lao động 84
3.2.3 Hiệu quả sử dụng VĐT cần được xem xét toàn diện trong suốt cả quá trình đầu tư hoàn chỉnh 85
3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước phải đặc biệt chú trọng nhân tố con người 86
Trang 53.2.5 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước phải quantâm kết hợp giữa nội lực và ngoại lực 873.2.6 Kết hợp chặt chẽ lợi ích kinh tế - xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụngvốn đầu tư của Nhà nước 873.3.7 Quan điểm của tỉnh Hà Nam với việc hiệu quả sử dụng vốn NSNN chicho đầu tư XDCB 883.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN
ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 893.3.1 Về quản lý công tác quy hoạch, kế hoạchđề ra 903.3.2 Chủ trương đầu tư phải phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phùhợp với quy hoạch được duyệt 903.3.3 Về cơ chế quản lý các dự án đầu tư, quản lý chất lượng công trình 913.3.4 Tăng cường cải cách hành chính, chống tiêu cực, phiền hà ở các cơquan nhà nước liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng cơ bản 933.3.5 Thực hiện cơ chế dân chủ, công khai, minh bạch trong đầu tư xâydựng cơ bản 943.3.6 Chú trọng công tác đào tạo 953.3.7 Nâng cao chất lượng giải phóng mặt bằng, tái định cư 953.3.8 Tiếp tục đẩy mạnh công tác quản lý, thanh quyết toán vốn đầu tư XDCB
từ NSNN 963.4 Một số kiến nghị 973.4.1 Kiến nghị đối với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng vàcác chủ đầu tư 973.4.2 Kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương 98
KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Dân số trung bình của Thanh Liêm năm 2013 - 2015 44
Bảng 2.2: Tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2005 - 2010, 2011 - 2015 48
Bảng 2.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Liêm 48
Bảng 2.4: Tình hình thu chi ngân sách giai đoạn 2013 -2015 57
Bảng 2.5: Nguồn vốn đầu tư phát triển huyện Thanh Liêm giai đoạn 2013 -2015 58
Bảng 2.6: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Thanh Liêm giai đoạn 2013 - 2015 59
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2020 80
Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu và cân đối vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2020 81
Biểu đồ 2.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Liêm 49
Sơ đồ 1.1 Trình tự trong hoạt động đầu tư 10
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN trên địa bàn huyện Thanh Liêm 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, việc huy động, quản lý và sử dụngvốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư XDCB từ NSNN nói riêng
đã có đóng góp quan trọng vào việc đầu tư xây dựng nhiềucác công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trườngthuận lợi góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, xóa đói giảmnghèo và cải thiện đời sống nhân dân
Bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để đi vào hoạt độngđều phải thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống kết cấu hạtầng kinh tế - kỹ thuật (nghĩa là có những đầu tư nhất địnhcho xây dựng cơ bản (XDCB)) Vì vậy, đầu tư XDCB luôn làvấn đề được đặc biệt quan tâm Trong những năm qua, đầu tưXDCB đã góp phần không nhỏ đối với tăng trưởng và pháttriển nền kinh tế của nước ta Rất nhiều công trình về các lĩnhvực như: năng lượng, công nghiệp khai thác, chế biến, cơ sở
hạ tầng, nông, lâm nghiệp được đầu tư xây dựng làm tiền đềcho sự phát triển kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn cònnhiều tồn tại, hạn chế, đặc biệt là hiệu quả của đầu tư XDCBcòn thấp; thất thoát và lãng phí trong đầu tư XDCB còn nhiều
và diễn ra ở tất cả các khâu như: Chủ trương đầu tư; lập dự
án, thiết kế; thi công xây dựng; quản lý khai thác…Đây là mộttrong những vấn đề bức xúc của toàn xã hội, lầ một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của bộ máy chính trị và toàn thểnhân dân cần phải đồng bộ thực hiện
Trang 9Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ XI của Đảng nêu
ra hạn chế, khuyết điểm qua 10 năm thực hiện chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) giai đoạn 2001-2010 đó là:
… “Đầu tư vẫn dàn trải Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu
tư còn thấp, còn thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn vốn đầu
tư của Nhà nước Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số Chất lượng nhiều công trình XDCB còn thấp”…
Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạcHội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
đã chỉ rõ: “Trong 5 năm tới, cần tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công;
cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là
đầu tư công chỉ có thể thành công trên cơ sở tiếp tục đổi mới
tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạchphát triển KT-XH hằng năm và 5 năm để huy động, phân bổ
và sử dụng có hiệu quả nhất, theo thứ tự ưu tiên hợp lý nhấtcác nguồn lực của Nhà nước và xã hội, nội lực và ngoại lựccho đầu tư phát triển theo quy hoạch…Theo đó, cần khẩntrương soát xét, điều chỉnh luật pháp, chính sách và cơ chếquản lý đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng; đặc biệt làvấn đề phân cấp quản lý Nhà nước về thu chi ngân sách vàđầu tư Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiênlàm căn cứ để phê duyệt hay từ chối hoặc cắt giảm các dự án
Trang 10đầu tư, nhất là dự án đầu tư công Khắc phục tình trạng pháttriển quá nhiều các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm côngnghiệp, khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản mà chưatính toán đầy đủ khả năng thu hút các doanh nghiệp vào đầu
tư, hiệu quả KT-XH và tác động đến môi trường; cũng như tìnhtrạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng nguồn lựchiện có, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra nhiều năm, dẫn đếnđầu tư dàn trải, kéo dài thời gian thi công, nợ XDCB lớn, gâylãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp”
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, quátrình thực hiện đầu tư XDCB tại tỉnh Hà Nam nói chung và ởhuyện Thanh Liêm nói riêng đã có những kết quả thành côngnhất định, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đãđạt được khá cao so với mức bình quân chung của cả nướctrong nhiều năm Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ quân
và dân trong huyện đã nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợiNghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đề ra, hoànthành toàn diện, vượt mức các chỉ tiêu chủ yếu, trong đó cónhiềuchỉ tiêu vượt ở mức cao Nổi bật là: kinh tế tăng trưởngcao, GDP tăng bình quân trên 13%/năm; cơ cấu kinh tếchuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp -xây dựng và dịch vụ…Tuy vậy, hiệu quả quản lý vốn đầu tưXDCB chưa cao; tồn tại, hạn chế còn xảy ra ở tất cả các khâu.Thất thoát trong đầu tư XDCB chưa được khắc phục triệt để
Từ những vấn đề nêu trên, với những kiến thức đã được
học và kinh nghiệm từ công tác thực tế, đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN chi đầu tư xây dựng cơ bản ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”
Trang 11được lựa chọn làm luận văn thạc sĩ kinh tế nhằm góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung, đặc biệt làvốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước ở huyện Thanh Liêm,tỉnh Hà Nam.
Qua nghiên cứu này giúp cho các cấp lãnh đạo quan tâm
và thấy được sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốnđầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư vốn từNgân sách Nhà nước và hiệu quả sử dụng của các nguồn vốn này; tìm ranhững nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí, sử dụng kém hiệuquả vốn ĐTXDCB từ đó đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế,khắc phục những thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
từ Ngân sách Nhà nước của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong thời giantới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn đi vào hệ thống hóa lý luận về quản lý vốn đầu
tư, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN Trên cơ sở lý luận, đisâu phân tích đánh giá thực trạng vấn đề quản lý vốn đầu tưXDCB từ NSNN trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam,qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảquản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở huyện ThanhLiêm, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Là hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư XDCB từ NSNN
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện ThanhLiêm tỉnh Hà Nam trong khoảng thời gian từ 2013 - 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của quá trình nghiên cứu đề tài là dựatrên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước Việt Nam về phát triển kinh tế để nhận thức xem xéttình hình một cách hiện thực khách quan
Ngoài ra có các phương pháp được áp dụng như: Phương pháp khảo sát hiện trạng tại địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh
Hà Nam để thẩm tra, đánh giá tình hình và có giải pháp phù
hợp; phương pháp thu thập và xử lý thông tin để nắm thêm
về tình hình quản lý vốn đầu tư XDCB hiện nay nói chung…giúp cho việc nhận định, phân tích tình hình và giải pháp cótính bao quát hơn; kết hợp với các phương pháp khác như:
thống kê, phân tích, so sánh, chuyên gia…
* Kết cấu luận văn
Được kết cấu thành 3 chương:
CHƯƠNG 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn
NSNN chi đầu tư XDCB
CHƯƠNG 2: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở huyện
Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2013 – 2015
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN
chi đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN NSNN CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
Trang 131.1 Tổng quan về đầu tư XDCB
1.1.1 Những vấn đề chung về đầu tư XDCB
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư đó là việc bỏ vốn
để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng các tài sản cố định nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nềnkinh tế quốc dân XDCB, nguồn lực vật chất, nguồn lực và trí tuệ để xây dựng,sửa chữa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng đào tạo nguồnnhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên nhằm duy trì tiềm lực hoạt độngcủa các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền KT-XH, tạo việc làm,nâng cao đời sống của mọi người trong xã hội Đầu tư XDCB bằng nguồn vốnnhà nước là việc sử dụng phần vốn NSNN dành cho đầu tư XDCB, vốn tíndụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và VĐT của doanh nghiệp Nhànước, dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh tế quốcdân, các dự án công, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí quyết định đến sựhình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Đầu tư XDCB bằng vốn Nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạchNhà nước, nhằm mục thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hộitrong từng thời kỳ
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng, đòi hỏi nhà quản lý phải nắmvững để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp Bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất: đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và
tái sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCBchính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêudùng lớn hơn trong tương lai
Để tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế, là những điều kiện kỹ thuật cầnthiết đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: xây dựng hệ thống hạ
Trang 14tầng, các nhà máy và mua sắm các thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiếnhiện đại…đầu tư XDCB cần một lượng vốn lớn.
Muốn đáp ứng được điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi tiềm năngnguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ nền kinh tế, huy động mọinguồn lực trong các tầng lớp dân cư, đồng thời phải tìm mọi giải pháp để thuhút các nguồn lực nước ngoài như: vốn ODA, FDI, NGO…
Xuất phát từ đặc điểm này đòi hỏi chúng ta trong việc huy động và sửdụng vốn đầu tư XDCB phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêudùng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ xuất hiện mâu thuẫn gaygắt giữa đầu tư và tiêu dùng
Thứ hai: quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động rất
dài mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩmXDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyềnhàng loạt mà mỗi công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụthuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục vàphân tán Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10 năm, 20 năm,
50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án
Quá trình đầu tư XDCB gồm 3 giai đoạn: xây dựng dự án, thực hiện dự
án và khai thác dự án
Xây dựng dự án và thực hiện dự án là hai giai đoạn có thời gian dàinhưng lại không tạo ra sản phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫngiữa đầu tư và tiêu dùng Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bấtđộng hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này.Muốn nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần chú ý tập trung các điều kiệnđầu tư có trọng điểm, nhằm đưa nhanh các dự án đầu tư vào khai thác sửdụng
Khi xét hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần quan tâm xem xét cả 3 giai đoạncủa quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạnthực hiện dự án, tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà không chú ý
Trang 15thời gian khai thác dự án Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư XDCBmang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảotrình tự XDCB Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được cácnhà đầu tưđặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn cho thích hợp đểgiảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ động vốn ở sản phẩm dở dang.
Thứ ba:đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư
chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhậnđược những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai,
“Chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh tế
đã nói rằng đấu tư là đánh bạc với tương lai
Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trìnhđầu tư kéo dài Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiênảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hếtkhi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá cáccông trình được đầu tư Sự thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sởsản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thayđổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho nhà đầu tư
Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâmđến lợi ích của các nhà đầu tư Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất làhoàn đủ vốn đầu tư cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế và tránhđược rủi ro Vì vậy các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến là
ưu đãi, miễn giảm thuế, khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chế thanh toánvốn nhanh, kịp thời…
Thứ tư: Sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như
nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tính cốđịnh gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phải đượcquy hoạch cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù
Trang 16giải toả giải phóng mặt bằng, khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tưkhó di chuyển đi nơi khác.
Sản phẩm của đầu tư XDCB là những TSCĐ, có chức năng tạo ra sảnphẩm và dịch vụ khác cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn, do nhiều người,thậm chí do nhiều cơ quan đơn vị khác cùng tạo ra
Sản phẩm của đầu tư XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuấtkhông theo một dây chuyền mà có tính cá biệt Mỗi công trình đều có điểmriêng nhất định Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàntoàn giống nhau Với những công trình công nghệ cao, có vòng đời thay đổicông nghệ ngắn như: công trình bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin,điện tử… thì việc thay đổi công nghệ, kiểu dáng luôn xảy ra
Giá thành sản phẩm XDCB rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theotừng giai đoạn Sản phẩm đầu tư XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹthuật mà còn mang tính nghệ thuật Sản phẩm đầu tư XDCB phản ánh trình
độ kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sửnhất định của một đất nước
Quá trình XDCB bị tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên như tình hình địachất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Trong đầu
tư XDCB chu kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn Vì vậy,chọn công trình để bỏ vốn thích hợp nhằm giảm mức tối đa thiệt hại do côngtrình xây dựng dở dang là một thách thức lớn đối với các nhà thầu
Nơi làm việc và lực lượng lao động không ổn định là điều bất lợi cho quátrình XDCB, dẫn đến thời gian ngừng làm việc nhiều, năng suất lao động thấp,
dễ gây tâm lý tạm bợ, tuỳ tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ công nhâncông trường
Để thực hiện một dự án đầu tư XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, córất nhiều đơn vị tham gia thực hiện Trên một công trường có thể có hàngchục đơn vị làm các công việc khác nhau, nhưng các đơn vị này cùng hoạtđộng trên một không gian và thời gian, vì vậy trong tổ chức thi công cần phải
Trang 17phối hợp chặt chẽ với nhau bằng các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng Tuyvậy hiện nay cách thức giao nhận thầu chưa được cải tiến, giá bán được địnhtrước khi chế tạo sản phẩm Tức là trước khi nhà thầu biết giá thành thực tếcủa mình, việc ước lượng đúng đắn giá cả và phương tiện thi công rất khókhăn vì phải dựa trên những giả thiết mà rất có thể khi thi công thực tế bị phủđịnh.
Điều phụ thuộc này buộc nhà thầu phải nắm chắc dự toán và kiểm trathường xuyên trong quá trình thi công
Ngoài những đặc điểm của đầu tư XDCB nói chung thì đầu tư XDCBcủa NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốnđầu tư XDCB bị tách rời nhau
Vốn đầu tư XDCB của NSNN là thuộc quyền sở hữu Nhà nước Nhànước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành chođầu tư XDCB và là người đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết địnhđầu tư, phê duyệt thiết kế dự toán (tổng dự toán) Song quyền sử dụng vốnđầu tư XDCB Nhà nước lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủđầu tư, các Ban quản lý dự án Chủ đầu tư và các Ban quản lý dự án là ngườiđược Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thựchiện đầu tư theo quy định của pháp luật
Xuất phát từ đặc điểm này mà trong quản lý vốn đầu tư XDCB củaNSNN dễ bị thất thoát Nếu các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án khôngngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ khôngđáp ứng yêu cầu quản lý; Nhà nước không tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra bằng những cơ chế chính sách ràng buộc trách nhiệm thì thất thoátlãng phí trong đầu tư XDCB thuộc vốn NSNN là không thể tránh khỏi
1.1.1.3 Các giai đoạn đầu tư XDCB
Trang 18Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư
Nghiên cứu cơ
hội đầu tư
Giai đoạn II Thực hiện đầu tư
Thiết kế, lập
tổng dự toán,
dự toán
Ký kết HĐ: xây dựng, thiết bị
Thi công xây dựng, đào tạo, CN,CBKT,QL
Chạy thử nghiệm thu, quyết toán
Bàn giao đưa vào khai thác sử
dụng
Dự án đầu tưđược hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêngbiệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiếntrình lôgic Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lập
và trên các góc độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diệnhơn Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tưbao gồm 8 bước công việc, phân thành hai giai đoạn theo sơđồ sau:
Qua sơđồ ta thấy: bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạntrước là cơ sở thực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của
dự án mà một vài bước có thể gộp vào nhau như ở giai đoạn chuẩn bị đầutư,đối với dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu
cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự
án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự
án quá nhỏ và những dự án có thiết kế mẫu
Sơ đồ 1.1 Trình tự trong hoạt động đầu tư
Trang 19Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện bướctiếp theo phải kiểm tra và đánh giá đủ các khía cạnh về kinh tế, tài chính, kỹthuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm (nếu có) chobước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếptheo Đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn chuẩn bị đầu tư vàthực hiện đầu tư dự án.
- Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm:
+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
+ Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ;tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồnvốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư
+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
+ Lập dự án đầu tư
+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết địnhđầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập
dự án đầu tư
- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:
+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển vàthềm lục địa
+ Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, thiết bị
+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có).+ Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu
+ Thi công xây lắp công trình
Trang 20* Phân loại dự án đầu tư
Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy mô
và thời hạn Do vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta cóthể phân loại dự án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau
* Theo tính chất của dự án: người ta có thể chia dự án đầu tư thành cácloại dự án: dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển KT -
XH, dự án đầu tư nhân đạo
* Theo nguồn vốn đầu tư: có dự án đầu tư bằng vốn trong nước, vốnđầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn ODA, vốn đầu tư của Chính phủ, vốn đầu
tư của khu vực tư nhân, vốn liên doanh và vốn cổ phần…
* Theo ngành, lĩnh vực đầu tư: dự án thuộc ngành công nghiệp, nôngnghiệp, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng dịch vụ…
* Theo quy mô: dự án đầu tư quy mô lớn, dự án đầu tư quy mô vừa vànhỏ
Phân loại dự án theo yêu cầu phân cấp quản lý của Nhà nước thìtrong luật Xây dựng và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 củaChính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã phân dự ánthành ba nhóm như sau:
Dự án nhóm A
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninhquốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị xã hội quantrọng, dự án sản xuất chất độc hại, hạ tầng khu công nghiệp (không kể mứcvốn)
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp điện, dầu khí, hoáchất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoángsản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ),xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư trên 2.300 tỷ đồng
Trang 21- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Thuỷ lợi, giao thông (khác vớicác điểm trên) cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng, kỹ thuật điện,sản xuất thiết bị thông tin, điện tử tin học, hoá dược, công trình cơ khí khác,sản xuất vật liệu bưu chính viễn thông với tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷđồng.
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp nhẹ, sành sứ,thuỷ tinh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông lâm nghiệp,nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông - lâm sản với tổng mức đầu tư trên 1.000
tỷ đồng
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Y tế, văn hoá, giáo dục, phátthanh truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở),kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khácvới tổng mức đầu tư trên 800 tỷ đồng
Dự án nhóm B
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp điện, dầu khí, hoáchất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoángsản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ),xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư từ 120 tỷ đồng đến 2.300 tỷ đồng
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Thuỷ lợi, giao thông (khác vớicác điểm trên) cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng, kỹ thuật điện,sản xuất thiết bị thông tin, điện tử tin học, hoá dược, công trình cơ khí khác,sản xuất vật liệu bưu chính viễn thông với tổng mức đầu tư từ 80 tỷ đồng đến1.500 tỷ đồng
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp nhẹ, sành sứ,thuỷ tinh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông lâm nghiệp,nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản với tổng mức đầu tư từ 60 tỷđồng đến 1.000 tỷ đồng
Trang 22- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Y tế, văn hoá, giáo dục, phátthanh truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở),kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khácvới tổng mức đầu tư từ 45 tỷ đến 800 tỷ đồng.
Dự án nhóm C
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp điện, dầu khí, hoáchất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoángsản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ),xây dựng khu nhà ở với tổng mức đầu tư dưới 120 tỷ đồng
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Thuỷ lợi, giao thông (khác vớicác điểm trên) cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng, kỹ thuật điện,sản xuất thiết bị thông tin, điện tử tin học, hoá dược, công trình cơ khí khác,sản xuất vật liệu bưu chính viễn thông với tổng mức đầu tư dưới 80 tỷ đồng
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷtinh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông lâm nghiệp, nuôitrồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản với tổng mức đầu tư dưới 60 tỷ đồng
- Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Y tế, văn hoá, giáo dục, phátthanh truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng dân dụng nhà ở),kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khácvới tổng mức đầu tư dưới 45 tỷ đồng
1.1.1.4 Vai trò của đầu tư XDCB đối với kinh tế - xã hội
Đầu tư XDCB từ NSNN đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong bốicảnh Việt Nam – một cuốc quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế và tăng trưởngnhanh Cụ thể có vai trò sau:
Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để
Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh -
Trang 23quốc phòng…mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặckhông đầu tư; các dự án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quantrọng, then chốt nhất đảm bảo cho nền KT - XH phát triển ổn định theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa.
Hai là, Đầu tư XDCB từ nguồn NSNN được coi là một công cụ để Nhà
nước chủ động điều tiết, điều chỉnh hàng hoạt các qua hệ và những cân đối lớncủa nền kinh tế
- Đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là một công cụ để nhà nước chủ độngđiều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:
+ Về mặt cầu: Đầu tư ( trong đó có đầu tư Chính phủ) sẽ tạo ra khả năngkích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đầy lưu thông, tạo việc làm và thunhập… Tuy nhiên tác động của đầu tư đối với tổng cầu chỉ là ngắn hạn Trongkhi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ kéo theo tổng cầutăng, các yếu tố giá cả đầu vào của đầu tư tăng, sản lượng cân bằng tăng theodẫn đến cân bằng cung cầu mới
Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới củanền kinh tế tăng lên thì lại tác động làm tăng tổng cung trong dài hạn, kéo theosản lượng tiềm năng tăng, giá cả sản phẩm giảm Sản lượng tăng, giá cả giảmcho phép tiêu dùng tăng, kích thích đầu tư Đây là nguồn cơ bản để tăng tíchlũy, phát triển kinh tế - xã hội Như vậy thông qua chi đầu tư XDCB từ NSNN,Chính phủ có thể chủ động xử lý những cân đối vĩ mô của nền kinh tế
- Đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh
cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ Thông qua các chương trình dự án đầu tưlớn ( Chương trình 135, dự án đường Hồ Chí Minh, chương trình kiên cố hóatrường lớp học, giao thông nông thôn…) Nhà nước đã bỏ ra hàng nghìn tỷđồng để đầu tư phát triển kinh tế ở những vùng sâu vùng xa nhằm thực hiệnchủ trương xóa đói giảm nghèo Đầu tư của Chính phủ là một giải pháp để điềuchỉnh những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường
Trang 24Ba là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tạo điều kiện cho các thành phần
kinh tế và cho toàn nền kinh tế phát triển Vốn đầu tư từ NSNN được coi là “Vốn mồi” để thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước và đầu tư pháttriển; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển sẽ tạo ra khả năng lớn để thu hútvốn đầu tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáodục, y tế, du lịch…Có đủ vốn đầu tư trong nước mới góp phần giải ngân, hấpthụ được các nguồn vốn ODA, có hạ tầng kinh tế - xã hội tốt mới thu hút đượcvốn FDI, có vốn đầu tư “ mồi” của Nhà nước mới khuyến khích phát triển cáchình thức BOT….Như vậy đầu tư từ NSNN có vai trò hạt nhân để thúc đẩy xãhội hóa trong đầu tư, thực hiện CNH – HĐH đất nước
Bốn là, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tạo điều kiện phát triển
nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.Các dự án đầu tư vào các lĩnh vực trên rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thuhồi vốn thấp nên thường được Nhà nước đầu tư bằng nguồn NSNN Khi hoànthành và đưa vào sử dụng sẽ cung cấp các dịch vụ công cộng, tạo điều kiệnnâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế - xã hội
Năm là, sản phẩm đầu tư XDCB có ý nghĩa lớn về mặt chính trị, xã hội,
nghệ thuật và an ninh – quốc phòng:
- Về mặt kinh tế - xã hội: Cơ cấu đầu tư XDCB thể hiện đường lối pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
- Về mặt nghệ thuật: Đầu tư XDCB góp phần mở mang đời sống văn hóa,tinh thần làm phong phú thêm nền kiến trúc của đất nước
- Về mặt an ninh, chính trị và quốc phòng: Đầu tư XDCB góp phần tăngcường tiềm lực quốc phòng của đất nước, ổn định an ninh trật tự và chính trị xã hội
1.1.2 Vốn đầu tư XDCB từ NSNN
1.1.2.1 Khái niệm
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu
tư xây dựng hệ thống các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội màkhả năng thu hồi vốn chậm hoặc thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi
Trang 25vốn những cần thiết phục vụ các mực tiêu phát triển, cũng như các khoản chiđầu tư khác theo quy định của Luật NSNN.
Gắn với hoạt động đầu tư XDCB, nguồn vốn này chủ yếu được sử dụng
để đầu tư phát triển tài sản cố định trong nền kinh tế Khác với các loại đầu tưnhư đầu tư chuyển dịch, đầu tư cho dự phòng, đầu tư mua sắm công v.v , đầu tưXDCB là hoạt động đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kết cấu hạ tầng Đây là hoạt động đầu tư phát triển, đầu tư cơ bản và chủ yếu có tính dài hạn Gắnvới hoạt động NSNN, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được quản lý và sử dụngđúng luật, theo các quy trình rất chặt chẽ Khác với đầu tư trong kinh doanh, đầu
tư từ NSNN chủ yếu nhằm tạo lập môi trường, điều kiện cho nền kinh tế, trongnhiều trường hợp không mang tính sinh lãi trực tiếp
1.1.2.2 Đặc điểm của vốn đầu tư XDCB từ NSNN
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường tập trung cho các dự án xâydựng có vốn lớn, các dự án thuộc lĩnh vực công cộng, lĩnh vực quốc phòng,
an ninh và các lĩnh vực có thời gian xây dựng kéo dài, thời gian thu hồi vốnlâu hoặc không thu hồi vốn mà chỉ tính lợi ích và hiệu quả xã hội như cáccông trình giao thông, điện nước, trường học, trạm y tế, bệnh viện công,công sở, các công trình văn hoá, công trình phục vụ quốc phòng và an ninh
Vì không thể phân tích được hiệu quả kinh tế tài chính cá biệt của các dự
án đầu tư này, nên khi xây dựng dự án dễ có xu hướng xuê xoa trong xemxét các yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu tư, hệ quả là có thể tạo cơhội thất thoát lãng phí vốn đầu tư của Nhà nước
Về nguyên tắc, vốn đâu tư XDCB từ NSNN thuộc sở hữu toàn dân doNhà nước đại diện quản lý nên khó tìm ra cá nhân chịu trách nhiệm đích thực
về hiệu quả sử dụng nguồn vốn đó Để thực hiện đầu tư XDCB, Nhà nước uỷthác vốn cho nhiều cơ quan nhà nước với cơ chế quản lý nhiều khâu, nhiềucấp phức tạp và một chế độ trách nhiệm chung Chính vì thế, khó tìm thấytrách nhiệm và động lực cá nhân trong bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn đầu
tư XDCB từ NSNN Hơn nữa, chế độ, cơ cấu phân quyền quản lý và cơ chế
Trang 26vận hành của các cơ quan nhà nước thường lạc hậu so với yêu cầu của thực tếnên dễ dẫn đến hiện tượng quan liêu trong quản lý quá trình sử dụng vốn đầu
tư XDCB từ NSNN Những đặc điểm này làm cho vốn đầu tư XDCB từNSNN được coi như "của chùa", tiềm ẩn nhiều cơ hội để các đối tượng trong
bộ máy quản lý nhà nước và các chủ thể liên quan lợi dụng tham nhũng, làmthất thoát tiền vốn của Nhà nước
Ngoài ra, không loại trừ những đề án, kế hoạch, chương trình được đầu
tư theo phong trào, theo mục tiêu chính trị, xã hội thuần tuý, khó hoặc khôngquan tâm đến hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư… Bên cạnh đó, quá trình đầu
tư các công trình hình thành bằng vốn đầu tư XDCB từ NSNN, từ khâu kếhoạch, thiết kế, thi công, giám sát thi công, đấu thầu, mua sắm thiết bị đếnnghiệm thu công trình, thường được thực hiện theo một dây chuyền kép kíntrong nội bộ các cơ quan nhà nước, do đó thường xảy ra tình trạng các chủđầu tư và các nhà thầu thông đồng rút tiền của Nhà nước
Từ những đặc tính chung nêu trên, có thể khái quát một số đặc điểm cụthể của vốn đầu tư XDCB từ NSNN như sau:
Thứ nhất, vốn đầu tư XDCB từ NSNN gắn với hoạt động NSNN nói
chung và hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theophân cấp về chi NSNN cho đầu tư phát triển Do đó, việc hình thành, phân phối,
sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ, theo luậtđịnh, được Quốc hội phê chuẩn và các cấp chính quyền (chủ yếu là Hội đồngnhân dân các cấp) phê duyệt hàng năm
Thứ hai, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư
cho các công trình, dự án ít hoặc không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạtầng theo đối tượng sử dụng theo quy định của Luật NSNN và các luật khác Do
đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sởđánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường
Thứ ba, vốn đầu tư XDCB từ NSNN gắn với các quy trình đầu tư và dự
Trang 27án, chương trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự ánđến khâu kết thúc đầu tư, nghiệm thu dự án và đưa vào sử dụng Việc sử dụngnguồn vốn này gắn với quá trình thực hiện và quản lý dự án đầu tư Giữa cáckhâu liên hoàn với nhau từ khâu quy hoạch, khảo sát thiết kế, chuẩn bị đầu tư,thực hiện dự án, kết thúc dự án Các dự án này có thể được hình thành dướinhiều hình thức như:
- Các dự án về điều tra, khảo sát để lập quy hoạch như các dự án quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, ngành, quy hoạch xâydựng đô thị và nông thôn, quy hoạch ngành được Chính phủ cho phép
- Dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộinhư đường giao thông, mạng lưới điện, hệ thống cấp nước v.v
- Dự án cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển một số ngành nghề,lĩnh vực hay sản phẩm
- Dự án hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự thamgia của Nhà nước theo quy định của pháp luật
Thứ tư, vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng Căn cứ tính chất, nội
dung, đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình đầu tư xây dựng mà người taphân thành các loại vốn như: vốn để thực hiện các dự án quy hoạch, vốn đểchuẩn bị đầu tư, vốn thực hiện đầu tư Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có thể được
sử dụng cho đầu tư xây mới hoặc sửa chữa lớn; xây dựng kết cấu hạ tầng hoặcmua sắm thiết bị
Thứ năm, nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm cả
nguồn bên trong quốc gia và bên ngoài quốc gia Các nguồn bên trong quốc giachủ yếu là từ thuế và các nguồn thu khác của Nhà nước như bán tài nguyên, tiền
sử dụng đất, cho thuê đất, cho thuê tài sản quốc gia, thu từ các hoạt động kinhdoanh khác Nguồn từ bên ngoài chủ yếu từ nguồn vay nước ngoài, hỗ trợ pháttriển chính thức (ODA) và một số nguồn khác
Thứ sáu, chủ thể sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng, bao
Trang 28gồm cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước, nhưng trong đóđối tượng sử dụng nguồn vốn này chủ yếu vẫn là các tổ chức nhà nước.
Thứ bảy, Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có quy mô vốn lớn nên vừa đòi
hỏi quá trình chuẩn bị đầu tư phức tạp, kéo dài, đòi hỏi sự phê chuẩn của nhiều
cơ quannhà nước nêncàng tạo cơ hội cho nạn tham ô, tham nhũng Ngoài ra,quy chế và kỷ luật đấu thầu các công trình xây dựng bằng tiền NSNN thườngchịu sức ép của các cơ quan, tổ chức có thế lực trong lĩnh vực quyết định đầu
tư của Nhà nước nên đây là lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phức tạp
1.2 Hiệu quả vốn đầu tư XDCB
1.2.1 Khái niệm
Do nguồn lực khan hiếm có hạn nên nhu cầu đầu tư luôn luôn cao hơn khảnăng đầu tư của nền kinh tế Điều này đòi hỏi VĐT phải được sử dụng có hiệuquả nhằm trong một thời gian nhất định với một khối lượng VĐT có hạn nhưnglại có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu đầu tư nhằm góp phần thoả mãn tối đa nhucầu xã hội
Như vậy hiệu quả VĐT là một phạm trù kinh tế khách quan Nó tồn tại là
do sự có hạn của nguồn lực Yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực nói chung,
sử dụng hiệu quả VĐT nói riêng càng trở nên bức thiết đối với nền kinh tế.Hiệu quả VĐT XDCB hiểu một cách chung nhất biểu hiện mối quan hệ sosánh giữa các lợi ích của VĐT XDCB và khối lượng VĐT XDCB bỏ ra nhằmđạt được những lợi ích đó Lợi ích của VĐT XDCB thể hiện ở mức độ thoảmãn nhu cầu xã hội của sản phẩm do VĐT XDCB bỏ ra, bao gồm lợi ích kinh
tế và lợi ích xã hội
Lợi ích kinh tế của VĐT XDCB thể hiện ở mức độ thực hiện các mục tiêukinh tế của quá trình đầu tư XDCB nhằm thoả mãn chủ yếu các nhu cầu vậtchất của xã hội Do đó lợi ích kinh tế biểu hiện cụ thể về sự thay đổi cán cânthương mại, ở mức độ lợi nhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sản xuất…
Trang 29Lợi ích xã hội của VĐT XDCB, ngoài việc thực hiện các mục tiêu kinh tếnói trên còn thực hiện các mục tiêu xã hội khác như mục tiêu chính trị, mụctiêu an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội…Theo đó lợi ích xã hội của VĐTXDCB còn bao gồm những sự thay đổi về điều kiện sống và điều kiện laođộng, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi công cộng, chăm sóc y
tế và quyền bình đẳng…Dựa vào quá trình quản lý đầu tư XDCB ta thấy: từkhi có VĐT, tiến hành thực hiện đầu tư sẽ tạo một khối lượng tài sản cố định.Khi các TSCĐ này được sử dụng (giai đoạn khai thác dự án) sẽ tạo ra mộtkhối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nhất định Lợi ích của VĐT chỉxuất hiện khi mà sản phẩm hàng hoá dịch vụ được sử dụng thoả mãn nhu cầutheo mục tiêu đã định
1.2.2 Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả VĐT xây dựng cơ bản
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về tiêu chuẩn hiệu quả VĐT, cóthể phân thành 3 nhóm quan niệm chính như sau:
Nhóm 1: coi tiêu chuẩn hiệu quả là một mức hiệu quả nào đó (ví dụ hiệu
quả định mức Hd) và dựa vào đó để kết luận VĐT có hiệu quả hay không NếuH>Hd có thể kết luận VĐT có hiệu quả Ngược lại H<Hd có thể rút ra VĐTkhông hiệu quả
Nhóm 2: cho tiêu chuẩn hiệu quả VĐT là một mức cao nhất có thể đạt được
trong điều kiện nhất định (H max) Theo quan niệm này, hiệu quả VĐT thựcđạt được (H) thường nhỏ hơn hoặc bằng (Hmax) Theo đó H càng tiến lại gần(Hmax) vốn đầu tư càng có hiệu quả
Nhóm 3: điển hình là T.charatyrob cho rằng “Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả VĐT là do quy luật kinh tế cơ bản quyết định” Quan niệm này đã gắn mục
tiêu của nền kinh tế với phương tiện để đạt được mục tiêu đó và trong thực tếquan niệm này được sử dụng rất rộng rãi
Các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả VĐT có thể phân thành hai loại:
a Tiêu chuẩn lợi ích tối đa
b Tiêu chuẩn chi phí tối thiểu
Trang 30Tiêu chuẩn lợi ích tối đa được xem xét trong điều kiện khi đánh giá hiệuquả dự án có nhiều phương án thay thế lẫn nhau cùng có mức VĐT nhưnhau phương án nào có lợi ích KT - XH tối đa thì được coi là tối ưu, hiệuquả nhất nên được lựa chọn.
Tiêu chuẩn chi phí tối thiểu cũng được xem xét trong điều kiện hiệu quả dự
án đầu tư có nhiều phương án thay thế lẫn nhau cùng có mức lợi ích KT - XHđịnh trước, phương án nào có chi phí VĐT ít nhất được coi là hiệu quả nhấtnên được chọn để thực hiện đầu tư
Hai loại tiêu chuẩn hiệu quả trên nhìn chung kết quả tương tự nhau và đưađến những kết luận như nhau Tiêu chuẩn lợi ích tối đa tạo điều kiện sử dụngđầy đủ các nguồn lực hiện có làm cho hiệu quả từng bộ phận thống nhất vớihiệu quả toàn bộ nền kinh tế Trong khi đó tiêu chuẩn chi phí tối thiểu chưaquan tâm đầy đủ đến việc tận dụng các nguồn lực hiện có do đó hiệu quả cục
bộ đã không dẫn đến hiệu quả toàn bộ Loại hình tiêu chuẩn lợi ích tối đa đượccoi là cơ bản nên được sử dụng phổ biến
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách vào đầu
tư XDCB
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VĐT thuộc NSNN
Một là, công tác quy hoạch và kế hoạch đề ra
Công tác quy hoạch và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư (gọi tắt là kế hoạchhoá đầu tư) vừa là nội dung vừa là công cụ quản lý hoạt động đầu tư Để nângcao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB thì công tác quy hoạch kế hoạch đầu tưphải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế Mục đích đầu tư cuối cùngcủa hoạt động đầu tư XDCB là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộngcác cơ sở kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội Do đó nhu cầu của nền kinh tế làxuất phát điểm cho việc lập quy hoạch và công tác kế hoạch hoá và phải dựavào định hướng lâu dài của Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật
Kế hoạch đầu tư phải dựa trên khả năng huy động của nguồn lực trong và
Trang 31ngoài nước đảm bảo tính vững chắc và có mục tiêu rõ rệt Công tác quy hoạch
và kế hoạch phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính liên tục Có nhưvậy thì hiệu quả sử dụng VĐT XDCB mới được nâng cao, ngược lại công tácquy hoạch, công tác kế hoạch tính khoa học không cao, không xuất phát từnhu cầu phát triển kinh tế, không có mục đích rõ rệt, không có tính bền vữngthì dễ gây nên lãng phí thất thoát VĐT XDCB
Có thể khẳng định quy hoạch ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệuquả của hoạt động đầu tư XDCB Thực tế đầu tư XDCB trong những năm quacho thấy, nếu quy hoạch yếu thì tình trạng các công trình không đưa vào sửdụng được hoặc thua lỗ kéo dài phải phá sản như nhà máy xử lý rác, thủ công
mỹ nghệ, chợ đầu mối…Quy hoạch dàn trải sẽ làm cho việc đầu tư XDCBmanh mún không có hiệu quả Nhưng nếu không có quy hoạch thì hậu quả lạicàng nặng nề hơn Vì vậy khi đã có quy hoạch cần phải công khai quy hoạch
để người dân có quyền được biết Trên cơ sở quy hoạch, về đầu tư XDCB củaNhà nước, Nhà nước cần phải đưa vào đầu tư, khuyến khích các khu vực vốnkhác tham gia đầu tư để tránh tình trạng quy hoạch treo
Hai là, các chính sách kinh tế
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả
sử dụng VĐT Đó là chính sách dịch vụ thương mại, chính sách đầu tư…Cácchính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, vi mô như chính sách tài khoá (chủ yếu làchính sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ), chính sách tiền tệ(công cụ chính sách lãi suất và mức cung tiền), chính sách tỷ giá hối đoái,chính sách khấu hao
Chính sách kinh tế góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, VĐTđược sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vàolĩnh vực đầu tư góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hìnhthành một cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp lý cũng như tác động làm tăng
Trang 32hoặc giảm thất thoát VĐT, theo đó mà VĐT được sử dụng có hiệu quả haykhông có hiệu quả
Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, cácchính sách kinh tế tác động làm cho đối tượng này phát huy tác dụng tích cựchay tiêu cực Tức là làm cho VĐT được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp
Cùng với chiến lược CNH đúng đắn, nếu các chính sách kinh tế đượcxác định phù hợp với hệ thống đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp CNH sẽthắng lợi, VĐT sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao Ngược lại, nếu các chínhsách kinh tế xác định không phù hợp, thiếu tính hệ thống, thiếu sự đồng bộ vànhất quán thì sự nghiệp CNH sẽ gặp trở ngại, làm cho hiệu quả sử dụng VĐTthấp
Ba là, công tác tổ chức quản lý vốn đầu tư xây dựng
Tổ chức quản lý VĐT xây dựng là một lĩnh vực rộng bao gồm nhiềunội dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinhdoanh phù hợp với chiến lược phát triển KT - XH trong từng thời kỳ nhấtđịnh để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH đất nước Sửdụng có hiệu quả cao nhất các nguồn VĐT do Nhà nước quản lý, chống thấtthoát, lãng phí, bảo đảm dự án được xây dựng đúng quy hoạch, mỹ quan, bềnvững, đảm bảo môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnhtrong đầu tư xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến với chi phí hợp lý, tổ chứcquản lý chặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với các dự án thuộc nguồn vốnNSNN Vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lýNhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư vàdây dựng, nhằm sử dụng có hiệu quả VĐT Chất lượng của công tác quản lýđầu tư sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát, lãng phí VĐT, cũngnhư tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát, lãng phí VĐT, cũng nhưtạo điều kiện cho các kết quả đầu tư tăng hay giảm về mặt khối lượng vàmang lại nhiều hay ít các lợi ích KT - XH khi khai thác sử dụng có kết quảđầu tư này Chính do những thiếu sót trong công tác quản lý đầu tư và xây
Trang 33dựng đã làm cho VĐT bị thất thoát, lãng phí Một số đối tượng đầu tư hoànthành mang lại hiệu quả sử dụng không như mong muốn về lợi ích KT - XHchính là những nguyên nhân làm cho VĐT kém hiệu quả.
Bốn là, tổ chức khai thác, sử dụng cho các đối tượng đầu tư hoàn thành
Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ tạo ra mộtkhối lượng cung ứng hàng hoá dịch vụ nhất định So sánh khối lượng hàng hoádịch vụ này với nhu cầu hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi íchkinh tế của VĐT
Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành có kết quảtốt hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Thứ nhất: do tác động của việc chọn mô hình chiến lược CNH, tác động
của việc sử dụng các chính sách kinh tế và tác động của các tổ chức quản lýquá trình đầu tư xây dựng Các nhân tố này tuỳ thuộc vào mức độ đúng đắn,phù hợp của chúng mà có tác động ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cácđối tượng của quá trình đầu tư hoàn thành
Thứ hai: các nhân tố thuộc bản thân của quá trình tổ chức, khai thác, sử
dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành như công tác tổ chức điều hành, côngtác nghiên cứu triển khai, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiếnvào sản xuất, công tác tiếp thị, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm, công tác cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm…
Nhóm nhân tố tổ chức khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoànthành, với vị trí riêng có vai trò quan trọng trong sự tác động độc lập và theomối liên hệ tác động lẫn nhau giữa chúng có thể tác động tổng hợp đến hiệuquả sử dụng VĐT
1.3 Sự cần thiết sử dụng hiệu quả nguồn vốn NSNN chi đầu tư XDCB
* Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT XDCB
Nền kinh tế luôn luôn tồn tại mâu thuẫn, một bên là nhu cầu xã hội có tính
vô hạn và một bên là nguồn lực khan hiếm, có hạn để tạo ra sản phẩm hànghoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội
Trang 34Việc đo lường đánh giá hiệu quả VĐT trở nên rất cần thiết đặc biệt là đốivới nền kinh tế kém phát triển có mức thu nhập thấp như nước ta.
Lợi ích của VĐT mang lại bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Biểuhiện của lợi ích kinh tế là tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống làmthay đổi cơ cấu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, từ đó làm tăng thu ngânsách Nhà nước, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm chi phí, cải thiện cán cân thanhtoán quốc tế, bảo vệ môi trường…
Lợi ích xã hội biểu hiện lợi ích chính trị, quốc phòng, an ninh chính trị trật
tự an toàn xã hội, phát triển văn hoá, tăng cường sự bình đẳng và quyền lợicủa các quốc gia dân tộc
Để đánh giá hiệu quả của hoạt đồng đầu tư, người ta thường sử dụng cácnhóm chỉ tiêu sau:
* Nhóm chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả đầu tư chung
- Chỉ tiêu ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăngtrưởng qua công thức:
Δ GDP: mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội.
Hệ số ICOR cho biết trong thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm 1 đồng GDPthì cần bao nhiêu đồng VĐT Hệ số này càng thấp thì hiệu quả VĐT càng cao.Nếu hệ số ICOR không đổi thì tỷ lệ giữa VĐT(I) so với GDP sẽ quyết địnhtốc độ tăng trưởng kinh tế, (tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng càngcao và ngược lại)
Trang 35Hệ số ICOR đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng các kếhoạch kinh tế Đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi nhất trong việc tính toánnhu cầu VĐT theo các mô hình kinh tế.
Thông qua việc sử dụng hệ số ICOR chúng ta thấy rõ sự gia tăng VĐTđặt trong mối quan hệ với sự gia tăng GDP Chỉ tiêu ICOR ở mỗi nước phụthuộc vào nhiều nhân tố như: cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong cácngành, các vùng lãnh thổ, cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sáchkinh tế nói chung Thông thường ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trongcông nghiệp; ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu phụ thuộc vàoviệc tận dụng năng lực sản xuất Do đó ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấpthường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
- Hiệu suất VĐT: Hiệu suất VĐT biểu hiện mối quan hệ so sánh giữaGDP và VĐT trong kỳ được xác định theo công thức:
Hi = GDP/I
Trong đó:
Hi: Hiệu suất vốn đầu tư trong kỳ
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội trong kỳ
I: Tổng mức VĐT trong kỳ
- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư
Các kết quả đạt được do thực hiện đầu tưHiệu quả hoạt động đầu tư =
Tổng VĐT thực hiệnCông thức này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuấtkinh doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân của tổng VĐT đã bỏ ratrong một thời kỳ so với thời kỳ khác (hoặc so với định mức chung) Chỉ tiêunày tỷ lệ thuận với kết quả thu được, kết quả đầu ra nhiều thì hiệu quả đạtđược cao Nó có thể được định lượng thông qua các chỉ tiêu như: Giá trịTSCĐ tăng thêm, số km đường, số nhà máy nước, điện, số m2 nhà tăngthêm…
Trang 36Để tính hiệu quả VĐT TSCĐ tăng thêm có thể dùng công thức hệ sốthực hiện VĐT:
- Hệ số thực hiện VĐT
Hệ số thực hiện VĐT là một chỉ tiêu quan trọng Nó phản ánh mối quan
hệ giữa lượng VĐT bỏ ra với các TSCĐ (kết quả của VĐT) được đưa vào sửdụng Hệ số được tính theo công thức sau:
Trang 37Đo lường và đánh giá hiệu quả VĐT ở tầm vi mô là hiệu quả của từng dự
án đầu tư, là trọng tâm của việc đo lường và đánh giá hiệu quả VĐT Các nhàkinh tế học hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau:
- Thời gian hoàn vốn
Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian khai thác dự án (thường tínhbằng năm) mà toàn bộ các khoản thu nhập do dự án mang lại có thể bù đắp đủtoàn bộ VĐT của dự án, số tiền thu hồi này không bao gồm lãi suất phát sinhtrả cho việc sử dụng vốn ứng trước Thời gian hoàn vốn được tính bằng côngthức:
Vi: Số VĐT ứng trước năm i
Li: Lợi nhuận ròng bình quân đến năm thứ i
Ki: Khấu hao TSCĐ bình quân đến năm thứ i
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (Net present Value – NPV)
Giá trị hiện tại thuần là tổng lãi ròng của cả đời dự án được chiết khấu vềnăm hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu nhất định
Trang 38Ci: Chi phí của dự án, tức là bao gồm tất cả những gì mà dự án bỏ ra(như chi phí đầu tư, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa, chi trả, thuế và trả lãi vay )R: tỷ suất chiết khấu
n: số năm hoạt động kinh tế của dự án (tuổi thọ kinh tế của dự án)
i: Thời gian của dự án (i= 0,n ).
Nếu dự án có NPV > o thì dự án khả thi về mặt tài chính
Nếu cần phải xem xét nhiều dự án đầu tư XDCB đã khả thi về mặt tàichính nhưng loại trừ lẫn nhau thì phương án có NPV lớn nhất là phương ánđánh giá về mặt tài chính
Nếu các phương án của lợi ích dự án như nhau thì phương án có giá trịhiện tại của chi phí nhỏ nhất, phương án đó đánh giá nhất về mặt tài chính.Nhược điểm của chỉ tiêu này là phải đưa vào lãi suất chiết khấu được lựachọn Lựa chọn lãi suất chiết khấu rất phức tạp vì có nhiều cách thức và mỗicách thức kết quả khác nhau Thông thường lãi suất chiết khấu được xác địnhbằng lãi suất thu lợi tối thiểu có thể chấp nhận được (vốn dài hạn, vốn ngắnhạn, vốn cổ phần ) và lãi suất vay trên thị trường vốn
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate ò Return – IRR)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là tỷ suất chiết khấu mà ứng với nó giá trịhiện tại thuần (NPV) bằng 0
Biểu hiện dưới dạng công thức là:
Trang 39Khác với chỉ tiêu khác, chỉ tiêu IRR không có một công thức toán họcnào cho phép tính trực tiếp Trong thực tế IRR được tính thông qua phươngpháp nội suy, tức là phương pháp xác định một giá trị gần đúng giữa hai giátrị đã chọn.
Theo phương pháp này, cần lựa chọn tỷ suất chiết khấu nhỏ hơn (r1) saocho ứng với nó có NPV dương nhưng gần 0, còn tỷ lệ chiết khấu lớn hơn (r2)sao cho ứng với nó có NPV âm nhưng sát 0, r1 và r2 phải sát nhau, cách nhaukhông quá 0,05%, IRR cần tính (ứng với NPV=0) sẽ nằm trong khoảng giữahai tỷ suất r1 và r2 Việc nội suy IRR được thể hiện theo công thức sau:
IRR= r1+
NPV 2−NPV 1(r2 −r1)Trong đó:
r1: Tỷ suất chiết khấu nhỏ hơn
r2: Tỷ suất chiết khấu lớn hơn
NPV1: Giá trị hiện tại thuần là số dương nhưng gần 0 được tính theo r1
NPV2: Giá trị hiện tại thuần là số âm nhưng gần 0 được tính theo r2
Bt: là lợi ích trong năm t (thu nhập tại năm t)
itt: Lãi suất tính toán
n: Năm cuối ứng với tuổi thọ kinh tế của dự án
Ct: Chi phí về vốn đầu tư tại năm t + chi phí vận hành hàng năm t + chiphí bảo hành tại năm t
Kết quả tính được từ công thức trên:
Trang 40Nếu B/C > 1: Thu nhập lớn hơn chi phí, dự án có lãi (hiệu quả)
Nếu B/C <1: Thu nhập nhỏ hơn chi phí, dự án bị lỗ
Nếu B/C=1: Thu nhập bằng chi phí, dự án không có lãi
Ưu điểm của chỉ tiêu B/C giúp ta thấy mức lợi ích của một đồng chi phí,nhưng nhược điểm là không cho biết tổng số lãi ròng thu được Có những dự
án B/C lớn nhưng tổng lãi ròng vẫn nhỏ và việc tính suất chiết khấu (itt) phứctạp