1 LỜI MỞ ĐẦU I Tính cấp thiết của đề tài Kiểm soát nội bộ là một nhân tố quan trọng trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong hệ thống các NHTM Kiểm soát nội bộ là một[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát nội bộ là một nhân tố quan trọng trong hệ thống kiểm tra, kiểm soátcủa các doanh nghiệp, đặc biệt là trong hệ thống các NHTM Kiểm soát nội bộ làmột hệ thống các cơ chế, chính sách được thiết lập và đảm bảo thực thi nhằm giảmthiểu rủi ro trong quá trình hoạt động Với vai trò là nhân tố môi trường, môi trườngkiểm soát quyết định đến sự hoạt động có hiệu quả hay không của các thủ tục kiểmsoát và các nhân tố khác Môi trường kiểm soát thuận lợi giúp cho ban lãnh đạo,HĐQT thực hiện có hiệu quả các cơ chế kiểm soát đã được thiết lập
Trong những năm gần đây hệ thống NHTM tại Việt Nam đã có những thành tựuđáng kể Bên cạnh những thành công ban đầu, các NHTM cũng đang phải đươngđầu với những thách thức to lớn như áp lực của lộ trình hội nhập khu vực và thếgiới, hàng loạt các vụ đổ vỡ tín dụng, các tổn thất mất mát do buông lỏng trongcông tác quản lý và điều hành NH, đặc biệt là các yếu kém trong kiểm soát Vì vậy,
để tránh các tổn thất và rủi ro thì một trong những trọng tâm đổi mới hệ thốngNHTM Việt Nam chính là việc nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ.Môi trường kiểm soát là nhân tố quyết định đến thành công của hoạt động kiểm soátnội bộ
BIDV là một trong những NHTM hàng đầu tại Việt Nam Với mô hình tổ chức
và quy mô hoạt động lớn, thiết lập môi trường kiểm soát nội bộ phù hợp đóng vaitrò rất quan trọng trong quá trình vận hành hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ tạiBIDV
Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh về quy mô và việc thay đổi cơ cấu tổchức, môi trường kiểm soát gần đây có nhiều yếu tố không thuận lợi cho công táckiểm soát nội bộ; kiểm soát nội bộ chưa làm tốt chức năng ngăn chặn và giám sát
mà mới chỉ thực hiện chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý các vấn đề đã phátsinh Cơ chế kiểm soát tập trung vào kiểm tra, kiểm soát đột xuất, trong khi đáng ra
cơ chế kiểm soát thường xuyên cần được xây dựng và thực hiện có hiệu quả
Để góp phần giải quyết vấn đề này, trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, tôi đã tiếp cận đề tài: “Hoàn thiện môi trường kiểm soát trong hệ
Trang 2thống kiểm soát nội bộ tại Hội sở chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”.
II Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về môi trườngkiểm soát nội bộ trong NHTM và phân tích môi trường kiểm soát trong hệ thốngkiểm soát nội bộ tại HSC BIDV, phát hiện những hạn chế nhằm đề xuất các giảipháp nâng cao hiệu quả môi trường kiểm soát tại HSC BIDV
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là môi trường kiểm soát trong hệ thống kiểmsoát nội bộ tại HSC BIDV, phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong hoạtđộng tại HSC NH này
IV.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn là phương pháp duyvật biện chứng Cụ thể, Luận văn xem xét, nghiên cứu môi trường kiểm soát nội bộtrong mối liên hệ tác động qua lại với các yếu tố khác của hệ thống kiểm soát nội bộtại HSC BIDV Tùy từng thời kỳ, môi trường kiểm soát nội bộ lại có những nộidung thay đổi cho phù hợp với tình hình chung của môi trường kinh doanh bênngoài cũng như sự thay đổi riêng có của BIDV
Luận văn cũng sử dụng phương pháp thu thập thông tin: thu thập các tài liệu liênquan đến môi trường kiểm soát nội bộ, các yếu tố khác trong hệ thống kiểm soát nội
bộ thông qua các tạp chí chuyên ngành, website, tài liệu, quy định tại BIDV
Phương pháp phỏng vấn các cán bộ làm việc tại BIDV về vấn đề nghiên cứucũng được sử dụng
V Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Luận văn hệ thống hoá được những vấn đề lý luận về môi trường kiểm soát nội
bộ trong NHTM, từ đó phân tích thực trạng môi trường kiểm soát nội bộ tại HSCBIDV Đề tài cũng đề xuất các giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát nội bộ tạiHSC BIDV trên bình diện vĩ mô và vi mô nhằm góp phần hạn chế những rủi ro, saiphạm tiềm tàng trong hoạt động của HSC nói riêng và của BIDV nói chung
VI.Kết cấu của đề tài
Trang 3Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung chính của Luận văn được kết cấu theo
3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về môi trường kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội
bộ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng môi trường kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Hội sở chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát
trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại Hội sở chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT TRONG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về kiểm soát nội bộ và môi trường kiểm soát nội bộ
1.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ
Theo các tác giả Jones và George (2003), kiểm soát là quá trình nhà quản lýgiám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của tổ chức và các thành viên trongviệc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Kiểm soát không
có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã xảy ra mà còn giữ cho tổ chứchoạt động theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra
Theo Từ điển tiếng Việt (1996), kiểm soát là xem xét có gì sai quy tắc, điều lệ,
kỷ luật không
Như vậy, có thể hiểu kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lênđối tượng kiểm soát nhằm bảo đảm việc thực hiện có hiệu quả mục tiêu, kế hoạchcủa tổ chức
Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu bao trùm của các doanh nghiệp là lợinhuận tối ưu Để giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận, các doanhnghiệp thường thiết kế những phương thức kiểm soát phù hợp thông qua việc xâydựng hệ thống kiểm soát nội bộ Đó là hệ thống các cơ chế kiểm soát trong doanhnghiệp được cụ thể hoá bằng các quy chế quản lý do ban lãnh đạo ban hành nhằmgiảm thiểu những rủi ro làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêu của mình.Quy chế quản lý của doanh nghiệp là tất cả những tài liệu do cấp có thẩm quyền banhành và yêu cầu các cá nhân, bộ phận có liên quan trong doanh nghiệp phải tuântheo, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), kiểm soát nội bộ là tất cả các chínhsách, thủ tục do nhà quản lý xây dựng, lựa chọn áp dụng để đảm bảo đạt được cácmục tiêu quản trị và quản lý có hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong đó có cácchính sách về quản trị, về bảo vệ tài sản, về việc ngăn ngừa và phát hiện các gianlận và sai sót, đảm bảo sự phù hợp và toàn vẹn của sổ sách kế toán, đảm bảo sự tincậy của các thông tin trên báo cáo tài chính
Trang 5Hội đồng Basel về giám sát hoạt động NH cho rằng kiểm soát nội bộ là một cơchế được thiết lập và thực hiện nhằm giảm thiểu gian lận, sai sót, biển thủ tài sản…
và nhằm vào tất cả các rủi ro mà NH đang phải đối mặt Nó không đơn thuần chỉ làmột thủ tục hay chính sách được thực hiện ở một thời điểm nào đó mà là một hoạtđộng liên tục diễn ra tại mọi cấp trong NH
Tóm lại, có thể hiểu kiểm soát nội bộ là một quá trình giám sát xuyên suốt vàliên tục gắn liền với các hoạt động hàng ngày của một tổ chức, để đảm bảo tính hiệuquả cho các hoạt động, duy trì sự tuân thủ các quy định, quy chế và đảm bảo độ tincậy của các thông tin tài chính trong tổ chức
Hệ thống kiểm soát nội bộ, theo IFAC, là một hệ thống chính sách và thủ tụcđược thiết kế nhằm bốn mục tiêu:
- Bảo vệ tài sản của đơn vị:
Tài sản của đơn vị gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình đều có thể bịmất, lạm dụng, sử dụng sai mục đích, bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệthống kiểm soát thích hợp Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phivật chất khác như sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng,…
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:
Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứquan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý Như vậy cácthông tin cung cấp có đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy
về thực trạng hoạt động, phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu củamọi hoạt động kinh tế, tài chính thì mới đảm bảo được chất lượng và hiệu quả củacác quyết định quản lý hoặc các quyết định khác có liên quan đến tổ chức
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý:
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp đảm bảo cácquyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức Cụ thể, hệ thống kiểm soát nội bộ cần:Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động củadoanh nghiệp; Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm trong
Trang 6mọi hoạt động của doanh nghiệp; Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xáccũng như việc lập Báo cáo tài chính trung thực và khách quan.
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý:
Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặplại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụngkém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp
Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động trongdoanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộnhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp.Tuy nằm trong một thể thống nhất song bốn mục tiêu trên đôi khi cũng có mâuthuẫn với nhau như giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản, sổsách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản
lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hoà bốn mụctiêu trên
Hệ thống kiểm soát nội bộ càng hoàn thiện hiệu quả của hoạt động kiểm soátcàng cao Tuy nhiên, mỗi hệ thống kiểm soát nội bộ dù hoàn hảo đến đâu cũng khôngthể ngăn ngừa hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là những hạn chế cố hữucủa hệ thống kiểm soát nội bộ Những hạn chế đó được xác định như sau: Ban Giámđốc thường yêu cầu lợi ích từ hệ thống kiểm soát phải cao hơn chi phí cho hệ thống
đó nên những thủ tục kiểm soát tốn kém thường không được thực hiện; Phần lớncông tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ lặp đi lặp lại màkhông tác động đến những nghiệp vụ bất thường; Khả năng vượt tầm kiểm soát của
hệ thống kiểm soát nội bộ do có sự thông đồng của một người trong Ban Giám đốchay một nhân viên với những người khác ở trong hay ngoài đơn vị; Khả năng nhữngngười chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình; Do
có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị vi phạm
Như vậy, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổchức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm rabiện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị
Trang 71.1.2 Vai trò kiểm soát nội bộ
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ là phương thức nhằm quản lý và giảmthiểu rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp Rủi ro của doanh nghiệp là khả năngdoanh nghiệp không đạt mục tiêu của mình Dựa vào nguồn gốc phát sinh, rủi rocủa doanh nghiệp được chia làm 3 loại:
Rủi ro kinh doanh (từ môi trường bên ngoài), đó là rủi ro từ sự thay đổi củaluật pháp, tình hình phát triển kinh tế, lạm phát, đối thủ cạnh tranh, khách hàng,khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai, bão lũ và các nhân tố môi trường khác Đây
là những rủi ro xuất phát từ phía ngoài, tự bản thân doanh nghiệp không thể kiểmsoát hết được loại rủi ro này và tất yếu ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp chịu ảnhhưởng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình
Rủi ro hoạt động (từ hoạt động nội bộ) là rủi ro xảy ra khi bộ máy cồng kềnh, bỏsót lĩnh vực cần phải kiểm soát, do đội ngũ nguồn nhân lực kém năng lực, khôngtrung thực, bộ máy kế toán làm việc sai chế độ, làm thất thoát tài sản, … Như vậy, từkhi doanh nghiệp ra đời đến khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, rủi ro này luôntồn tại Đây là những rủi ro mà doanh nghiệp hoàn toàn có điều kiện để hiểu và chủđộng thực thi các biện pháp kiểm soát loại rủi ro này
Rủi ro tuân thủ (từ việc tuân thủ pháp luật) xảy ra khi doanh nghiệp hoạt độngkhông tuân thủ pháp luật, không tuân thủ thực hiện những cam kết, thoả thuận đãtham gia ký kết Khi thực hiện hoạt động kinh doanh nếu doanh nghiệp không tuânthủ pháp luật sẽ bị cưỡng chế phải tuân thủ hoặc buộc phải chấm dứt hoạt động.Doanh nghiệp chấp nhận hoạt động kinh doanh là chấp nhận rủi ro Mưu cầumức lợi nhuận càng cao, rủi ro sẽ càng lớn và ngược lại Nếu không muốn đối đầuvới bất kỳ rủi ro nào, doanh nghiệp chỉ có một cách duy nhất là không hoạt độngkinh doanh Doanh nghiệp còn hoạt động là còn phải tìm cách đối phó với rủi ro.Nếu doanh nghiệp chọn cách tự chấp nhận rủi ro, đồng nghĩa với doanh nghiệpkhông thực hiện bất kỳ phương án nào nhằm mục tiêu giảm thiểu rủi ro thì khi xảy
ra rủi ro, doanh nghiệp sẽ tiến hành xử lý tổn thất Không phải rủi ro nào mức độtổn thất của nó cũng có thể xử lý và chấp nhận được Có những thiệt hại xảy ra có
Trang 8thể đưa doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản Đây chưa phải là sự lựa chọn tối
ưu của các doanh nghiệp
Chuyển giao rủi ro là biện pháp rất nhiều doanh nghiệp áp dụng Chuyển giaorủi ro là việc doanh nghiệp chuyển việc bồi thường tổn thất, khắc phục thiệt hại chodoanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Thay vào đó, doanh nghiệp thực hiện trả tiềnphí cho đơn vị bảo hiểm Tuy nhiên doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện bảohiểm cho mọi rủi ro mà chỉ thực hiện bảo hiểm cho những rủi ro xảy ra do nguyênnhân khách quan, tự doanh nghiệp không thể kiểm soát được Chính vì vậy chuyểngiao rủi ro cũng không phải là phương thức tối ưu
Ngoài ra, có một phương thức mà doanh nghiệp có thể không kiểm soát, ngănchặn được toàn bộ rủi ro, nhưng giúp doanh nghiệp giảm thiểu tối đa những rủi ro
có thể kiểm soát được, đó là thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ Theophương thức này, doanh nghiệp tự lực thiết kế, thực hiện các phương pháp cụ thểnhằm bảo vệ an toàn mọi tài sản cho doanh nghiệp
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ và thực hiện chuyển giao rủi ro qua bảohiểm là hai phương thức thường được sử dụng kết hợp với nhau để giảm thiểu tối đanhững trở ngại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp quy mô lớn, để rủi ro xảy ra sẽ gây một tổn thấtnặng nề, việc thiết lập và vận hành có hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ là giảipháp hiệu quả hơn cả
Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh đem lại các lợi ích cho doanhnghiệp như: Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính;tăng cường công tác kiểm toán, kiểm soát nội bộ nhằm giám sát và ngăn ngừa saisót; Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với doanh nghiệp do bên thứ bahoặc nhân viên gây ra; Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thểgây tổn hại cho doanh nghiệp; Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quytrình kinh doanh của doanh nghiệp; Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuấtkinh doanh (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giáthành, giảm chất lượng sản phẩm,…); Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởihao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp; Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy
Trang 9chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của pháp luật; Đảm bảo
tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặtra; Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ
Đối với những doanh nghiệp mà có sự tách biệt lớn giữa người quản lý và cổđông, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ góp phần tạo nên sự tin tưởngcao của cổ đông Xét về điểm này, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh là mộtnhân tố của một hệ thống quản trị doanh nghiệp vững mạnh, và điều này rất quantrọng đối với doanh nghiệp có nhà đầu tư bên ngoài Các nhà đầu tư sẽ thường trảgiá cao hơn cho những doanh nghiệp có rủi ro thấp hơn
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ còn có tác dụng giảm thiểu sự xung độtquyền lợi chung - quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động.Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung - quyền lợiriêng của hai đối tượng trên luôn tồn tại song hành Người lao động vì quyền lợiriêng của mình có thể làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức,của người sử dụng lao động cũng như việc người sử dụng lao động lợi dụng thẩmquyền thực hiện những điều có lợi cho riêng mình, gây thiệt hại cho tổ chức, chophần lớn người lao động Những cơ chế, chế tài được thực hiện thông qua hệ thốngkiểm soát nội bộ sẽ góp phần kiểm soát những hành động đi ngược lại với lợi íchcủa số đông người lao động, bảo vệ thành quả của hoạt động kinh doanh
Thông thường, khi doanh nghiệp phát triển lên thì lợi ích của một hệ thốngkiểm soát nội bộ cũng trở nên to lớn hơn vì người chủ doanh nghiệp sẽ gặp nhiềukhó khăn hơn trong việc giám sát và kiểm soát các rủi ro này nếu chỉ dựa vào kinhnghiệm giám sát trực tiếp của bản thân
Như vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ thực sự quan trọng và có ích đối với hoạtđộng bền vững và sự phát triển của doanh nghiệp
1.1.3 Các nhân tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ
Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ gồm môi trường kiểm soát, hệthống kế toán, kiểm toán nội bộ và thủ tục kiểm soát
Môi trường kiểm soát
Trang 10Môi trường kiểm soát được hiểu là tổng thể các nhân tố môi trường tác động đếnviệc thiết kế, hoạt động và sự hữu hiệu của các chính sách, thủ tục kiểm soát của đơn vịnhư đặc thù về cơ chế quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch,các quy định của pháp luật, các yêu cầu của khách hàng và cổ đông
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong đơn vị và bên ngoàiđơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu củacác loại hình kiểm soát nội bộ
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quanđiểm, thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý trong doanhnghiệp Ví dụ, nhận thức của ban giám đốc thế nào về tầm quan trọng của liêmchính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phải phâncông, phân nhiệm, giao việc rõ ràng, về việc phải ban hành bằng văn bản các nộiquy, quy chế, quy trình sản xuất kinh doanh Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạtđộng kiểm tra, kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếuvào các nhà quản lý tại doanh nghiệp đó Nếu các nhà quản lý cho rằng công táckiểm tra, kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt độngtrong đơn vị thì mọi thành viên của đơn vị đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạtđộng kiểm tra, kiểm soát và tuân thủ mọi quy định cũng như chế độ đề ra Ngượclại, nếu hoạt động kiểm tra, kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắcchắn các quy chế về kiểm soát nội bộ sẽ không được vận hành một cách hiệu quảbởi các thành viên của đơn vị
Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệuquả của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kế toán
Thông qua việc quan sát, đối chiếu, tính toán và ghi chép các giao dịch phátsinh, hệ thống kế toán không những cung cấp thông tin cho các cấp quản lý ra quyếtđịnh mà còn có tác dụng kiểm soát nhiều mặt hoạt động của đơn vị Chính vì thế, hệthống kế toán là một mắt xích quan trọng của cơ chế kiểm soát nội bộ
Hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ
kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán Trong
Trang 11đó, quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công táckiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Mục đích của hệ thống kế toán trong một tổ chức là nhận biết, thu thập, phânloại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó, thoả mãnchức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán Một hệ thống kế toán hữuhiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết:
- Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụkhông có thực vào sổ sách của đơn vị
- Sự phê chuẩn: bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn hợp lý
- Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Sự đánh giá: bảo đảm không có sai phạm trong việc tính toán các khoản giá, phí
- Sự phân loại: bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tàikhoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán
- Tính đúng kỳ: bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiệnkịp thời theo quy định
- Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán được ghi vào sổphải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các Báo cáotài chính của doanh nghiệp
Các thủ tục kiểm soát
Thủ tục hay quy trình kiểm soát là trình tự và nội dung của các bước công việc
mà bộ phận kiểm soát nội bộ có thẩm quyền phải thực hiện để hoàn thành tráchnhiệm được giao Tuỳ từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp mà quy trình và thủtục kiểm soát được tiến hành khác nhau Tuy nhiên, dù thủ tục kiểm soát có khácnhau thì vẫn phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc phân công, phânnhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn
Các thủ tục kiểm soát do Ban Giám đốc đơn vị thiết lập và thực hiện nhằm đạtđược mục tiêu quản lý cụ thể Các thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm: Lập, kiểm tra,
so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn vị; Kiểm tra tính chính xáccủa các số liệu tính toán; Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học; Kiểmtra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết; Kiểm tra và phê duyệt các tài
Trang 12liệu kế toán; Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài; So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kêthực tế với số liệu trên sổ kế toán; Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và cáctài liệu kế toán; Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch.
Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hànhcông việc kiểm tra, đánh giá và tư vấn về các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trịnội bộ đơn vị
Mục tiêu của kiểm toán nội bộ tập trung vào hai chức năng chính: cung cấp sựđảm bảo hợp lý rằng quá trình quản trị rủi ro, kiểm soát và điều hành được thiết lậpnhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải tiến hoạtđộng của tổ chức, xét trên cả hai khía cạnh hiệu quả và hiệu năng Kiểm toán viênnội bộ đánh giá toàn bộ quá trình quản lý bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức vàhướng dẫn thực hiện nhằm đưa ra những đảm bảo hợp lý rằng mục tiêu của tổ chức
có đạt được hay không
Xét một cách tổng thể, kiểm toán nội bộ cung cấp những thông tin đánh giátoàn bộ quá trình quản lý Mọi hệ thống, quá trình, hoạt động và chức năng bêntrong tổ chức đều phải được kiểm toán nội bộ đánh giá Chính vì thế, phạm vi đầy
đủ của kiểm toán nội bộ là phải đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng:
- Hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả;
- Hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp, hiệu quả và có hiệu lực;
- Quá trình điều hành hiệu quả thông qua việc thiết lập và duy trì các nguyêntắc, thiết lập các mục tiêu, điều hành các hoạt động và xác định các tráchnhiệm giải trình
Nếu như trước đây, chức năng của kiểm toán nội bộ được giới hạn trong việckiểm tra và đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ chủ yếu về mặt tàichính thì hiện nay, chức năng của kiểm toán nội bộ đã mở rộng sang đánh giá và cảithiện mọi hoạt động của đơn vị Bên cạnh việc mở rộng các chức năng, các hoạtđộng của kiểm toán nội bộ cũng được mở rộng phạm vi từ xác minh sang hoạt độngbảo đảm và hoạt động tư vấn
Trang 13Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanhnghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên
về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế
và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộ phận kiểm toán nội
bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và xác thực
về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịpthời điều chỉnh và bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả
1.1.4 Các nhân tố trong môi trường kiểm soát
Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
Đặc thù về quản lý
Các đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm khác nhau trong điều hành hoạtđộng doanh nghiệp của nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếnchính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong doanhnghiệp Bởi vì chính các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phêchuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại doanh nghiệp
Chính sách nhân sự
Chính sách nhân sự là những chính sách được thiết lập, thực hiện trong doanhnghiệp có liên quan đến nguồn nhân lực, liên quan đến sự phát triển của nguồn nhânlực, góp phần tạo nên một đội ngũ lãnh đạo cũng như nhân viên chuyên nghiệp, chấtlượng cao Chính sách nhân sự gồm chính sách tuyển dụng, chính sách đào đạo,chính sách đãi ngộ, chế độ lương, chính sách khen thưởng, kỷ luật, …
Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên và họluôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếpthực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp Nếu nhân viên
có năng lực và tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫnđảm bảo được các mục tiêu đề ra qua kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó, mặc dù doanhnghiệp có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưngvới đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trung thực về phẩmchất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả
Trang 14Với những lý do nêu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp cần có những chínhsách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luậtnhân viên Việc đào tạo, bố trí cán bộ và đề bạt nhân sự phải phù hợp với năng lựcchuyên môn và phẩm chất đạo đức, đồng thời phải mang tính kế tục và liên tiếp.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần tạo ra môitrường kiểm soát tốt Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trênxuống dưới trong việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định đó cũng nhưkiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định trong toàn bộ doanh nghiệp
Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộhoạt động và các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng chéo hoặc bỏtrống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lậptương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong cácbước thực hiện công việc
Như vậy, để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các nhàquản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thiết lập được sự điều hành và sự kiểm soát trên toàn bộ hoạt động củadoanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, đồng thời không có sự chồng chéo giữacác bộ phận
- Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chép
sổ và bảo quản tài sản
- Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả caonhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng
Công tác kế hoạch
Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chiquỹ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế hoạch tàichính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự luânchuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan trọng trong môi trường kiểmsoát Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì
hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu Vì
Trang 15vậy, trong thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kếhoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiệnnhững vấn đề bất thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời.
Uỷ ban kiểm soát
Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất củađơn vị như thành viên của HĐQT nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý vànhững chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ bankiểm soát gồm: Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty; Kiểm tra và giám sátcông việc của kiểm toán viên nội bộ; Giám sát tiến trình lập Báo cáo tài chính; Dunghoà những bất đồng nếu có giữa Ban Giám đốc với các kiểm toán viên bên ngoài
Môi trường bên ngoài
Môi trường kiểm soát của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố bênngoài Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng cóảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của các nhà quản lý cũng như sựthiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ Thuộc nhóm các nhân
tố này bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, ảnh hưởngcủa các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước…
Như vậy, môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ những nhân tố có ảnh hưởngđến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộdoanh nghiệp, trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về hoạt độngkiểm tra, kiểm soát và điều hành hoạt động của các nhà quản lý doanh nghiệp.Môi trường kiểm soát nội bộ chỉ tốt nếu các nội dung sau được đảm bảo:Doanh nghiệp đã ban hành dưới dạng văn bản các quy tắc, chuẩn mực phòng ngừaban lãnh đạo và các nhân viên lâm vào tình thế xung đột quyền lợi với doanhnghiệp, kể cả việc ban hành các quy định xử phạt thích hợp khi các quy tắc chuẩnmực này bị vi phạm; Doanh nghiệp đã phổ biến rộng rãi các quy tắc, chuẩn mực nêutrên, đã yêu cầu tất cả nhân viên cam kết tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực đượcthiết lập; Tư cách đạo đức, hành vi ứng xử và hiệu quả công việc của lãnh đạo làtấm gương sáng để nhân viên noi theo; Doanh nghiệp có sơ đồ tổ chức hợp lý đảmbảo công tác quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát)
Trang 16được triển khai chính xác, kịp thời, hiệu quả; Doanh nghiệp có bộ phận kiểm toánnội bộ hoạt động theo các chuẩn mực của kiểm toán nhà nước và kiểm toán quốc tế.
Bộ phận kiểm toán nội bộ phải có khả năng hoạt động hữu hiệu do được trực tiếpbáo cáo độc lập, cởi mở với cơ quan kiểm toán cấp trên hoặc với các lãnh đạo caocấp của tổ chức; Doanh nghiệp có các văn bản quy định chung cũng như hướng dẫn
cụ thể trong hoạt động quản lý tổng thể và trong các hoạt động chuyên ngành;Doanh nghiệp có hệ thống văn bản thống nhất quy định chi tiết việc tuyển dụng, đàotạo, đánh giá nhân viên, đề bạt, trả lương, phụ cấp để khuyến khích mọi người làmviệc liêm chính, hiệu quả; Doanh nghiệp đã sử dụng "Bản mô tả công việc” quyđịnh rõ yêu cầu kiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ chức;Doanh nghiệp không đặt ra những chuẩn mực tiêu chí thiếu thực tế hoặc nhữngdanh sách ưu tiên, ưu đãi, lương, thưởng bất hợp lý tạo cơ hội cho các hành vi vô
kỷ luật, gian dối, bất lương; Doanh nghiệp đã áp dụng những quy tắc, công cụ kiểmtoán phù hợp với những chuẩn mực thông dụng đã được chấp nhận cho loại hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của mình đảm bảo kết quả kiểm toán không bị méo
mó, sai lệch do sử dụng các chuẩn mực, công cụ kiểm toán không phù hợp; Doanhnghiệp thường xuyên luân chuyển nhân sự trong các khu vực vị trí nhạy cảm, quantâm, nhắc nhở, bảo vệ quyền lợi của những người làm việc trong các khu vực vị tríđộc hại, nặng nhọc theo đúng quy định
1.2 Đặc điểm môi trường kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại
1.2.1 Đặc điểm ngân hàng thương mại ảnh hưởng kiểm soát nội bộ
NH là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Tiếp cận NH trênphương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp thì NH là một tổ chức tàichính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tíndụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất sovới bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
1.2.1.1 Đặc thù hoạt động
NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế NH baogồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài
Trang 17chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thịphần và số lượng các NH.
Hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dungthường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết cáclĩnh vực khác trong nền kinh tế
NH là một trong những tổ chức trung gian quan trọng nhất NH thực hiện cácchính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, NH là một kênh quan trọng trongchính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế Trong sự vận hành của nềnkinh tế thị trường, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụkinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thựchiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường, điều khiểnchúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô “Nhà nướcđiều tiết NH, NH dẫn dắt thị trường”
Vì vậy, khác với các doanh nghiệp khác, hoạt động kinh doanh NHTM có nhữngđặc thù ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ như:
- Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thờicũng là đối tượng kinh doanh của NHTM NHTM là một doanh nghiệp kinh doanhtrong lĩnh vực tiền tệ Các sản phẩm của NH không có hình thái vật chất cụ thể, cáckhoản mục tài sản của NHTM đều nhạy cảm hơn so với các doanh nghiệp sản xuất.Phần lớn các khoản mục tài sản của NHTM đều liên quan đến tiền
Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, các NH phải đối mặt với chính rủi ro từphương tiện và đối tượng kinh doanh của mình Vì vậy kiểm soát phải được thiết kế
và vận hành trên tất cả các hoạt động nghiệp vụ cũng như các hoạt động hỗ trợ kháctrong NH
- NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác Vốn tự có của NHTMchiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh củaNHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà NH buộc phải chấp nhận với một mức độmạo hiểm nhất định Kinh doanh bằng vốn của người khác, làm cho NH đôi khi
Trang 18không chủ động trong việc thanh toán Nguyên nhân có thể rất đơn giản như sự xuấthiện của các thông tin tác động tiêu cực đến tâm lý, dẫn đến làm suy giảm niềm tincủa công chúng đối với NH Vì vậy trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của mình,NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi loại hìnhdoanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng.Như vậy, kiểm soát được xây dựng không chỉ để bảo vệ NH mà còn bảo vệ tàisản của một số lượng rất lớn các khách hàng Ngược lại, bảo vệ tốt tài sản củakhách hàng cũng chính là bảo vệ và tạo cơ hội phát triển cho NH Hệ thống kiểmsoát được đặt ra phải thực hiện kiểm soát tốt mọi giao dịch liên quan đến kháchhàng, đảm bảo an toàn tài sản khách hàng.
- Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnhvực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Nhóm khách hàng mà cácNHTM hướng tới rất đa dạng, phong phú: tổ chức kinh tế, TCTD, tổ chức tài chính,
cơ quan đoàn thể, khách hàng cá nhân,… trong nước và nước ngoài Các loại hìnhdịch vụ hiện nay các NHTM cung ứng gồm: Mua bán ngoại tệ, nhận tiền gửi, chovay, bảo quản vật có giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán,quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, bảo lãnh, cho thuê tài chính,cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán,cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý, các dịch vụ thẻ, … Với
tư cách là đơn vị cung cấp các phương tiện và giải pháp liên quan đến tài chính chocác đối tượng khách hàng khác nhau, NH làm ảnh hưởng đến cân đối tài sản, nguồnvốn của khách hàng Vậy nên chỉ một chút biến động không có lợi liên quan đếnkhách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn, liên quan đến lĩnh vực hoạt động kinhdoanh (lạm phát, biến động thị trường bất động sản, xuất hiện thêm một đối thủcạnh tranh, xuất hiện thêm một loại tội phạm NH mới, sự thay đổi của cơ chế lãisuất, tỷ giá,…) cũng có thể là nguy cơ gây nên một loạt rủi ro hệ thống trong NH.Khi đó kiểm soát nội bộ được thiết kế, hoạt động nhằm đảm bảo hoạt động của
NH được đúng hướng, tuân thủ pháp luật Kiểm soát nội bộ trong từng NH phảiđược đặt trong mục tiêu kiểm soát tốt nhất những vấn đề có thể gây ra rủi ro chotoàn hệ thống các NH, các tổ chức kinh tế và các cá nhân
Trang 19- Xu hướng chung của các NHTM hiện nay là mở rộng lĩnh vực kinh doanh.Cùng với việc mở rộng mạng lưới, rất nhiều NH đã mở rộng hoạt động sang lĩnhvực đầu tư thông qua hợp tác chiến lược, tài trợ cho vay đối với các dự án lớn haygóp cổ phần vào tập đoàn, tổng công ty Trên thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính –bao gồm các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹtương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của
NH Ngược lại, NH đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chínhphi NH) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giớichứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiệnnhiều dịch vụ mới khác
Kiểm soát nội bộ hiệu quả là một cách thức giúp NH kiểm soát tốt chất lượngsản phẩm, dịch vụ, theo dõi sát nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, điềuphối, sử dụng vốn hiệu quả, khẳng định vai trò không thể thay thế của các NH trongmôi trường kinh doanh cạnh tranh của nền kinh tế
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nótổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinhdoanh NH có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hìnhdoanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh
tế Do đó, trong quá trình hoạt động, các NHTM phải thường xuyên nghiên cứu,phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa rủi ro có hiệu quả.Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi NH tự đánh giá được khả năng chịu đựng rủi ro củamình
1.2.1.2 Quy mô, mô hình hoạt động
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, quy mô cũng như mô hình hoạtđộng của các NH đã có những thay đổi đáng kể
Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình NH và các hoạt động NH Từ các NH
tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung vốn trong NH đã dẫn đến hình thành NH cổphần Quá trình gia tăng vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động NH đã tạo racác NH thuộc sở hữu nhà nước, các NH liên doanh, cuối thế kỷ 20, các tập đoàn NHbắt đầu hình thành và phát triển mạnh Hiện nay, các loại hình NH trên vẫn tồn tại
Trang 20song song Nhiều nghiệp vụ truyền thống vẫn được giữ vững bên cạnh việc pháttriển nhiều các nghiệp vụ mới Công nghệ NH đang góp phần làm thay đổi các hoạtđộng cơ bản của NH Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩynhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán Các loại thẻ đang thay thếdần tiền giấy, dịch vụ NH điện tử đang dần thay thế cho NH thủ công… Những sựthay đổi này đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng.
Quá trình phát triển của các NH làm gia tăng số lượng các NH, đồng thời làmtăng quy mô của mỗi NH Tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra các công ty NH, tậpđoàn tài chính – NH với số vốn tự có ngày càng lớn Quy mô lớn, sự phát triển tiệních của các sản phẩm dịch vụ và sự phát triển công nghệ NH tất yếu dẫn đến quátrình mở rộng mạng lưới hoạt động Các NH dần hình thành các chi nhánh, vănphòng đại diện tại mỗi khu vực, quốc gia Các đơn vị thành viên có thể hoặc khôngtrực tiếp thực hiện hoạt động dịch vụ NH và có cơ cấu tổ chức phù hợp Mạng lướichi nhánh, văn phòng đại diện của các NH không chỉ trong phạm vi một quốc gia
mà mở rộng ra nhiều nước trên thế giới Các hoạt động NH xuyên quốc gia và đaquốc gia đã và đang thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các NHnhằm tạo ra các chính sách chung hoặc tương thích để kiểm soát chung, để kết nối
và tạo sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thống NH trong mỗi quốc gia,khu vực và quốc tế
NH hiện nay đang hoạt động với đặc điểm quy mô lớn, mô hình tổ chức phântán với nhiều chi nhánh ở nhiều cấp bậc, nhiều quốc gia, trước hết làm cho việcthiết lập hệ thống kiểm soát là thực sự cần thiết, sau đó là ảnh hưởng đến mức độphức tạp, chặt chẽ, quy mô lớn của hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 21buôn có những khách hàng lớn (tổng công ty, các tập đoàn kinh tế…) Vì vậy, tổchức bộ máy của NH mang tính chuyên môn hoá cao Tại các phòng chuyên môn tậptrung các chuyên gia về tư vấn, nghiên cứu thị trường, phân tích tài chính công ty,ngành, quốc gia, các chuyên gia về cho vay, chứng khoán, luật, nhân sự, công nghệ,
…
Tổ chức bộ máy của NH lớn còn thể hiện ở tổ chức bộ máy của các đơn vịthành viên Các chi nhánh của NH lớn bao gồm nhiều phòng chuyên sâu như tíndụng doanh nghiệp, tín dụng tiêu dùng, thẩm định và bảo lãnh, kế toán và thanhtoán quốc tế, uỷ thác,…
Các NH nhỏ thường ít hoặc không có chi nhánh, hoạt động trong phạm vi địaphương, nghiệp vụ kém đa dạng Để thích ứng với quy mô nhỏ, doanh lợi thấp, NHnhỏ thường tổ chức bộ máy gọn, mỗi phòng có thể kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, ví dụphòng tín dụng vừa cho vay doanh nghiệp vừa cho vay tiêu dùng, vừa phân tích dựán… NH nhỏ đòi hỏi mỗi cán bộ phải thông thạo nhiều công việc So với NH lớn, mỗiliên kết giữa các phòng của NH nhỏ chặt chẽ hơn, khả năng kiểm soát của Ban giámđốc đối với các bộ phận cao hơn
Tổ chức bộ máy của NH không ngừng thay đổi trước thay đổi của môi trườngkinh doanh Sự phát triển của các tổ chức tài chính mới, sự ra đời của các sản phẩm
NH, sự thay đổi về nhu cầu tiết kiệm hay vay mượn, sự phát triển của công nghệ,quá trình đa dạng hoá, toàn cầu hoá tạo mối liên kết mới… đều dẫn đến sự thay đổi
Trang 22Khối tổ chức cán bộ, đào tạo
Khối kinh doan
h đối ngoại
Khối kế hoạch , thị trườn g
Khối kinh doan
h đối nội
Khối kế toán tài chính
Đơn vị hạch toán phụ thuộc:
- Chi nhánh kinh doanh tổng hợp
- Chi nhánh kinh doanh chuyênngành
- Sở giao dịch
Chi nhánh NH tỉnhChi nhánh NH huyệnChi nhánh NH liên xã
Trang 23Sơ đồ 1.2 Mô hình tổ chức bộ máy của NH nhỏ
Đại hội cổ đông
Thanh toánquốc tế
Ngânquỹ
Kiểm soátnội bộ
Đầu tư phát triển Công nghệ thông tin Phòng giao dịch Chi nhánh
Tổ chức bộ máy nhằm mục tiêu chủ yếu là tăng hiệu suất công việc, dẫn đến
tăng thu nhập, giảm rủi ro cho NH Mỗi chi nhánh, công ty con, phòng ban tổ chức
ra đều làm gia tăng chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí đầu tư… Hơn nữa,
nếu phân định nhiệm vụ không rõ ràng có thể dẫn đến trùng lặp giữa các phòng Do
vậy, tổ chức bộ máy phải nghiên cứu tính sinh lời của các phòng, các chi nhánh Tổ
chức bộ máy vừa phải đảm bảo quyền và hiệu quả kiểm soát của Ban giám đốc, vừa
tăng tính độc lập tương đối của các thành viên
Hầu hết tại các NHTM đều có bộ máy tổ chức theo mô hình một NH lớn do
mạng lưới chi nhánh rộng khắp, dẫn đến bộ máy quản lý cồng kềnh Khả năng kiểm
soát tương ứng sẽ khó khăn và tốn kém hơn Mối quan hệ giữa các phòng ban, sự
phân chia nhiệm vụ, chức năng khó tránh khỏi những bất cập, chồng chéo Sự phân
Trang 24công phân nhiệm sẽ phức tạp, cơ chế kiểm soát hoạt động khó khăn hơn, đòi hỏi sựvận hành đồng bộ của cả hệ thống.
1.2.1.4 Đặc điểm nguồn nhân lực và chính sách nhân sự
Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, sự cạnh tranh trong các doanhnghiệp nói chung và trong lĩnh vực NH nói riêng rất gay gắt Các NH cũng nhậnthức được rằng: yếu tố quyết định thắng bại hiện nay chính là chất lượng nguồnnhân lực, nên họ thực sự đã chú ý đến vấn đề này
Những ưu điểm nổi bật của nguồn nhân lực NH là năng động, sáng tạo; trình
độ cao; tận tụy, ham học hỏi; khả năng tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiệnđại, tư duy tốt; chủ động nắm bắt thời cơ; làm chủ được tình hình, am hiểu về côngviệc, tổ chức và những vấn đề liên quan
Nhìn chung đặc điểm nguồn nhân lực NH là tốt, một mặt góp phần rất lớn vào
sự phát triển của các NH, mặt khác cũng cần có những cơ chế kiểm soát đủ để tránhxảy ra rủi ro từ đội ngũ nguồn nhân lực
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực ngành NH và những bất cập xungquanh vẫn đang là vấn đề cần sự quan tâm đặc biệt: Chất lượng nguồn nhân lựckhông đồng đều, chính sách tiền lương chưa thoả đáng; Việc đào tạo và sử dụng cán
bộ, nhân viên còn bất cập so với yêu cầu của nghiệp vụ mới; sự chảy máu chất xámkhi mở cửa hội nhập; Xuất phát điểm của nhiều NHTM còn thấp nên rất thiếu cácchuyên gia giỏi ở các vị trí; nhân viên trẻ còn yếu về thực hành, thiếu kinh nghiệm.Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực cũng như mốinguy hại mang tới từ chính đội ngũ này, chính sách nhân sự trong các NH đã cóthay đổi Chính sách nhân sự được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhânlực trong hệ thống NH, nhằm tránh rủi ro, tổn thất liên quan đến nguồn nhân lực nội
bộ NH Chính sách rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, lương, thưởng, kỷ luật,với các điểm nổi bật như: Quan tâm đến cơ chế khuyến khích làm việc tại NH;Chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ hợp lý để lôi kéo và giữ chân các nhân viêngiỏi; Gắn chiến lược nhân sự với các trường đại học trọng điểm và hình thành cáctrung tâm đào tạo tại các NHTM Mở các lớp đào tạo chuyên sâu, cập nhật kiếnthức tại các trung tâm đào tạo chuyên nghiệp; Bồi dưỡng sau tuyển dụng; Thuê các
Trang 25chuyên gia giỏi vào làm việc, họ không chỉ giúp quản lý, điều hành hiệu quả hơn,
mà còn học tập được từ chính họ phong cách làm việc, kiến thức quản lý, …; Chế
độ lương phù hợp với trình độ và năng lực của cán bộ, tránh chi trả lương theo cơchế doanh nghiệp Nhà nước, hạn chế việc bình bầu thi đua khen thưởng một cáchhình thức tránh quan liêu, tham nhũng, tiêu cực…
1.2.1.5 Đặc điểm khách hàng
Khách hàng luôn là một nguyên nhân căn bản gây ra rủi ro hoạt động của NH Đây
là nguyên nhân mà các NH khó có thể dùng công cụ thị trường để điều tiết có hiệu quả Chính những đặc điểm kinh doanh, tư duy, phong tục, thói quen của người dânkhu vực đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của NH Một kẽ hở trongquy trình nghiệp vụ hay đội ngũ nhân sự, cách thức quản lý,… cũng có thể phát sinhcác loại rủi ro liên quan đến khách hàng mà không thể lường trước Đơn cử như:Khả năng “di chuyển” của khách hàng làm gia tăng tính nhạy cảm với lãi suấtcủa tài sản và nguồn vốn Các nguồn trung và dài hạn, các tài sản trung và dài hạnđang ngày càng gia tăng Về nguyên lý, nguồn và tài sản trung và dài hạn ít nhạycảm với lãi suất, trong nhiều năm, lãi suất do NHNN quy định ít thay đổi (có khi 2-
3 năm mới thay đổi một lần) thì các tài sản và nguồn của NH đều ít nhạy cảm lãisuất Khi cơ chế lãi suất linh hoạt hơn, khách hàng và NH làm quen với tình trạngthay đổi lãi suất nhiều lần trong năm Cạnh tranh đã tạo nên phân biệt lãi suất giữacác NH Mật độ NH, sự tiện lợi khi giao dịch với NH, và quy mô thu nhập gia tăng
đã khiến cho việc di chuyển của khách hàng ngày càng tăng, làm tăng tính nhạycảm của tài sản và nguồn đối với lãi suất Tình trạng khách hàng đồng loạt rút tiền
từ một NH có lãi suất huy động vốn kém hơn chuyển sang một NH có mức lãi suấthấp dẫn hơn làm tăng rủi ro thanh khoản, đưa các NH vào cuộc chạy đua lãi suất.Điều này, một mặt ảnh hưởng đến tính thanh khoản của nguồn và tài sản, mặt khácbuộc NH phải đối đầu với rủi ro lãi suất cao hơn
Sự phát triển nhu cầu dịch vụ tài chính: Đánh giá của khách hàng là thước đochất lượng sản phẩm mà NH cung cấp NH là một đơn vị hoạt động kinh doanhtrong ngành dịch vụ, các sản phẩm mà NH cung cấp không mang hình thái vật chất
Trang 26cụ thể, chúng có thể được đánh giá bởi các tổ chức thẩm định có uy tín, tuy nhiênđánh giá cuối cùng phụ thuộc vào phần đông khách hàng.
Khách hàng của NHTM đa dạng, là các tổ chức thuộc nhiều thành phần kinh
tế, nhiều lĩnh vực kinh doanh, các cá nhân thuộc nhiều thành phần xã hội, đa dạngtrình độ, lứa tuổi… Tiếp cận và đáp ứng nhu cầu dịch vụ tài chính phong phú, ngàycàng cao và phức tạp của khách hàng, hệ thống NH đã có sự gia tăng đáng kể cácloại hình dịch vụ NH: từ cho vay tín chấp, chiết khấu thương phiếu đến cho vay tiêudùng, bảo lãnh, cho thuê, tài trợ dự án, từ việc chỉ giao dịch được tại một đơn vị đếnviệc giao dịch được trên toàn mạng lưới của hệ thống một NH, từ việc khách hàngphụ thuộc NH trong dịch vụ thanh toán đến sự phát triển của hệ thống NH điện tử,thanh toán thẻ, thanh toán qua mạng, …
Các NH đang mở rộng danh mục dịch vụ cung cấp cho khách hàng, quá trìnhnày làm tăng nguồn thu mới cho NH, đồng thời cũng gia tăng chi phí của NH phục
vụ cải tiến công nghệ, mở rộng mạng lưới, tăng quy mô hoạt động, đào tạo nguồnnhân lực Bên cạnh rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, NH cũng đối mặt với nhiềuloại rủi ro hơn: rủi ro từ bộ máy tổ chức lớn, rủi ro từ nguồn nhân lực, rủi ro từ cácloại hình dịch vụ tín dụng đa dạng, rủi ro do thanh toán điện tử, rủi ro do tính biếnđộng lớn trên thị trường thế giới và khu vực do thông tin sai lệch, …
Mối quan hệ giữa NH và khách hàng là mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ tàichính NH có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ huy động vốn cho khách hàng gửitiền, đồng thời có quyền yêu cầu khách hàng tín dụng thanh toán các khoản nợ sửdụng vốn theo cam kết NH và khách hàng thực hiện hợp đồng tín dụng trị giákhông đáng kể, đó là vấn đề của khách hàng Khi NH thực hiện hợp đồng tín dụngvới một khối lượng vốn khổng lồ, đây lại là vấn đề của NH Mọi sự rủi ro có nguy
cơ ảnh hưởng không tốt đến tình hình tài chính, tính thanh khoản của khách hàngđều trở thành rủi ro của NH
Mặt khác, mối quan hệ tài chính luôn là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi.Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, lại chưa minh bạch, một số khách hàng (kể
cả pháp nhân) đã rút tiền ra khỏi NH này và chuyển sang NH khác, dân cư rút tiền
để mua vàng, mua ngoại tệ để tích trữ… Điều này đã làm tăng tính bất ổn của thị
Trang 27trường nội và ngoại tệ, gây khó khăn cho chính khách hàng đã và đang sử dụng dịch
vụ gửi và vay tiền tại NH Mối quan hệ tài chính chặt chẽ tạo ra cho NH nhữngnguy cơ từ rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái
1.2.1.6 Sự thắt chặt quản lý của các cơ quan chức năng, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước
Trước hết, cũng như các doanh nghiệp lĩnh vực khác, NH hoạt động trong khuônkhổ pháp luật, chịu sự quản lý của các cơ quan chức năng như cơ quan thuế, bộ tàichính,… Ngoài ra, hệ thống NH chịu sự quản lý của NHNN hay NH Trung ương.NHNN hay NH Trung ương tại mỗi quốc gia là một cơ quan quản lý nhà nước
về tiền tệ, thực hiện các chính sách tiền tệ cho Chính phủ nhằm ổn định và pháttriển nền kinh tế Thông qua các chính sách tiền tệ, NHNN quản lý tầm vĩ mô hoạtđộng của các NH
Chính sách quản lý NH được Chính phủ, NHNN thực hiện có thể kể đến như:
Chính sách về mức dự trữ bắt buộc Mức dự trữ bắt buộc thay đổi theo từng
thời kỳ
Can thiệp của NHNN: Tùy thuộc chính sách phát triển kinh tế mỗi quốc gia,
bàn tay can thiệp của NHNN thực hiện quản lý vi mô hay vĩ mô đối với hoạt độngcủa các NH
Hệ thống NH có tác động lan tỏa rất nhanh, sập một NH sẽ gây ra tác động dâychuyền Chính vì vậy, NHNN đã tìm cách giữ được ổn định hệ thống, kể cả sử dụngbiện pháp hành chính Về lâu dài, phải tính đến mua bán và sáp nhập
Quy định liên quan đến mở rộng mạng lưới:
Việc mở rộng mạng lưới của các NH phải gắn với thực lực tài chính, phải đảmbảo các điều kiện về an toàn kho quỹ, hệ thống mạng… Nhưng trên thực tế, cùngvới việc mở chi nhánh vượt quá năng lực vốn và khả năng điều hành, một sốNHTM còn giao nhiều quyền quyết định cho các chi nhánh và có nguy cơ hìnhthành NH con trong chính một NHTM Trong khi đó, mô hình NH hiện đại trên thếgiới là tập trung quyền về HSC, nhằm đảm bảo an toàn hệ thống
Quy định mức vốn tối thiểu thành lập NH
Trang 28Quy định mức VĐL tối thiểu để xin cấp giấy phép NHTMCP nông thôn vàNHTMCP đô thị VĐL của NH xin thành lập mới phải tối thiểu bằng mức vốn phápđịnh do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ.
Nguồn vốn góp phải là nguồn hợp pháp; không đuợc sử dụng tiền vay dưới bất
cứ hình thức nào để góp vốn thành lập NH
Người quản lý, điều hành phải có kinh nghiệm
Người quản lý, điều hành phải có bằng cấp phù hợp, đạt yêu cầu như đại họchoặc trên đại học về kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, có kinh nghiệm trong ngườiquản lý NH hoặc doanh nghiệp khác, kinh nghiệm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực
NH, tài chính, kiểm toán, kế toán
Thẩm định hồ sơ cấp giấy phép
Việc thẩm định hồ sơ cấp giấy phép có sự tham gia của nhiều đơn vị thuộcNHNN Thanh tra NHNN sẽ đánh giá thực trạng hoạt động, năng lực tài chính, việctham gia quản trị, kiểm soát, điều hành của TCTD xin góp vốn thành lập NH
Vụ Chiến lược và phát triển NH đánh giá về chiến lược phát triển của NH vàkhả năng phát triển bền vững của NH trong thời gian tới
Qua việc tìm hiểu khái quát về đặc điểm và hoạt động của NHTM, có thể nhậnthấy những đặc điểm trong hoạt động kinh doanh NH có ảnh hưởng khá rõ nét đếnhoạt động kiểm soát nội bộ trong NHTM, đó là:
Thứ nhất, Để hạn chế rủi ro, các NHTM thường áp dụng nhiều biện pháp quản
lý rủi ro nhằm đảm bảo có sự an toàn chung để đạt được mục tiêu kinh doanh.Ngoài các biện pháp mang tính chất hành chính còn có các biện pháp phòng chốngrủi ro mang tính chất nghiệp vụ Bên cạnh đó, NHTM còn duy trì một hệ thống kếtoán và kiểm soát phức tạp nhằm quản lý và ngăn chặn các rủi ro Do vậy, xây dựng
hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM cần tìm hiểu kỹ lưỡng khả năng xảy ra rủi
ro, loại hình rủi ro và cách thức quản lý rủi ro
Thứ hai, NHTM thường hoạt động với một mạng lưới chi nhánh và phòng giaodịch rải rác, phân tán về mặt địa lý, tổ chức theo mô hình bộ máy của một NH lớn.Điều này dẫn đến sự phân quyền nhiều hơn, nhiều khó khăn hơn trong việc thốngnhất lề lối hoạt động và cũng đem lại khó khăn cho công tác kiểm soát nội bộ
Trang 29Thứ ba, NHTM chịu sự quản lý chặt chẽ của NHNN Trong quá trình hoạt độngcủa mình, ngoài việc phải mở tài khoản tại NHNN và nộp dự trữ bắt buộc các NHTMcòn phải thực hiện các chính sách tiền tệ của NHNN như chính sách thị trường mở,chính sách lãi suất và chiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc Ngoài ra, các NHTMphải tuân thủ chặt chẽ những quy định, hướng dẫn của NHNN trong các lĩnh vực hoạtđộng của mình nhằm đảm bảo sự an toàn trong hoạt động của các NH cũng như gópphần ổn định tình hình lưu thông tiền tệ và sự ổn định của cả hệ thống kinh tế.
1.2.2 Đặc điểm môi trường kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại
Khái niệm kiểm soát trong HSC của NH liên quan đến:
- Khả năng kiểm soát liên quan đến năng lực của HSC về quyền lực tài chính
để có thể chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình ra quyết định của chinhánh, công ty trực thuộc, công ty tham gia góp vốn
- Lĩnh vực kiểm soát liên quan đến việc HSC sẽ kiểm soát các chi nhánh, cáccông ty trực thuộc hoặc công ty tham gia góp vốn ở những khâu nào, từquyết định đầu tư, chiến lược phát triển, nhân sự cho đến các giao dịch hàngngày như huy động vốn, cho vay, kinh doanh ngoại tệ, …
Kiểm soát nội bộ được hiểu theo nghĩa gói gọn trong nội bộ một thực thể Nóliên quan đến những công việc mang tính tác nghiệp cụ thể mà một bộ phận nào đócủa NH được giao thực hiện Cơ chế kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, cácbước kiểm soát và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm quản lý và điều hành cáchoạt động của NH Mục đích của kiểm soát nội bộ khi đó sẽ là: Sử dụng các nguồnlực và quản lý hoạt động kinh doanh của NH một cách hiệu quả; Đảm bảo chắcchắn các quyết định và chế độ quản lý đã được NH và các cơ quan quản lý có thẩmquyền ban hành được thực hiện đúng thể thức và giám sát mức độ hiệu quả cũngnhư tính hợp lý của các chế độ đó; Phát hiện kịp thời những vướng mắc trong kinhdoanh để hoạch định và thực hiện các biện pháp đối phó; Ngăn chặn, phát hiện cácsai phạm trong hoạt động kinh doanh của NH; Đảm bảo việc ghi chép, hạch toánđầy đủ, chính xác và đúng thể thức các giao dịch phát sinh của NH; Đảm bảo việclập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên
Trang 30quan; Đảm bảo tài sản và thông tin không bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích Dođặc thù vốn có của NH, dễ dàng nhận thấy, kiểm soát nội bộ đóng vai trò rất quantrọng đối với sự an toàn và khả năng phát triển trong hoạt động kinh doanh củaNHTM Việc xây dựng và thực hiện được một hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp
và hiệu quả sẽ cho phép các NHTM chống đỡ tốt nhất với rủi ro
Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ trong NH cũng gồm có: môitrường kiểm soát, hệ thống kế toán, kiểm toán nội bộ và thủ tục kiểm soát
Môi trường kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội bộ NH cũng được hiểu làcác nhân tố xung quanh tác động đến việc thiết kế, hoạt động và sự hữu hiệu củacác chính sách, thủ tục kiểm soát của NH như đặc thù về cơ chế quản lý, cơ cấu tổchức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát, môi trường bênngoài như các quy định của pháp luật, các yêu cầu của khách hàng và cổ đông…
Do những đặc thù riêng biệt về mọi mặt của hệ thống NH so với các doanhnghiệp sản xuất, thương mại khác, môi trường kiểm soát trong hệ thống NH cũng vìvậy mà có những nét đặc thù
1.2.2.1 Đặc thù về quản lý
Theo Ủy ban Basel, Ban giám đốc của NH phải có trách nhiệm bảo đảm NH
có hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả phù hợp với tính chất, quy mô và tính phứctạp của nghiệp vụ của đơn vị đồng thời phù hợp với chính sách, hệ thống kế toán vàhướng dẫn giám sát của nước sở tại
Nhận thức rõ được sự khác biệt ngành nghề hoạt động với những đặc trưnghoạt động, bộ máy tổ chức, đặc điểm khách hàng, đặc điểm về sự giám sát quản lýcủa NHNN, ban lãnh đạo (HĐQT, Tổng giám đốc) các NH đều chủ trương thiết lậpyếu tố kiểm soát trên mọi hoạt động của NH
1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức
Bộ máy tổ chức của các NH hiện nay phần lớn đều theo mô hình của NH lớn.Đứng đầu là HĐQT, điều hành công việc có Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc.NHNN quy định chung về cơ cấu tổ chức của một NH Các NHTM phải đápứng được điều kiện này thì mới được cấp giấy phép hoạt động Ngoài những quyđịnh về VĐL, cổ đông, điều lệ, bộ hồ sơ xin cấp phép còn phải có đề án thành lập
Trang 31NH với những nội dung cụ thể, trong đó có cơ cấu tổ chức nhân sự: Sơ đồ tổ chứcnhân sự dự kiến của NH; Nhân sự dự kiến của bộ máy quản trị, kiểm soát, điềuhành; yêu cầu về năng lực quản trị, quản lý NH của từng thành viên trong bộ máyquản trị, kiểm soát, điều hành
NH phải trình bày quy định nội bộ về tổ chức và hoạt động của mình, tối thiểuphải có các quy định sau: Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐQT, Ban kiểmsoát, Người điều hành; Quy định về quản lý các loại rủi ro của NH; Quy định vềhoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ; Quy định về quản lýTài sản Nợ, Tài sản Có; Quy định về tổ chức và hoạt động của sở giao dịch, chinhánh và các đơn vị trực thuộc khác của NH; Quy định về chính sách phân loại nợ
và trích lập dự phòng để quản lý rủi ro
NHNN quy định những bộ phận cơ bản, bắt buộc Tùy thuộc mục tiêu kinhdoanh, quy mô hoạt động các NH có cơ cấu tổ chức phù hợp
Đáp ứng được các điều kiện để được cấp giấy phép thành lập, đảm bảo hiệuquả hoạt động từ hệ thống bộ máy tổ chức to lớn, nhiều mối quan hệ nghiệp vụ,việc phân công chi tiết nhiệm vụ, chức năng các phòng ban đòi hỏi sự toàn diện,khoa học Sự chồng chéo và việc bị bỏ quên một chi tiết nghiệp vụ cũng là một khảnăng rất dễ xảy ra, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho NH
Tuyển dụng:
Chính sách tuyển dụng công khai, minh bạch, thực hiện công bằng
Đào tạo:
Trang 32Đào tạo và phát triển nhân viên là công tác được ưu tiên hàng đầu của các NH.Mục tiêu là xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên thành thạo về nghiệp vụ,chuẩn mực trong đạo đức kinh doanh, chuyên nghiệp trong phong cách làm việc vànhiệt tình phục vụ khách hàng Một số NH đã xây dựng được trung tâm đào tạo củamình với hệ thống giáo trình hoàn chỉnh bao gồm tất cả các nghiệp vụ NH, các kiếnthức pháp luật nhằm phục vụ cho công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống.Đối với nhân viên mới tuyển dụng thường được tham gia các khóa đào tạo liênquan như: khóa học về hội nhập môi trường làm việc, khóa học về các sản phẩmcủa NH, các khóa nghiệp vụ và hướng dẫn sử dụng các phần mềm liên quan trongquá trình tác nghiệp, khóa đào tạo kỹ năng.
Đối với các cán bộ quản lý: được tham gia các khóa học nâng cao, cập nhật, bổsung kiến thức về nghiệp vụ, các khóa đào tạo kỹ năng quản lý, đào tạo quản trịchiến lược, quản trị marketing, quản lý rủi ro, quản lý chất lượng, sản phẩm mới,kiến thức quản lý chi nhánh…
Các nhân viên được khuyến khích đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ phù hợpvới chức năng công việc nhằm thực hiện tốt các dịch vụ đa dạng của NH và chuẩn
bị cho những công việc có trách nhiệm cao hơn
Lương và các chính sách đãi ngộ:
Những chính sách liên quan đến lương, thưởng đều nhắm tới mục tiêu thu hút,khuyến khích và lưu giữ những nhân sự có năng lực, trách nhiệm và có cống hiếnđóng góp Bởi vậy hầu hết các NH đều xây dựng, điều chỉnh lương, thưởng dựa trêncác tiêu chí: Xây dựng dựa trên hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH, từng đơn vị
bộ phận và cá nhân; Phù hợp với chính sách chung hiện có trên thị trường và ngànhtài chính NH; Người lao động thỏa mãn và nhận thấy sự liên hệ giữa thành quả laođộng, năng lực thực tế của mình với mức lương, thưởng, các khoản phụ cấp nhậnđược; Tuân thủ theo đúng quy định của Nhà nước và pháp luật từng quốc gia
Môi trường làm việc và các hoạt động xã hội: Cố gắng xây dựng môi trường làm
việc chuyên nghiệp, năng động cùng với một bầu không khí thân thiện vui vẻ, tự dotrao đổi và hợp tác
Trang 33Tất cả các chính sách nhân sự được xây dựng nhằm mục tiêu thu hút nhân tài,giữ nguồn nhân lực, tránh chảy máu chất xám và hạn chế tối đa rủi ro tác nghiệp, rủi
ro đạo đức, giảm bớt áp lực đối với hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2.2.4 Công tác kế hoạch
Kinh doanh tài chính – NH đang trở thành một lĩnh vực kinh doanh hiệu quảnhất hiện nay Trước tình hình suy thoái của nền kinh tế, hoạt động của các NH nóichung bị ảnh hưởng rất lớn Bên cạnh sự đổ vỡ của hàng loạt NH lớn trên thế giới,không ít NH vẫn khẳng định được thế mạnh và duy trì được tốc độ phát triển Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công đáng khâm phục đó là khả năngkiểm soát rủi ro của các NH thông qua công tác kế hoạch Hoạt động kinh doanh
NH phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế và các cá thể kinh tế, việclập kế hoạch giúp cho Ban lãnh đạo NH kiểm soát tốt hơn những rủi ro xuất phát từmôi trường bên ngoài
Kế hoạch bao trùm hoạt động của NH là kế hoạch kinh doanh hàng năm Đây
là kế hoạch xây dựng dựa trên những đặc điểm thực tế hoạt động của hệ thống NH,những dự đoán về tình hình môi trường kinh doanh Kế hoạch được xây dựng trênhầu hết các chỉ tiêu hoạt động: huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu,phát triển dịch vụ, mở rộng mạng lưới, kế hoạch liên quan đến chính sách nhân sự,
kế hoạch kiểm tra, kiểm soát định kỳ, đột xuất Từ kế hoạch tổng thể của toàn hệthống, xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng đơn vị thành viên, từng phòng bannghiệp vụ cụ thể
Công tác điều hành và quản lý quá trình thực hiện kế hoạch được thực hiện bởingười lãnh đạo trực tiếp và các đơn vị có liên quan Kiểm soát tốt quá trình thựchiện kế hoạch là một công cụ giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể về tình hìnhhoạt động chung của đơn vị
1.2.2.5 Uỷ ban kiểm soát
Ủy ban kiểm soát là bộ phận không thể thiếu trong các NH, luôn được sự giámsát của NHNN Ủy ban kiểm soát bao gồm những thành viên trong HĐQT, thựchiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao để hoàn thành mục tiêu đề ra Đó phải làthành viên trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của NH nhưng không kiêm nhiệm các
Trang 34chức vụ quản lý hay những chuyên gia am hiểu về nhiều lĩnh vực để làm nhiệm vụ:Giám sát sự hoạt động theo đúng pháp luật, điều lệ, đăng ký kinh doanh; Giám sáthoạt động của NH theo khía cạnh: kinh doanh, kế toán – tài chính, văn hóa nội bộ,
có tham chiếu tình hình kinh tế, chính trị của đất nước; Kiểm tra, giám sát hoạtđộng của kiểm toán nội bộ: hoạt động có đúng quy trình, đúng mục tiêu đã đặt ra
1.2.2.6 Môi trường bên ngoài
Hoạt động của NH chịu rất nhiều tác động từ môi trường bên ngoài
Sự giám sát của NHNN: Giám sát việc thực hiện những quy định bắt buộc
trong hoạt động NH trong từng thời kỳ như: quy định về mức dự trữ bắt buộc, tỷ giáhối đoái, quy định về mua bán ngoại tệ, quy định mức lãi suất cơ bản, giới hạn tăngtrưởng tín dụng trần,
Hoạt động thanh tra NH: định kỳ đối với hoạt động thường niên của NH, đột
xuất với những kế hoạch mới đưa vào thực hiện hoặc mới có sự thay đổi
Sự quan tâm của các cổ đông: cổ đông là những người có quyền lợi trực tiếp
gắn với hoạt động kinh doanh của NH, mục tiêu lợi nhuận luôn gắn với hoạt động antoàn và hiệu quả Hoạt động kinh doanh NH luôn tiềm ẩn rủi ro, bộ máy kiểm soátnội bộ hoạt động hiệu quả là một tiêu chí quan trọng thu hút nhà đầu tư, cổ đông
Khách hàng: khách hàng vừa mang lại lợi nhuận cho NH, vừa mang lại những
nguy cơ cho NH Quan tâm đến nhu cầu của khách hàng, đáp ứng những yêu cầu vềdịch vụ, chất lượng sản phẩm là hoạt động thiết yếu nâng cao lợi nhuận Bên cạnh đó,tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ, nâng cao cảnh giác, tăng cường hoạt động kiểmsoát nội bộ là điều thiết yếu giảm thiểu tối đa rủi ro, bảo vệ lợi nhuận đã có được
Pháp luật: Luật các TCTD, Luật các doanh nghiệp Nhà nước, Luật các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, Luật lao động, Luật dân sự, những quy định, thỏa ước quốc tế, Các NH đều phải tham chiếu, thực hiện đúng
1.3 Kinh nghiệm thế giới về môi trường kiểm soát trong kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại
Luận văn thực hiện nghiên cứu những đặc điểm nổi bật, khác biệt trong môitrường kiểm soát nội bộ tại tập đoàn HSBC (The Hong Kong and Shanghai BankingCorporation – NH Hồng Kông và Thượng Hải)
Trang 35Finance Asia, tập đoàn xuất bản tài chính hàng đầu châu Á trong lĩnh vực tàichính NH vừa bình chọn HSBC là NH nước ngoài tốt nhất tại Việt Nam trong công
bố về Giải thưởng Thành tựu Quốc gia năm 2009
Finance Asia bình chọn theo tiêu chí về tiềm lực tài chính, kết quả hoạt độngkinh doanh, mạng lưới, các hoạt động mua lại nhằm tăng cường mạng lưới, sốlượng nhân viên và khách hàng, các giao dịch lớn thực hiện trong năm và nhữngđánh giá từ phía khách hàng
HSBC là NH 100% vốn nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam có đầy đủ các chinhánh và phòng giao dịch hoạt động trên thị trường này
NH HSBC có mặt tại Việt Nam từ 138 năm nay kể từ khi NH mở văn phòngđầu tiên tại Sài Gòn năm 1870 NH TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) đượcchính thức đưa vào hoạt động từ 01/01/2009, trụ sở chính tại TP HCM, vốn đăng ký
3000 tỷ đồng thuộc sở hữu của NH Hồng Kông và Thượng Hải Hiện tại mạng lướihoạt động của NH bao gồm 01 chi nhánh và 03 phòng giao dịch tại TP HCM, 01 chinhánh và 03 phòng giao dịch tại Hà Nội, 01 chi nhánh tại Bình Dương, 01 vănphòng đại diện tại Cần Thơ HSBC hiện là NH lớn nhất tại Việt Nam xét về vốn đầu
tư, mạng lưới hoạt động, sản phẩm, số lượng nhân viên và khách hàng
NH Hồng Kông và Thượng Hải là sáng lập viên của tập đoàn HSBC Vớikhoảng 9500 văn phòng và chi nhánh tại 86 quốc gia và vùng lãnh thổ, tài sản trị giá2.527 tỷ đôla Mỹ tính tới thời điểm 31/12/2008, tập đoàn HSBC là một trong những
tổ chức dịch vụ tài chính và NH lớn nhất thế giới
NH Hồng Kông và Thượng Hải hiện đang nắm giữ 20% vốn cổ phần của NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), một trong những NH TMCP lớn ởViệt Nam và 10% vốn cổ phần của tập đoàn tài chính bảo hiểm Bảo Việt, tập đoàntài chính bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam
Các dịch vụ tài chính HSBC cung cấp tại Việt Nam: Dịch vụ tài chính doanhnghiệp; Dịch vụ NH cho các tập đoàn đa quốc gia và định chế tài chính; Dịch vụ tiền tệ
và thị trường vốn; Dịch vụ thanh toán và quản lý tiền tệ; Dịch vụ thanh toán quốc tế;Dịch vụ chứng khoán; Dịch vụ tài chính cá nhân
Trang 36Phát triển bền vững là một trong những chiến lược kinh doanh chủ chốt của NHTNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) từ cấp lãnh đạo cao nhất đến sự tham giacủa tất cả nhân viên trong NH Sự phát triển bền vững với NH HSBC bao hàm tínhtrách nhiệm, sự nhạy cảm trong phương thức quản lý kinh doanh theo chiến lược lâudài mà trong đó lợi ích về người, xã hội và môi trường được đặt lên hàng đầu.
Những đặc điểm khác biệt trong môi trường kiểm soát nội bộ so với hệ thốngNHTM tại Việt Nam:
1.3.1 Đặc thù quản lý
HSBC xác định giá trị trong kinh doanh mà HSBC luôn hướng tới chính là sựchính trực, liêm chính; Cam kết làm ăn trung thực, đúng pháp luật, cạnh tranh lànhmạnh; Quản lý mọi cấp độ; Cam kết về chất lượng và năng lực; Tối thiểu hoá nạnquan liêu, hạn chế công việc hành chính cồng kềnh, phức tạp; Quyết định và thựchiện nhanh chóng, đi đôi với nhau; Đặt lợi ích tập thể trước lợi ích cá nhân; Tuyểndụng khách quan, minh bạch; Chính sách tuyển dụng, lựa chọn, thăng tiến được xâydựng và thực hiện công bằng, nghiêm túc; Tuân thủ pháp luật địa phương
Quan điểm của nhà quản lý là không có luật lệ nào phát huy hiệu quả nếu vănhoá tổ chức không khuyến khích con người làm những điều đúng Đó là tráchnhiệm của uỷ ban giám sát, sổ tay quản lý văn hoá của tổ chức Đây là nguyên tắc
cơ bản Sự phát triển bền vững phụ thuộc phần lớn vào khách hàng, nhân viên vàcộng đồng
1.3.2 Chính sách nhân sự
HSBC quan niệm ràng buộc nhân viên là cách đo lường sự gắn kết về lí trí vàtình cảm của các nhân viên với HSBC Nó là yếu tố then chốt trong sự thành côngdài hạn của tập đoàn Đó là lý do tại sao HSBC giới thiệu Cuộc khảo sát toàn cầunăm 2007 để đo lường sự phản hồi của nhân viên Tỷ lệ tham gia năm 2008 là 93%
so với 88% năm 2007 Cuộc khảo sát 2008 bao gồm 13 mục Năm thứ 2, mục đượcđánh giá cao nhất là sức chống đỡ của doanh nghiệp, vượt 8% so với chỉ tiêu tốtnhất 7 trong 10 người cảm thấy họ được khuyến khích một cách chủ động trongviệc tham gia vào cộng đồng và các hoạt động
Trang 37Sự ràng buộc được đánh giá dựa trên 4 yếu tố: sự tận tụy, sự tự hào, sự ủng hộ
và sự hài lòng Điểm số ràng buộc nhân viên của tập đoàn đã tăng từ 60% năm 2007lên 67% năm 2008, vượt qua mục tiêu 62%
HSBC có sự cam kết chắc chắn sẽ sáng tạo môi trường đa dạng phản ánh nềntảng khách hàng, nguồn nhân lực quốc tế và cộng đồng Sự đa dạng là trọng tâmcho thương hiệu và văn hóa của HSBC
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân viên theo khu vực năm 2007 và 2008 của HSBC
(Nguồn: HSBC Holdings plc Sustainability Report 2008)
Trong năm 2008, HSBC đã dành ra trung bình 36h để học tập và phát triển chomỗi nhân viên Cách thức học e-learning đã tăng từ 24% năm 2007 đến 30% năm
2008, mục tiêu là 50% đến cuối năm 2009 E-learning sẽ giúp cho việc học tập, chia
sẻ kiến thức và ý tưởng Điều này phù hợp với một tổ chức có mạng lưới toàn cầunhư HSBC
Trong năm 2007, HSBC đã bắt đầu định hình lại chiến lược quản lý tài năng
để đảm bảo sự liên kết mạnh mẽ hơn, phù hợp nhu cầu kinh doanh và chiến lượccủa HSBC
Một số lượng các quy trình và chương trình trên toàn cầu được thay thế đểnắm bắt và phát triển các tài năng kể từ khi mới tốt nghiệp cho tới khi lên lãnh đạocấp cao Ví dụ, các thành viên trong nhóm tài năng toàn cầu của HSBC được thamgia các sự kiện có lãnh đạo nhóm và các thành viên trong HĐQT Điều này giúpcho các tài năng hiểu được con đường kinh doanh của HSBC, chia sẻ kinh nghiệm
và thực hành trong nhóm
Chiến lược của HSBC là thu hút và khuyến khích, thúc đẩy những người giỏinhất HSBC tìm kiếm để tuyển dụng những nhân viên có sự cam kết làm việc lâudài cho tập đoàn, những người không chỉ bị thu hút bởi gói lương, thưởng mà còn
Trang 38bởi tính cạnh tranh cao, giá trị danh tiếng, các cơ hội phát triển nghề nghiệp Lươngđược xem xét hàng năm theo kết quả làm việc kinh doanh, thực tế trên thị trường vàcác mối quan hệ bên trong Kết quả làm việc của cá nhân được đánh giá dựa trên cả
2 chỉ số về tài chính và phi tài chính HSBC cũng bị ràng buộc theo nguyên tắc mứclương trên thị trường, xem xét tới quyền lợi của các cổ đông
HSBC thông báo tới các nhân viên về rủi ro dư thừa nhân viên, bao gồm cảviệc đào tạo đặc biệt cho các nhà quản lý để giúp họ quản lý sự thay đổi HSBCluôn thông báo và trợ cấp cho các nhân viên bị ảnh hưởng cũng như hỗ trợ họ tìmkiếm công việc khác
Nhận thấy rằng các nhân viên cũng phải đối mặt với các vấn đề tài chính tương
tự mà các khách hàng gặp phải, HSBC đã phát hành tài liệu đào tạo về tài chính chocác nhân viên của HSBC ở Mỹ Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2008, trên 10.000người đã được học kết hợp các chương trình trực tuyến và các lớp học
Bảng 1.2 Các chương trình đào tạo năm 2008 của HSBC
Chương trình đào tạo năm 2008 Số lượng thành viên
Chương trình giới thiệu Quản lý cấp cao 72
Chương trình phát triển nhóm nghiên cứu sinh 494
Hội thảo Quản lý rủi ro với tăng trưởng 169
(Nguồn: HSBC Holdings plc Sustainability Report 2008)
1.3.3 Môi trường bên ngoài
HSBC hoạt động trên rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Để tồn tại và pháttriển, HSBC buộc phải tôn trọng luật pháp nơi HSBC hoạt động và tôn trọng nhữngđiều ước, những cam kết HSBC đã ký kết và thỏa thuận
Ngoài những yếu tố thuộc môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, HSBCcòn quan tâm và thành lập một hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp khi có sự biếnđổi về môi trường khí hậu
Trang 39Quản lý những rủi ro từ sự biến đổi khí hậu là một trong những mục tiêu quantrọng trong thế kỷ 21 Thực tế của việc biến đổi khí hậu cần được nhìn nhận và cầnđược đầu tư để thích nghi dần dần trong quá trình phát triển.
HSBC thiết lập một cơ cấu tốt đối với quản lý những rủi ro từ các toà nhà, conngười và các quá trình do mối nguy từ thiên nhiên như động đất, bão lũ và núi lửa.Một tập thể lao động được tổ chức để chống đỡ với sự ảnh hưởng của biến đổi khíhậu đối với những rủi ro mô hình và kinh doanh Tập thể lao động được thiết lập từnhững đội ngũ chủ chốt, bao gồm sự đoàn kết, công tác nghiên cứu, kế hoạch, bảohiểm, kinh doanh liên tục và bền vững
Biến đổi khí hậu hiện tại gây ra những rủi ro khác cho kinh doanh và chokhách hàng Nó mang lại những cơ hội quan trọng về một khu vực mới của pháttriển, tăng trưởng, đổi mới HSBC nhận định đây là những cơ hội để mở rộng côngtác NH, bảo hiểm, đầu tư và dịch vụ thương mại
Hiện tại, hệ thống NHTM tại Việt Nam có quy mô tương đối khiêm tốn so vớicác tập đoàn tài chính NH lớn trên thế giới Những đặc điểm khác biệt trong việcthiết lập môi trường kiểm soát tại HSBC hiện tại áp dụng đối với NH Việt Nam làchưa phù hợp Tuy nhiên, trong thời gian tới, với định hướng phát triển thành tậpđoàn tài chính NH của một số NHTM lớn tại Việt Nam, cần thiết phải chú ý đếnnhững vấn đề đã và đang được quan tâm trong hệ thống HSBC hiện nay
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT TRONG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI HỘI SỞ CHÍNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Hội sở chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam với
hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.1 Tổng quan về Hội sở chính
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là NHTM nhà nước được thành lậptheo Quyết định Số 117/TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ và đượcThống đốc NHNN ký Quyết định Số 287-QĐ/NH5 ngày 21/9/1996 thành lập lạitheo mô hình Tổng Công ty nhà nước quy định tại Quyết định Số 90/TTg ngày07/3/1994 theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam được thực hiện hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liênquan phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của NH
và góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đấtnước, nhất là trong lĩnh vực đầu tư phát triển
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là Tổng công ty nhà nước hoạt độngkinh doanh, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; được tổ chức vàhoạt động theo Điều lệ do Thống đốc NHNN phê chuẩn Theo Điều lệ về tổ chức vàhoạt động của BIDV ban hành kèm theo Quyết định Số 54/QĐ – HĐQT ngày12/08/2002 của HĐQT, được chuẩn y tại Quyết định Số 936/2002/QĐ-NHNN ngày03/09/2002 của Thống đốc NHNN, các lĩnh vực hoạt động của BIDV gồm:
- Huy động vốn: Nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳphiếu, giấy tờ có giá khác; Vay vốn của các TCTD, NHNN; Các hình thức huyđộng vốn hợp pháp khác
- Hoạt động tín dụng: Cho vay; Bảo lãnh; Chiết khấu thương phiếu, chứng chỉtiền gửi ngắn hạn; Cho thuê tài chính;
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Mở tài khoản; Các dịch vụ thanh toán vàngân quỹ; Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên
NH trong nước, tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế theo quy định của NHNN