BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ĐÀO THỊ NGỌC MAI THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH SỬ DỤNG BÌNH XỊT/HÍT ĐỊNH LIỀU CỦA NGƯỜI BỆNH COPD ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN THANH N
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
ĐÀO THỊ NGỌC MAI
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH SỬ DỤNG BÌNH XỊT/HÍT ĐỊNH LIỀU CỦA NGƯỜI BỆNH COPD ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2022
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG NỘI NGƯỜI LỚN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS ĐẶNG THỊ HÂN
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện báo cáo chuyên đề, tôi đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy/cô giáo tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và các đồng nghiệp tại Bệnh viện Thanh Nhàn, gia đình và bạn bè Đến nay, báo cáo chuyên đề đã được hoàn thành
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: ThS Đặng Thị Hân - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành báo cáo chuyên đề
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các phòng ban và các thầy/cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại Trường
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Ban Giám đốc, các đồng nghiệp tại khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Thanh Nhàn đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học này
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và tập thể lớp Chuyên khoa cấp I Khóa 9; một tập thể đoàn kết với những người bạn đã dành cho tôi tình cảm và nguồn động viên khích lệ
Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2022
Học viên
Đào Thị Ngọc Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đào Thị Ngọc Mai - Học viên lớp Điều dưỡng chuyên khoa I khóa
9, chuyên ngành Nội người lớn, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin cam đoan đây là chuyên đề nghiên cứu của cá nhân tôi và được sự hướng dẫn của ThS Đặng Thị Hân Các nội dung, kết quả trong chuyên đề này là trung thực
và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu được trích dẫn nhằm phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, nhận xét được chính tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung chuyên đề của mình Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định không liên quan gì đến việc vi phạm bản quyền, tác quyền mà tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2022
Học viên
Đào Thị Ngọc Mai
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Các dạng thuốc phòng cơn trong COPD Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Một số nghiên cứu trên Thế giới Error! Bookmark not defined.1.2.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam Error! Bookmark not defined.Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT Error! Bookmark not defined.2.1 Giới thiệu về bệnh viện đa khoa Thanh Nhàn Error! Bookmark not defined.2.2 Thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều phòng cơn của người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh NhànError! Bookmark not defined.
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 182.2.2 Kết quả nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined.3.2 Thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều của ĐTNC 303.2.1 Thực trạng kiến thức sử dụng bình xịt/hít định liều của ĐTNC 303.2.2 Thực trạng thực hành sử dụng bình xịt hít định liều của ĐTNC 313.3 Những thuận lợi và khó khăn của vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
Trang 63.3.2 Khó khăn, tồn tại Error! Bookmark not defined.3.4 Các giải pháp để giải quyết/ khắc phục Error! Bookmark not defined.3.4.1 Đối với Bệnh viện: Error! Bookmark not defined.3.4.2 Đối với nhân viên y tế Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: BỘ CÔNG CỤ
Trang 7ĐTĐ: Đái tháo đường
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
GOLD: Global Initiative for Chronic Obstructive Pulmonary Disease
Chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
HSTC: Hồi sức tích cực
ICS: Corticosteroid dạng phun hít
KTV: Kỹ thuật viên
LABA: Cường beta 2 adrenergic tác dụng dài
LAMA: Kháng cholinergic tác dụng dài
MDI: Metered Dose Inhaler: Bình xịt định liều
NHLBI: National Heart, Lung and Blood institute
Viện huyết học, tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ UBND: Ủy ban nhân dân
USD: United States dollar: Đô la Mỹ
SABA: Cường beta 2 adrenergic tác dụng ngắn
SAMA: Kháng cholinergic tác dụng ngắn
THA: Tăng huyết áp
WHO: World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố ĐTNC theo tuổi và giới Error! Bookmark not defined.Bảng 2.2 Đặc điểm về số năm mắc bệnh và bệnh đồng mắc Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.3 Thực trạng thực hành sử dụng bình xịt định liều MDI Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.4 Thực trạng thực hành sử dụng bình hít định liều Accuhaler Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.5 Thực trạng thực hành sử dụng bình hít định liều Turbuhaler Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.6 Tỷ lệ người bệnh mắc sai sót tính theo tổng số bước chung Error! Bookmark not defined.
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hướng dẫn sử dụng bình hít định liều (MDIs) 11Hình 1.2 Buồng đệm có van và buồng đệm với mặt nạ 12Hình 1.3 Hướng dẫn sử dụng buồng đệm với bình hít định liều 12
Biểu đồ 2.2 Yếu tố truyền thông của đối tượng nghiên cứu 22Biểu đồ 2.3 Tiền sử hút thuốc Error! Bookmark not defined.Biểu đồ 2.4 Dạng thuốc phòng cơn người bệnh sử dụng Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.5 Thực trạng kiến thức về sử dụng bình xịt/hít định liều Error! Bookmark not defined.
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease - COPD) là bệnh lý thường gặp, có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi các triệu chứng dai dẳng và giới hạn đường thở hoặc phế nang thường do tiếp xúc với hạt
và khí độc hại kèm sự phát triển bất thường của phổi, bệnh đồng mắc làm tăng tàn phế và tử vong [27]
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), ước tính trên toàn cầu có 251 triệu ca mắc COPD trong năm 2016, chiếm khoảng 12% dân số từ 40 tuổi trở lên Đến năm 2019, COPD là nguyên nhân gây ra cái chết cho 3,23 triệu người và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới, chiếm khoảng 6% tử vong toàn cầu Theo dự đoán tỷ
lệ mắc và tỷ lệ tử vong sẽ còn tiếp tục gia tăng trong các thập kỷ tới do tăng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ COPD và sự già đi của dân số, năm 2060 thế giới có khoảng 5,4 triệu người chết liên quan đến COPD [27], [36]
Tại Việt Nam, tỷ lệ người lớn tuổi mắc COPD lên đến 12,6%, trong đó tỷ lệ mắc ở nam là 16,8% và nữ là 10% Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng gây nên gánh nặng to lớn cho kinh tế Việt Nam khi mà người bệnh bệnh COPD chiếm 25% số giường bệnh tại khoa hô hấp và trong các phòng chăm sóc tích cực lúc nào cũng có người bệnh COPD thở máy [5]
COPD đang trở thành mối lo ngại về sức khoẻ của nhiều quốc gia trên thế giới Để có thể ngăn chặn sự diễn tiến của bệnh, người bệnh COPD cần phải có sự nhận thức đúng đắn về tuân thủ điều trị, đặc biệt là việc sử dụng thuốc Trong phác
đồ điều trị COPD, các thuốc dạng xịt/hít được ưu tiên sử dụng so với dạng thuốc khác do hiệu quả điều trị cao, ít tác dụng phụ toàn thân [1], [19] Mỗi thuốc dạng xịt/hít đều có quy trình sử dụng riêng qua nhiều bước, do đó người bệnh cần sử dụng đúng cách
Khi sử dụng các thuốc đường hít trong điều trị COPD phải chú ý đến hiệu quả phân phối thuốc và cần phải hướng dẫn kỹ thuật hít cho người bệnh Lựa chọn loại dụng cụ hít nào sẽ phụ thuộc vào hiệu quả, chi phí, kê đơn chỉ định của bác sỹ, kỹ năng và khả năng của người bệnh Người mắc COPD có thể gặp khó khăn trong phối hợp động tác khi sử dụng dụng cụ xịt/hít định liều Điều quan trọng là người bệnh
Trang 11đảm bảo kỹ thuật hít đúng và cách người bệnh sử dụng dụng cụ hít phải được kiểm tra lại mỗi lần đến khám [4], [26]
Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Thu Huyền (2020) cho thấy, 45% người bệnh COPD có kiến thức về sử dụng bình hít ở mức độ đạt, 55% người bệnh ở mức
độ không đạt Thực hành về sử dụng bình hít định liều có 15% người bệnh thực hiện mức độ đạt, 85% người bệnh thực hiện mức độ không đạt [9]
Hà Nội là một thành phố lớn, phát triển và là nơi có rất nhiều phương tiện giao thông, các nhà máy, xí nghiệp, mật độ xây dựng cao… Đây cũng là nơi có rất nhiều yếu tố làm gia tăng các bệnh đường hô hấp nói chung và COPD nói riêng Bệnh viện Thanh Nhàn đảm nhận thu dung toàn bộ mặt bệnh nội khoa trên toàn thành phố trong
đó có bệnh lý hô hấp Hiện tại, Bệnh viện đang quản lý và điều trị ngoại trú cho hơn
800 người bệnh hen phế quản và hơn 1000 người bệnh COPD Qua đánh giá nhanh
về người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại BV cho thấy, kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều phòng cơn của người bệnh còn hạn chế Xuất phát từ vấn
đề trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều của người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022” với 2 mục tiêu cụ thể như sau:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều của người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều của người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn
Trang 12Năm 1997, Viện huyết học, tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (National Heart, Lung and Blood institute -NHLBI) phối hợp với WHO đề ra chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính viết tắt là GOLD (Global Initiative for Chronic Obstructive Pulmonary Disease) [31] Năm 2001, GOLD và đã công bố bản báo cáo đồng thuận đầu tiên về chẩn đoán, quản lý và phòng ngừa COPD và đưa
ra định nghĩa COPD là một tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự giảm lưu lượng 4 thở không hồi phục Sự giảm lưu lượng thở này thường tiến triển và đi kèm với đáp ứng viêm bất thường của phổi với các chất và khí độc hại [32]
Từ đó, hàng năm GOLD thường xuyên cập nhật hướng dẫn, chẩn đoán và điều trị COPD
1.1.1.2 Dịch tễ học COPD
Dịch tễ học COPD trên thế giới:
Tỷ lệ lưu hành chính xác của COPD trên toàn thế giới phần lớn vẫn chưa được biết, nhưng các ước tính đã thay đổi từ 7-19% Nghiên cứu Gánh nặng của Bệnh phổi tắc nghẽn cho thấy tỷ lệ hiện mắc trên toàn cầu là 10,1% Nam giới có tỷ lệ hiện mắc chung là 11,8% và nữ giới là 8,5% Các con số khác nhau ở các khu vực khác nhau trên thế giới Cape Town, Nam Phi, có tỷ lệ hiện mắc cao nhất, ảnh hưởng đến 22,2% nam giới và 16,7% nữ giới [38]
Trang 13COPD là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử vong Các nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu đã ước tính rằng COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên toàn Thế giới và ở Hoa Kỳ Chỉ tính riêng năm 2010 COPD đã gây ra hơn triệu cái chết trên toàn Thế giới và là nguyên nhân thứ 2 gây tàn tật, các đợt cấp hiện chiếm 50%-70% chi phí điều trị liên quan đến COPD [23]
Theo báo cáo gần đây của WHO cho thấy, trong năm 2016 trên toàn thế giới có 56,9 triệu người tử vong, trong đó 54% tử vong do 10 nguyên nhân phổ biến và COPD
là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ tử vong đứng hàng thứ 2 với 7,1 triệu người chết và đây cũng là yếu tố nguy cơ chính của COPD Như vậy, theo dự báo tỷ lệ tử vong do COPD ngày sẽ càng tăng, trong khi các bệnh lý nhiễm trùng có khuynh hướng giảm [36]
Dịch tễ học COPD tại Việt Nam
Tại Việt Nam, Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) tại thành phố Hà Nội, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên đối tượng là 2583 người ≥40 tuổi thuộc 14 phường trong 7 quận Kết quả mắc COPD chung cả 2 giới là 4,7%, trong đó nam giới là 7,1%
40 tuổi là 3,6%, trong đó nam chiếm 6,5% và nữ giới 1,2% [11]
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ của Lê Nhật Huy và cộng sự (2020) nghiên cứu trên 4000 người bệnh, nam giới chiếm tỷ lệ 41,77% và nữ giới chiếm 58,23%, Tuổi trung bình chung của đối tượng nghiên cứu là 60,8 ± 11,26 [7]
1.1.1.3 Các yếu tố nguy cơ [3], [6]
Trang 14Các yếu tố khác:
Yếu tố môi trường: ô nhiễm môi trường, tiếp xúc với khói bụi và hóa chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà (khói bếp
do đun củi, rơm, than )
Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu
mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi Nhiễm virus, đặc biệt là virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển
Yếu tố cá thể: Tăng phản ứng của phế quản là yếu tố nguy cơ phát triển COPD Tăng tính phản ứng phế quản gặp với tỷ lệ 8-14% ở người bình thường
Thiếu alpha1-antitrypsin: là yếu tố di truyền được xác định chắc chắn gây ra COPD
Tuổi: tỷ lệ mắc COPD cao hơn ở người già
1.1.1.5 Triệu chứng [1], [3], [6]
Triệu chứng cơ năng:
Các triệu chứng cơ năng chủ yếu của người bệnh COPD đó là: ho, khạc đờm và khó thở khi gắng sức
- Ho có đờm thường gặp ở 50% số đối tượng hút thuốc và có thể xuất hiện ngay trong 10 năm đầu tiên hút thuốc
- Ho khạc đờm mạn tính thường vào buổi sáng hoặc sau khi hút điếu thuốc đầu tiên Ho thường nặng lên trong những tháng mùa đông và đặc biệt là sau nhiễm khuẩn
hô hấp Lúc đầu là ho ngắt quãng sau đó là ho hàng ngày và thường ho cả ngày
Trang 15- Ở giai đoạn ổn định ho kèm theo khạc đờm nhầy, số lượng đờm thay đổi tuỳ theo từng người bệnh đờm trở thành đờm mủ trong đợt cấp
- Sự xuất hiện khó thở khi gắng sức làm cho tiên lượng bệnh tồi hơn và chứng
tỏ sự suy giảm chức năng hô hấp nặng lên Khó thở tiến triển từ từ và người bệnh cố gắng làm giảm cảm giác khó thở bằng cách tự giảm gắng sức biến đổi kiểu thông khí
để thích nghi do vậy việc phát hiện bệnh bị chậm trễ Mức độ khó thở khi gắng sức
có thể đánh giá dựa trên khả năng hoạt động của người bệnh trong cuộc sống hàng ngày (leo cầu thang, khoảng cách đi bộ trên đường phẳng) và lượng giá theo thang khó thở
- Sự giảm sút cân, ăn kém, yếu và suy nhược cơ thể thường gặp trong các giaiđoạn tiến triển của bệnh
- Kiểu thở ra kéo dài (trên 4 giây) tương quan với mức độ tắc nghẽn phế quản
- Xương ức lồi ra tăng đường kính trước sau dẫn đến biến dạng lồng ngực tạo cho lồng ngực có hình thùng
- Dấu hiệu Hoover: Sự giảm bất thường đường kính lồng ngực khi hít vào (ở người bình thường đường kính lồng ngực tăng khi hít vào)
- Sự co các cơ hô hấp phụ lúc nghỉ ngơi (cơ ức đòn chũm) là dấu hiệu chứng tỏ bệnh đã tiến triển nặng hoặc là trong đợt cấp
- Khám phổi: Rì rào phế nang giảm ở những người bệnh có giãn phế nang nặng Đôi khi có thể có ran ngáy thay đổi với ho Thở rít là triệu chứng gặp thường xuyên
Có thể có ran nổ
- Có thể có dấu hiệu của tăng áp lực động mạch phổi và tâm phế mãn: Phù, thổi tâm thu nghe thấy ở mũi ức, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính, tĩnh mạch cổ nổi 1.1.1.6 Điều trị [1], [3], [6]
Biện pháp điều trị chung:
Trang 16Ngừng tiếp xúc với yếu tố nguy cơ:
Ngừng tiếp xúc với khói thuốc lá, thuốc lào, bụi, khói bếp rơm, củi, than, khí độc
Cai nghiện thuốc lá, thuốc lào:
Cai thuốc là biện pháp rất quan trọng ngăn chặn COPD tiến triển nặng lên Trong cai thuốc, việc tư vấn cho người bệnh đóng vai trò then chốt, các thuốc hỗ trợ cai giúp người bệnh cai thuốc dễ dàng hơn
Việc dùng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá giúp giảm nhẹ hội chứng cai thuốc và làm tăng tỷ lệ cai thuốc thành công Các thuốc có thể chỉ định: nicotine thay thế, bupropion, varenicline
Tiêm vắc xin phòng nhiễm trùng đường hô hấp:
- Nhiễm trùng đường hô hấp (cúm và viêm phổi ) là một trong các yếu
tố nguy cơ gây đợt cấp COPD Việc tiêm phòng vắc xin có thể làm giảm các đợt cấp nặng và giảm tỷ lệ tử vong
- Tiêm phòng vắc xin cúm vào đầu mùa thu và tiêm nhắc lại hàng năm cho các đối tượng mắc COPD
- Tiêm phòng vắc xin phế cầu mỗi 5 năm 1 lần và được khuyến cáo ở bệnh nhân mắc COPD giai đoạn ổn định
Điều trị bằng thuốc:
Các thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:
- Thuốc giãn phế quản được coi là nền tảng trong điều trị COPD Ưu tiên các loại thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài, dùng đường phun hít hoặc khí dung
- Liều lượng và đường dùng của các thuốc này tùy thuộc vào mức độ và giai đoạn bệnh (tham khảo phụ lục thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính)
Trang 17Bảng 1.1 Các nhóm thuốc chính điều trị COPD
Cường beta 2 adrenergic tác
Kháng cholinergic tác dụng dài LAMA Tiotropium
Cường beta 2 adrenergic tác
dụng ngắn + kháng cholinergic
tác dụng ngắn
SABA+SAMA
Ipratropium/salbutamol Ipratropium/fenoterol
Cường beta 2 adrenergic tác
dụng dài + kháng cholinergic
tác dụng dài
LABA/LAMA
Indacaterol/Glycopyronium Olodaterol/Tiotropium Vilanterol/Umeclidinium Corticosteroid dạng phun hít +
cường beta 2 adrenergic tác
dụng dài
ICS+LABA
Budesonid/Formoterol Fluticason/Vilanterol Fluticason/Salmeterol Kháng sinh, kháng viêm Macrolide
Kháng PDE4
Erythromycin Rofumilast Nhóm xanthine tác dụng
- Giữ gìn sức khỏe, giữ ấm vào mùa lạnh Thường xuyên rèn luyện thể dục (30 phút/ngày) để tăng cường sức khỏe Giữ gìn vệ sinh răng miệng hàng ngày, tránh lạnh đột ngột để giảm thiểu mắc các bệnh hô hấp
Trang 18- Tiêm vacxin phòng cúm, phòng phế cầu để ngăn ngừa đợt cấp
- Tuân thủ điều trị, sử dụng các loại thuốc phòng cơn theo đơn của bác sĩ (các loại bình xịt/hít định liều) [3], [6], [21], [23]
1.1.2 Các dạng thuốc phòng cơn trong COPD
❖ Bình xịt định liều (MDI-Metered Dose Innhaler)
Bình hít định liều (MDIs) là thiết bị phun hít cầm tay dùng lực đẩy để phân bố thuốc MDI có hộp kim loại có áp lực chứa thuốc dạng bột hoặc dung dịch, chất surfactant, propellant, van định liều Hộp kim loại này được bọc bên ngoài bằng ống nhựa, có ống ngậm [1] Nó được sử dụng rộng rãi vì là dụng cụ rẻ tiền và có thể cung cấp nhiều loại thuốc hen và COPD khác nhau Một nghiên cứu tại Anh cho thấy với những người trên 70 tuổi thì có đến 15.8% có sử dụng dụng cụ hít tại nhà trong đó có đến 42.8% đang sử dụng MDI [28] Mặc dù được sử dụng rộng rãi như vậy nhưng có rất nhiều bệnh nhân không thể xịt đúng kỹ thuật dụng cụ hít này thậm chí nhiều người
đã được hướng dẫn cụ thể Những khó khăn khi sử dụng MDI bao gồm sự phối hợp đồng bộ khi ấn và hít, kỹ thuật hít chậm và sâu Al-Showair et al cho biết có đến 60% bệnh nhân COPD và 92% bệnh nhân hen hít quá nhanh với dụng cụ MDI [21]
Để khắc phục tình trạng hít không đúng kỹ thuật với MDI, một dụng hỗ trợ khác được dùng kèm là buồng đệm Dụng cụ này khi phối hợp với MDI sẽ giúp bệnh nhân
có thể hít thuốc vào phổi nhiều hơn, ít lắng đọng ở vùng hầu họng hơn mà không cần phải phối hợp chặt chẽ động tác ấn và hít Sở dĩ buồng đệm làm được việc này vì nó giảm được lực quán tính của hạt thuốc trước khi đi vào vùng hầu họng nên giảm được thuốc lắng đọng ở nơi này và tăng tỷ lệ hạt thuốc có kích thước nhỏ (2-5 µm) nên thuốc đi vào sâu trong đường hô hấp tốt hơn Sử dụng buồng đệm đã được chứng minh cải thiện hiệu quả hít thuốc qua dụng cụ MDI đặc biệt là đối với những bệnh nhân sử dụng MDI một mình khó khan [18 ]
Một vấn đề cần lưu khi sử dụng MDI là hiệu ứng gây lạnh - ‘cold-Freon’ gây ra
do thuốc tác động trực tiếp vào thành sau họng Khi gặp hiệu ứng này, bệnh nhân có phản xạ ngưng thở làm cho dòng khí hít vào không liên tục Điều này ảnh hưởng đến khả năng lắng tụ thuốc ở đường hô hấp Trước đây các dụng cụ MDI sử dụng chất đẩy CFC (chlorofluorocarbon) có tia thuốc xịt ra mạnh và lạnh nên bệnh nhân rất hay gặp hiệu ứng này Ngày nay, các dụng cụ hít được thiết kế với chất đẩy HFA
Trang 19(hydrofluoralkane) có tia xịt yếu hơn, hạt thuốc mịn hơn và ấm hơn nên cũng giảm đáng kể hiệu ứng này [18]
❖ Bình hít bột khô (DPI) [1], [18]
Bình hít bột khô (DPI – Dry Power Inhaler) là thiết bị được kích hoạt bởi nhịp thở giúp phân bố thuốc ở dạng các phân tử chứa trong nang Do không chứa chất đẩy nên kiểu hít này yêu cầu dòng thở thích hợp Các DPI có khả năng phun thuốc khác nhau tùy thuộc sức kháng với lưu lượng thở Có nhiều dạng bình hít bột khô trên thị trường và phổ biến nhất là các loại turbohaler, accuhaler và handihaler Loại bình hít turbohaler là dạng bình hít có chứa bột khô với tất cả các liều thuốc được chứa trong cùng một bồn chứa, loại accuhaler thì các liều thuốc bột được đóng gói riêng lẻ (từng liều một) và cũng được sắp xếp bên trong dụng cụ hít còn handihaler là dụng cụ không chứa thuốc, mỗi khi bệnh nhân cần hít thuốc thì họ phải bỏ thuốc viên từ bên ngoài vào dụng cụ để hít
Ưu điểm của DPI so với MDI là hạt thuốc được tạo ra do lực hút của bệnh nhân,
do vậy dụng cụ này không cần chất đẩy thuốc nên không bị hiệu ứng ‘cold-Freon’ và cũng không cần sự phối hợp động tác ấn và hít của bệnh nhân Tuy nhiên, vì hạt thuốc được tách ra và thuốc được đưa ra khỏi dụng cụ dựa vào lực hút của bệnh nhân nên
có thể một số bệnh nhân không hút được thuốc hay thuốc không đúng kỹ thuật, làm giảm chất lượng tốt trước khi vào cơ thể bệnh nhân Với cùng một lưu lượng đỉnh, người hút nhanh mạnh ngay từ đầu (đạt lưu lượng đỉnh ngay từ đầu) sẽ tạo năng lượng xoáy tốt hơn và đưa thuốc vào đường hô hấp tốt hơn người hút mạnh từ từ và đạt lưu lượng đỉnh ở nửa cuối của thì hít vào
Một tổng quan các nghiên cứu gần đây cho thấy có khoảng 9-94% bệnh nhân không hút đúng kỹ thuật Sai sót thường gặp nhất là không thở ra trước khi hít vào, không nín thở sau khi hít vào, đặt dụng cụ sai vị trí và hút vào không đủ sức
❖ Cách sử dụng các dụng cụ phân phối thuốc [1]
Trang 20một bát nước, nếu hộp thuốc nổi và nằm ngang trên mặt nước nghĩa là trong bình hoàn toàn hết thuốc
− Buồng đệm có van: cho phép thuốc ở trong buồng đệm tới khi bệnh nhân hít thuốc vào qua van một chiều, ngăn bệnh nhân thở ra vào buồng đệm, cải thiện việc
Trang 21hít thuốc và thời gian khởi động Kỹ thuật: gần tương tự như trên, chỉ khác là thay vào việc ngậm trực tiếp vào đầu buồng đệm, bệnh nhi hít thuốc qua mặt nạ nối với buồng đệm
Hình 1.2 Buồng đệm có van và buồng đệm với mặt nạ
Hình 1.3 Hướng dẫn sử dụng buồng đệm với bình hít định liều
⮚ Bình hít bột khô Accuhaler
Ưu điểm của DPI là được kích hoạt bởi nhịp thở, không cần buồng đệm, không cần giữ nhịp thở sau khi hít, dễ mang theo, không chứa chất đẩy Nhược điểm là đòi
Trang 22hỏi lưu lượng thở thích hợp để phân bố thuốc, có thể lắng đọng thuốc ở hầu họng và
độ ẩm có thể làm thuốc vón cục dẫn đến giảm phân bố thuốc Chú ý khi sử dụng: giữ bình khô, không thả vào nước, lau ống ngậm và làm khô ngay sau hít, không nuốt viên nang dùng để hít
Trang 23Hình 1.5 Hướng dẫn sử dụng Turbuhaler
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số nghiên cứu trên Thế giới
Theo nghiên cứu của tác giả Leiva-Fernández F và cộng sự (2012) nghiên cứu can thiệp trên 495 người bệnh chẩn đoán COPD cho biết 75% người mắc COPD thực hiện sai kỹ thuật sử dụng thuốc dạng hít Sau can thiệp còn 17% thực hiện sai
Trang 24MDI kèm buồng đệm (78%) và ít nhất là máy phun khí dung (70%) Những lỗi thường gặp ở người bệnh dùng MDI bao gồm “không nín thở” (45,7%), “không thở ra hết sức” (40%) và “không lắc hộp thuốc” (37,1%) Lỗi thường gặp ở người bệnh dùng DPI là “không hít đủ nhanh” (52,3%) và “không hít đủ sâu” (36,9%) [34]
Tác giả Chaicharn Pothirat và cộng sự (2015) nghiên cứu trên 103 người bệnh COPD tại Thái Lan cho thấy có 74,8% người bệnh thực hiện ít nhất một bước không chính xác cho tất cả các thiết bị MDI là dụng cụ có tỷ lệ bệnh nhân mắc sai sót cao nhất (77,3%) với các bước thường mắc lỗi là “thở ra hết sức” và “lắc hộp thuốc” [24]
Theo nghiên cứu tác giả Adhikari Baral ở Nepal (2019): Phần lớn người bệnh dùng bình hít có kiến thức đúng (89,2%) Họ đã nhận thức được dụng cụ hít nên được giữ ở nơi mát mẻ, tránh ẩm ướt và 80,4% biết rằng họ nên hít một hơi thật sâu trong khi hít thuốc Tuy nhiên, chỉ có 11,7% trong số đó có kiến thức chính xác về việc nín thở trong 10 giây sau khi hít sâu thuốc Thực hành từng bước hít bột khô thông qua bình hít ở người bệnh COPD Người bệnh thực hiện chính xác nhất là giữ dụng cụ hít nằm ngang (99,5%), sau đó giữ dụng cụ hít thẳng đứng (99%) và mở dụng cụ hít và loại bỏ viên nang rỗng (97,5%) Ngược lại, bước được thực hiện ít chính xác nhất là hít vào và giữ nhịp thở trong 10 giây (4,9%) [22.]
1.2.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thanh (2013) cho thấy: Trong 133 người bệnh
đã dùng thuốc đó, có 104 người bệnh đã dùng máy khí dung (chiếm 67,5%), 103 người bệnh dùng bình xịt định liều (chiếm 66,9%), có 13 người bệnh sử dụng Accuhaler (chiếm 8,4%), 9 người bệnh sử dụng Tubuhaler (chiếm 5,8%) và 4 người bệnh sử dụng dụng cụ hít Spiriva (chiếm 2,6%) [14]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thọ (2018), nghiên cứu thực trạng và hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại xã Kiến Thiết và Kiền Bái, Thành phố Hải Phòng năm 2014 - 2016 Trước can thiệp, không người bệnh nào thực hành tốt về COPD và hầu hết người bệnh không biết các biện pháp thực hành Sau can thiệp thì hiệu quả đã tăng lên rõ rệt, tỷ lệ người bệnh thực hành tốt tăng lên 61,9% dùng bình xịt định liều đúng từ 10,1% lên 74,8%; accuhaler từ 0,7% lên 46,0%; turbuhaler từ 0% lên 48,9% Việc sử dụng đúng dụng
cụ accuhaler và turbuhaler chưa tốt, hơn 50% người bệnh thực hành sai ít nhất 1 lỗi,
Trang 25điều này có thể do 2 dụng cụ khó sử dụng hơn, hoặc đó là những dụng cụ ít phổ biến
ở cộng đồng [16]
Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Mai Lan (2019), trong 65 người bệnh nghiên cứu thì có tới 58 người bệnh (89,2%) được kê thuốc dạng bình xịt định liều MDI Kết quả đánh giá sử dụng thuốc dạng MDI cho thấy có 8,62% người bệnh không sai bước nào; có tới 27,59% người bệnh sai 1 bước; 17,24% người bệnh sai 2 bước và 10,34% người bệnh sai 3 bước Số người bệnh sai sót các bước quan trọng trong sử dụng MDI
cụ thể là sai 2 bước chiếm tỷ lệ cao nhất (25,86%); tiếp đến là sai một bước (24,14%),
số người bệnh được đánh giá là có kỹ thuật tối ưu chỉ chiếm 10,35%, trong đó kỹ thuật kém chiếm tỷ lệ khá cao với 81,03%, có 38% người bệnh không biết kiểm tra liều còn lại, có 31% số người bệnh không súc miệng sau khi hít [10]
Theo nghiên cứu của tác giả Võ Thị Kim Tương, Vũ Văn Kiểu, Nguyễn Thị Thu Trang (2020) cho thấy, tỷ lệ người bệnh mắc ít nhất một lỗi trong sử dụng dạng bình xịt định liều (metered-dose inhaler - MDI) và ống hít bột khô (dry-powder inhaler - DPI) lần lượt là 85,8% và 78,1% Các lỗi người bệnh thường mắc khi sử dụng MDI là lắc thuốc, thở ra hết sức, phối hợp động tác tay ấn miệng hít, và bước nín thở; với DPI bao gồm thở ra hết sức, hít thuốc và nín thở [17)
Trong nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Thu Huyền (2020), kết quả cho thấy trước can thiệp giáo dục, tỷ lệ người bệnh đạt kiến thức về sử dụng bình hít thấp (45%) và tỷ lệ người bệnh đạt thực hành sử dụng bình xịt định liều thậm chí rất thấp (13,3%) Sau can thiệp, các tỷ lệ này đã tăng lên đạt lần lượt là 86,6% và 63,3% [Đinh Thị Thu Huyền [9]
Trang 26Chương 2
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
2.1 Giới thiệu về bệnh viện đa khoa Thanh Nhàn [20]
Bệnh viện Thanh Nhàn tiền thân là bệnh xã Mai Hương sau đó được đổi tên thành bệnh viện Hai Bà Trưng được xây dựng trên diện tích 50.000 mét vuông nằm trên đường Thanh nhàn với quy mô 100 giường bệnh và 124 cán bộ công nhân viên Đến ngày 03/7/2000 bệnh viện Hai Bà Trưng chính thức được đổi tên thành Bệnh viện Thanh Nhàn theo định số 64/2000/UBND của Thành phố Hà Nội Dưới sự quan tâm và chú trọng của Thành ủy, UBND thành phố và Sở Y tế, ngày 10/1/2001, Bệnh viện tiếp tục khởi công xây dựng tòa nhà điều trị gồm 11 tầng được đưa vào sử dụng năm 2005 và sau đó được xây thêm tòa nhà 9 tầng và đưa vào sử dụng năm 2018 Trải qua giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển thăng trầm, Bệnh viện đã tạo dựng được thương hiệu vững mạnh, trở thành điểm khám – chữa bệnh uy tín, đáp ứng nhu cầu y tế ngày càng cao của nhân dân nội – ngoại thành Hà Nội và trên khắp cả nước và đạt được một số thành tích như:
- Huân chương Lao động Hạng Nhì (2011)
- Huân chương Lao động Hạng Ba (2006)
- Cờ thi đua các năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010
- Bằng khen do chính phủ cấp tặng (2004, 2010)
- Bằng khen của Bộ Y tế vào các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2010, 2012, 2013
- Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố năm 2005, 2007, 2010, 2011
- Danh hiệu Bệnh viện đạt tiêu chuẩn xuất sắc toàn diện từ 2005 – 2010
- Danh hiệu khác trong các phong trào thi đua
Bệnh viện Thanh Nhàn là 1 trong 7 bệnh viện hạng I trên địa bàn thành phố Hà Nội, là Bệnh viện đầu ngành nội khoa, HSTC và dinh dưỡng của thành phố Hà Nội với quy mô trên 1200 giường bệnh và tổng số 1121 cán bộ công nhân viên với 51 khoa, phòng ban với nhiều trang thiết bị hiện đại: phòng mổ Hybrit vơi Robot hiện đại bậc nhất Đông Nam Á, Máy chụp CT 128 dãy, Máy chụp MRI, siêu âm màu 4D… Bệnh viện phục vụ công tác khám trên 1200 lượt bệnh nhân khám ngoại trú mỗi ngày và trên 35.000 bệnh nhân nội trú mỗi năm và là cơ sở thực hành cho sinh
Trang 27viên các trường Y trên địa bàn Hà Nội như: Đại học Y Hà Nội, Đại học Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh, Đại học kinh doanh và công nghệ, Cao đẳng Y Hà Nội, Cao đẳng
Y - Dược Hà Nội Những năm gần đây ngoài các trường trên địa bàn Hà Nội, Bệnh viện còn là cơ sở thực hành, thực tế tốt nghiệp cho sinh viên các Trường Đại học điều dưỡng Nam Định, Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương …
Khoa Nội tổng hợp là một khoa hệ nội trực thuộc đầu ngành nội hô hấp của Thành phố nhận nhiệm vụ thu dung, khám và điều trị bệnh nhân chuyên ngành bệnh
lý Hô hấp, Dị ứng miễn dịch lâm sàng Khoa được giao chỉ tiêu 42 giường bệnh nhưng thực kê là 68 giường với 20 nhân viên (7 bác sĩ, 12 điều dưỡng, 1 KTV) thường xuyên thu dung và điều trị trên 60 bệnh nhân Công xuất sử dụng giường bệnh năm
2019 là gần 200%, luôn ở mức cao của BV trong đó có tới gần 40% bệnh nhân COPD Khoa thực hiện các kỹ thuật: nội soi khí phế quản bằng ống soi mềm, nội soi sinh thiết phế quản, sinh thiết màng phổi mù, đo chức năng hô hấp… Bên cạnh đó, Khoa còn tham gia khám và điều trị ngoại trú cho toàn bộ bệnh nhân hô hấp cho khu vực Hai Bà Trưng, Hoàng Mai và các bệnh nhân hô hấp được chuyển từ tuyến dưới lên, đồng thời quản lý câu lạc bộ hen & COPD với hơn 1000 thành viên
2.2 Thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều phòng cơn của người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Người bệnh mắc COPD đang điều trị ngoại trú tại khoa phòng khám hô hấp (thuộc khoa Nội tổng hợp) Bệnh viện Thanh Nhàn
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Người bệnh COPD đã và đang sử dụng bình hít: Bình hít định liều, và/hoặc bình hít bột khô Accuhaler, và/hoặc bình hít bột khô Turbuhaler
Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Người bệnh có khả năng giao tiếp
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Người bệnh không có khả năng hợp tác
Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: từ 01/06/2022 đến 30/06/2022
Trang 28- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Thanh Nhàn
Thiết kế nghiên cứu:
- Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang
Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện
- Lựa chọn theo tiêu chí lựa chọn trên: Chọn 90 người bệnh COPD đến khám
và điều trị ngoại trú tại khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Thanh Nhàn trong thời gian
01 tháng
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:
- Công cụ thu thập số liệu:
Để tìm hiểu thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều phòng cơn của người bệnh COPD, chuyên đề đã áp dụng bộ công cụ của tác giả Đinh Thị Thu Huyền [9]
Bộ công cụ gồm 5 phần:
Phần A: Thông tin chung của người bệnh (gồm 11 câu hỏi)
Phần B: Kiến thức sử dụng bình xịt/hít định liều (gồm 8 câu)
Phần C: Kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít định liều (gồm 11 bước)
Phần D: Kỹ thuật sử dụng bình hít bột khô Accuhaler (gồm 11 bước)
Phần E: Kỹ thuật sử dụng bình hít bột khô Turbuhaler (gồm 11 câu hỏi)
- Quy trình thu thập số liệu:
+ Bước 1: Lựa chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu + Bước 2: Những đối tượng đủ tiêu chuẩn sẽ được giới thiệu mục đích và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phổ biến hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi
+ Bước 3: Những đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được các điều tra viên phỏng vấn kiến thức sử dụng bình xịt/hít của người bệnh bằng bộ câu hỏi phỏng vấn Người bệnh tham gia trả lời 8 câu hỏi Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, mỗi câu trả lời sai hoặc không trả lời được 0 điểm Sau đó tính điểm trung bình, điểm trung bình càng cao thì kiến thức của người bệnh càng cao Nếu người bệnh trả lời đúng ≤ 6 câu (75%)
là kiến thức chưa tốt, người bệnh trả lời đúng > 6 câu (>75%) là kiến thức tốt Đánh giá thực hành sử dụng bình xịt/hít định liều bằng cách quan sát người bệnh
Trang 29sử dụng bình trực tiếp và đánh giá bằng bảng kiểm Mỗi người bệnh đến khám được lĩnh một trong các dụng cụ phân phối thuốc (Bình MDI, Bình Accuhaler hoặc bình Turbuhaler) Sau đó, người bệnh sẽ được điều dưỡng yêu cầu thực hành sử dụng thuốc mình vừa được lĩnh và điều dưỡng đối chiếu với bảng kiểm dạng thuốc đó và đánh giá
Thời gian để tiến hành 1 lần phỏng vấn kiến thức khoảng 10 phút/người, thời gian sử dụng mỗi bình hít 5 phút/người
Phương pháp phân tích số liệu:
- Số liệu được làm sạch sau đó được nhập và phân tích trên phần mềm thống
kê y học SPSS 20.0
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
- Việc thực hiện nghiên cứu được thông qua và cho phép của Hội đồng duyệt ý tưởng chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, được sự chấp thuận và cho phép của Bệnh viện Thanh Nhàn
- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu
- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
2.2.2 Kết quả nghiên cứu
2.2.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1 Phân bố ĐTNC theo tuổi và giới (n=90)