1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng kiến thức phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh lạng sơn năm 2022

45 21 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Kiến Thức Phân Loại Chất Thải Rắn Y Tế Của Điều Dưỡng Tại Các Khoa Lâm Sàng Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Lạng Sơn Năm 2022
Tác giả Chu Thị Bích Thoan
Người hướng dẫn ThS. Vũ Ngọc Anh
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Y tế Công cộng
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 616,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn (0)
    • 1.1 Cơ sở lý luận (11)
    • 1.2 Cơ sở thực tiễn (17)
  • Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (0)
    • 2.1. Giới thiệu về địa điểm khảo sát (23)
    • 2.2. Đối tượng khảo sát (23)
    • 2.3. Thời gian, phương pháp khảo sát (23)
    • 2.2. Phương pháp thu thập số liệu (0)
    • 2.5. Đặc điểm chung của đối tượng khảo sát (24)
    • 2.6. Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về phân loại CTRYT (26)
  • Chương 3: Bàn luận (0)
    • 3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (32)
    • 3.2. Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại các khoa Lâm sàng BVĐK tỉnh Lạng Sơn (32)
  • Kết luận (36)
  • Tài liệu tham khảo (38)
  • Phụ lục (41)

Nội dung

Microsoft Word Chu Thỉ BÃ�ch Thoan BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH CHU THỊ BÍCH THOAN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA K[.]

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CHU THỊ BÍCH THOAN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN

Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CHU THỊ BÍCH THOAN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN

Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN NĂM 2022

Chuyên ngành: Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

ThS VŨ NGỌC ANH

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

nhất tới Ban Giám Hiệu trường đại học Điều Dưỡng Nam Định, các thầy cô giáo

trong toàn trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại

trường

Đặc biệt xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tới ThS Vũ Ngọc Anh - Thầy

đã tận tình hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và giúp đỡ tôi trong quá

trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Đảng ủy, Ban giám đốc, các Khoa, Phòng

cùng các anh, chị Điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn đã giúp đỡ và

tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, hỗ trợ tinh thần, cung cấp tư liệu và hợp tác để

tôi hoàn thiện chuyên đề này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời biết ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên

tinh thần, luôn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề

Xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày 20 tháng 07 năm 2022

Học Viên

Chu Thị Bích Thoan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Nam Định, ngày 20 tháng 07 năm 2022

Người làm báo cáo

Chu Thị Bích Thoan

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……… i

Lời cam đoan……….……… ii

Mục lục……… iii

Danh mục chữa viết tắt……….……… iv

Danh mục bảng……… v

Danh mục biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh.……… vi

Đặt vấn đề……… 1

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3

1.1 Cơ sở lý luận ………

3 1.2 Cơ sở thực tiễn 9

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 15

2.1 Giới thiệu về địa điểm khảo sát 15

2.2 Đối tượng khảo sát 15

2.3 Thời gian, phương pháp khảo sát 15

2.2 Phương pháp thu thập số liệu 15

2.5 Đặc điểm chung của đối tượng khảo sát 15

2.6 Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về phân loại CTRYT 18

Chương 3: Bàn luận 24

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại các khoa Lâm sàng BVĐK tỉnh Lạng Sơn 24

Kết luận 28

Đề xuất giải pháp 29

Tài liệu tham khảo 30

Phụ lục 29

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVĐK: Bệnh viện đa khoa

CTYT: Chất thải y tế

CTRYT: Chất thải rắn y tế

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam… 10

Bảng 2.1: Phân bố đối tượng khảo sát theo tuổi ………… ……… …… 13

Bảng 2.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới ……….… 13

Bảng 2.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ …….……… … 13

Bảng 2.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thâm niên công tác:…… … 13

Bảng 2.5: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khoa công tác ………… … 14

Bảng 2.6:Tỷ lệ điều dưỡng đã được tập huấn về phân loại CTYT ………… 15

Bảng 2.7: Thái độ của điều dưỡng về tầm quan trọng của phân loại CTYT… 15

Bảng 2.8: Đánh giá kiến thức về số lượng các nhóm chất thải …….………… 15

Bảng 2.9: Đánh giá kiến thức về 3 nhóm chất thải y tế ……….…… 16

Bảng 2.10: Đánh giá kiến thức về các loại chất thải lây nhiễm 17

Bảng 2.11: Đánh giá kiến thức về mã màu dụng cụ đựng CTYT.… 17

Bảng 2.12: Đánh giá kiến thức về phân loại chất thải …….…… … 18

Bảng 2.13: Đánh giá kiến thức về chất thải nguy hại không lây nhiễm phát sinh tại khoa 19

Bảng 2.14: Đánh giá kiến thức về biểu tượng chỉ loại CTRYT …… 20

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Đánh giá kiến thức chung của điều dưỡng về phân loại CTRYT.

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải

ra môi trường một lượng lớn các chất thải, ngoài chất thải dạng lỏng, chất thải dạng khí thì còn chất thải rắn Các loại chất thải đặc thù mà chỉ trong bệnh viện mới có, như là bơm kim tiêm, bông, băng, gạc, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…các vật tư qua sử dụng nhưng dính dịch tiết, dính máu của người bệnh Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, quản lý chất thải rắn y tế không đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, cộng đồng dân cư và gây ô nhiễm môi trường [1],[2]

Trong chất thải y tế thường chứa một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hoá…[3] Các chất thải là vật sắc nhọn còn có khả năng vừa gây tổn thương do đâm xuyên, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm cho các đối tượng phơi nhiễm Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HBV khi bị tổn thương do kim tiêm là 30%, HCV là 3% và HIV là 0,3% [4]

Theo báo cáo tổng kết năm 2021, Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn có quy mô 800 giường, với 849 nhân viên y tế, năm 2021 bệnh viện điều trị cho 41.628 người bệnh nội trú, 18.173 người bệnh ngoại trú và khám cho hơn 138.000 người bệnh [5] Trong quá trình hoạt động, bệnh viện phát sinh số lượng chất thải rắn y tế là 79.566 kg/tháng, trong đó số lượng chất thải nguy hại lây nhiễm và không lây nhiễm là 6.079 kg/tháng, chất thải thông thường và chất thải tái chế khoảng 73.500 kg/tháng [6] Con số này tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển và hoạt động tăng dần về chuyên môn của bệnh viện Tại bệnh viện, điều dưỡng viên là những người thường xuyên thực hiện các thủ thuật trên người bệnh, là đối tượng trực tiếp tiến hành công tác phân loại CTRYT Vì thế vấn đề phân loại CTRYT của điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng [7] Trong quá trình kiểm tra giám sát thấy vẫn còn điều dưỡng chưa thực hiện đúng quy định

Trang 10

về quản lý chất thải: như phân loại sai, chưa phân loại chất thải ngay sau khi phát sinh dẫn đến ảnh hưởng đến môi trường và cộng đồng Điển hình trong năm

2021 có 02 nhân viên xử lý chất thải bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp liên quan đến phân loại sai chất thải y tế Để đánh giá về thực trạng phân loại chất thải y tế của điều dưỡng đang công tác tại bệnh viện như thế nào? Có đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2021/TT-BYT về Quản lý chất thải y

tế được ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2021 không? Yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động phân loại chất thải của điều dưỡng nên tôi thực hiện chuyên đề “Thực trạng kiến thức phân loại chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn năm 2022”.Với hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng kiến thức phân loại CTRYT của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức phân loại chất thải rắn y tế của Điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn

Trang 11

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn Chất thải y tế nguy hại chiếm từ 10-25% tổng luợng chất thải y tế [9]

Chất thải y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố: lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh

từ các buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly), từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh,… mà không dính máu, dịch sinh học,…

Và chất thải phát sinh từ các công việc hành chính, chất thải từ các khu vực ngoại cảnh như lá cây,… Chất thải y tế thông thuờng chiếm từ 75-90% tổng lượng chất thải y tế [9]

Chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa Điều trị, các nghiên cứu liên quan, bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại.[9]

1.1.2 Phân định chất thải y tế

Theo thông tư liên tịch số 20/2021/TT-BYT quy định về quản lý CTYT thì CTRYT bao gồm 3 nhóm là: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải rắn thông thường [8]

1.2.1.1 Chất thải lây nhiễm: gồm 4 loại

Chất thải lây nhiễm sắc nhọn bao gồm kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhận của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ, các vật sắc nhọn khác

Trang 12

đã qua sử dụng thải bỏ có dính, chứa máu của cơ thể hoặc chứa vi sinh vật gây bệnh [8]

Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: bông, băng, gạc, găng tay, các chất thải không sắc nhọn khác thấm, dính, chứa máu của cơ thể, chứa vi sinh vật gây bệnh; vỏ lọ vắc xin thuộc loại vắc xin bất hoạt hoặc giảm độc lực thải bỏ [8]

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm thải bỏ từ các phòng xét nghiệm tương đương an toàn sinh học cấp II trở lên; các chất thải phát sinh

từ buồng bệnh cách ly, khu vực lấy mẫu xét nghiệm người bệnh mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A, nhóm B [8]

Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ, xác động vật thí nghiệm [8]

1.2.1.2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

Hóa chất thải bỏ có thành phần, tính chất nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản xuất [8]

Dược phẩm thải bỏ, vỏ chai, lọ đựng thuốc hoặc hóa chất, các dụng cụ dính thuốc hoặc hóa chất thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại trên bao bì từ nhà sản suất [8]

Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân, cadimi; pin, ắc quy thải bỏ; vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ thải bỏ [8] 1.2.1.3 Chất thải rắn thông thường bao gồm:

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế [8]

Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu

tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại [8]

1.1.3 Phân loại chất thải y tế

1.1.3.1 Nguyên tắc phân loại

Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để

Trang 13

quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;

Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa; Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm [8] 1.1.3.2 Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải

Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải

Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn phân loại chất thải [8]

1.1.3.3 Phân loại chất thải y tế

- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp màu vàng;

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc thùng có lót túi và có màu vàng;

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;

- Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và

1.1.4 Ảnh hưởng của CTYT tới sức khỏe:

Quản lý chất thải y tế không tốt không những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, môi trường mà còn mà còn làm tăng chi phí cho hoạt động xử lý chất thải y tế

Trang 14

1.1.4.1 Đối tượng chịu ảnh hưởng

Tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất thải y tế nguy hại ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện, tại tất cả các công đoạn từ phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý đều chịu tác động xấu đến sức khoẻ, nếu chất thải y tế không được quản lý đúng cách và các vấn đề về an toàn không được quan tâm đúng mức Các đối tượng chịu ảnh hưởng chính [10]:

- Cán bộ, nhân viên y tế: bác sĩ, y sĩ, y tá, kỹ thuật viên, hộ lý, sinh viên thực tập công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải,…

- Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong cơ sở y tế: nhân viên công ty

vệ sinh công nghiệp; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang

lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi,…

Các đối tượng khác:

- Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên bệnh viện; người liên quan đến bãi chôn lấp rác và người nhặt rác;

- Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú;

- Người nhà bệnh nhân và khách thăm;

- Học sinh, học viên học tập/thực tập tại các cơ sở y tế;

- Cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế;

- Cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thải của các cơ sở y tế chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu

1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế với sức khoẻ

Theo Cục Quản lí môi trường y tế- Bộ Y tế [10] ảnh hưởng của từng loại chất thải rắn y tế tới sức khỏe như sau:

* Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn:

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,

* Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm

Trang 15

Trong thành phần của chất thải lây nhiễm có thể chứa đựng một lượng rất lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B,… Các tác nhân truyền nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức:

+ Qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da)

+ Qua các niêm mạc (màng nhầy)

+ Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

+ Qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải)

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải rất nguy hiểm, gây tổn thương kép tới sức khỏe con người: vừa gây chấn thương: vết cắt, vết đâm, vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, C, HIV,

* Ảnh hưởng của chất thải hóa học nguy hại:

Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây

ra các nhiễm độc cấp, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận… Các chất khử trùng, thuốc tẩy như clo, các hợp chất natri hypoclorua có tính ăn mòn cao Thủy ngân khi xâm nhập vào cơ thể có thể liên kết với những phân tử như nucleic acid, protein,… làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế bào Nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó diễn đạt, giảm sút trí nhớ,… và nặng hơn nữa có thể gây liệt, nghễnh ngãng, với liều lượng cao có thể gây tử vong Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: tiếp xúc trực tiếp, hít phải bụi và các sol khí, qua

da, qua đường tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp với chất thải dính thuốc gây độc tế bào, tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Tuy nhiên mức độ nguy hiểm còn phụ thuộc nhiều vào hình thức phơi nhiễm Một số chất gây độc tế bào gây tác hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc đặc biệt là da và mắt với các triệu chứng thường gặp như chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm

Trang 16

da Đây là loại chất thải y tế cần được xử lý đặc biệt để tránh ảnh hưởng xấu của chúng tới môi trường và con người

* Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ

và thời gian tiếp xúc Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền Các chất thải phóng xạ cần được quản lý đúng qui trình, tuân thủ đúng thời gian lưu giữ để tránh ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhóm có nguy cơ cao là nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ vận chuyển và thu gom rác phải tiếp xúc với chất thải phóng xạ trong điều kiện thụ động

* Ảnh hưởng của bình chứa áp suất

Đặc điểm chung của các bình chứa áp suất là tính trơ, không có khả năng gây nguy hiểm, nhưng dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt hay bị thủng

1.1.4.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường và cộng đồng

* Đối với môi trường đất

Quản lý CTYT không đúng quy trình, chôn lấp CTYT không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, … gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn [10]

* Đối với môi trường không khí

CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất Trong khâu xử lý, CTYT có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như dioxin, furan,… từ lò đốt và CH4 , NH3 , H2S,… từ bãi chôn lấp [10]

* Đối với môi trường nước

CTYT chứa nhiều chất độc hại và các tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: chất hữu cơ, hóa chất độc hại, kim loại nặng và các vi khuẩn Salmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng,… Nếu

Trang 17

không được xử lý trước khi xả thải sẽ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A, [10]

* Ảnh hưởng của CTYT với cộng đồng

Theo nguyên tắc phân lại chất thải y tế : "Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ

và xử lý như chất thải lây nhiễm" Vì vậy, việc phân loại không đúng của các nhân viên y tế cũng làm tăng lượng rác thải nguy hại đồng thời làm tăng chi phí cho hoạt động xử lý rác thải y tế [10]

có chứa thủy ngân như nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân sẽ không được nhập khẩu [10]

Trong nghiên cứu tại Dhaka thủ đô của Bangladesh năm 2014 đã cho thấy

5 rào cản lớn nhất trong công tác QLCTRYT tại các bệnh viện thuộc thành phố này gồm: chính sách và hướng dẫn chưa hợp lý; kiến thức và thực hành còn hạn chế của nhân viên y tế; thiếu thiết bị bảo hộ cá nhân, thiếu thiết bị tiêu hủy và thiếu lò đốt chất thải y tế [11]

Bên cạnh đó theo tác giả Ignasio S.K và cộng sự năm 2016 đã cho thấy thực trạng thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất và hạ tầng, đặc biệt thiếu phương tiện vận chuyển, nơi lưu giữ chất thải trong xử lý rác thải y tế tại các bệnh viện

Trang 18

ở Tanzania Việc xử lý chủ yếu dùng công nghệ lò đốt với nhiệt độ thấp hoặc trung bình, không đạt tiêu chuẩn [12]

Theo kết quả điều tra của WHO năm 1999 tiến hành tại 22 nước đang phát triển có đến 18-64% các cơ sở y tế chưa tuân thủ đúng theo quy chế quản lý chất thải y tế [13]

1.2.1.2 Tại Việt Nam

Đối với các CBYT làm việc tại trạm y tế, theo tác giả Tô Thị Liên năm

2015 nghiên cứu tại 32 trạm Y tế xã, phường thuộc 8 tỉnh Việt Nam cho kết quả: kiến thức cơ bản về QLCTYT, phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ, xử lý

và tiêu hủy lần lượt là: 42,7%; 81,1%; 75,1%; 49,2% và 43,8% CBYT được tập huấn có kiến thức đúng về QLCTRYT cao hơn CBYT không được tập huấn là 8,5 lần, kết quả này có ý nghĩa thống kê [14]

Theo tác giả Lâm Hoàng Dũng năm 2015 nghiên cứu tại 3 bệnh viện chuyên khoa Mắt - Răng Hàm Mặt, Da liễu và Ung bướu, Thành phố Cần Thơ Kết quả nghiên cứu cho thấy có 68,2% nhân viên y tế có kiến thức chung đúng

về quản lý chất thải rắn y tế và 86,9% có thực hành chung đúng về phân loại chất thải rắn y tế Nhóm tuổi, trình độ chuyên môn và tập huấn là 3 yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê về quản lý chất thải rắn y tế [15]

Cũng theo tác giả Châu Võ Thụy Diễm Thúy (2015) nghiên cứu thực trạng kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viên đa khoa Đồng Tháp cho kết quả tương tự: tỷ lệ NVYT đạt kiến thức phân loại, thu gom về CTRYT rất cao (96,4%), kiến thức về phân loại chất thải và mã màu dụng cụ đựng cất thải là 96,1%; tuy nhiên đạt kiến thức cơ bản

về quản lý CTRYT và kiến thức thu gom chỉ chiếm 47,8% và 49,7% [16]

Tác giả Nguyễn Thị Hoài năm 2014 tại Bệnh viện đa khoa Đan Phượng,

Hà Nội chỉ ra kiến thức đúng về phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý của CBYT lần lượt là 84,5%, 63,8%, 69,8%, 68,1%, kiến thức chung đạt 71,6% CBYT được tập huấn có kiến thức đạt cao gấp 5,8 lần nhóm còn lại, sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê [17]

Trang 19

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Huyền năm 2016 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã chỉ ra tỷ lệ CBYT có kiến thức đạt về quản

lý CTRYT ở mức 67,9%, có 57,7% CBYT có kiến thức đạt về 4 loại chất thải lây nhiễm trong nhóm chất thải lây nhiễm và có 40,6% CBYT có hiểu biết đúng

và đầy đủ 4 mầu sắc sử dụng để phân loại CTRYT, chỉ 11,2% CBYT có thể kể đúng và đủ tên 3 nhóm CTRYT theo quy định hiện hành; các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức của CBYT là yếu tố về giới tính, nơi làm việc, hướng dẫn quy chế [18]

Theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Tuấn Sỹ năm 2013 nghiên cứu về kiến thức và thực hành về tuân thủ quy định về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

đa khoa tỉnh Quảng Ngãi đã chỉ ra tỷ lệ CBYT có kiến thức đạt về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế lần lượt chiếm 78,1%; 97,3%; 93,6%

và 28,3% [19]

Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Chính Phong (2016) tại Bệnh viện Mắt

Hà Nội cho thấy: tỷ lệ CBYT có kiến thức đúng về quy trình QLCTRYT là 78%,

về phân loại 79,3%, vận chuyển 63,4% và lưu giữ là 90,2% Các yếu tố như sự quan tâm của lãnh đạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị và các chính sách, văn bản quy định được đánh giá là một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng thực hiện quy trình QLCTRYT [20]

Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê, Nguyễn Văn Hanh và Trần Thúy Hà tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Hải Dương năm 2013 về thực trạng quản lý chất thải y tế cho thấy 100% bệnh viện có phân công lãnh đạo làm công tác quản

lý chất thải y tế, 92,3% có báo cáo bảo vệ môi trường, 100% bệnh viện có sổ theo dõi lượng chất thải phát sinh hằng ngày, 84,61% có báo cáo giám sát môi trường định kỳ và 69,23% có sổ đăng ký nguồn thải, 100% bệnh viện không có

kế hoạch, không có giấy phép xả thải, cán bộ chuyên trách về quản lý chất thải

y tế Tỷ lệ nhân viên được tập huấn quản lý chất thải y té là 39,3%; 100% bệnh viện không đảm bảo tiêu chuẩn về phương tiện chứa chất thải và đường vận chuyển chất thải Về kiến thức, có 77,87% nhân viên y tế và 73,39% nhân viên

vệ sinh có kiến thức chung đạt (đạt >50%) về quản lý chất thải y tế; về thực hành,

Trang 20

nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh quan tâm tới việc thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế lần lượt là 98,61% và 99,12%, thực hiện phân loại tại nguồn là 98,15% và 95,61% Có mối liên quan giữa việc tập huấn với kiến thức, kiến thức với thực hành của nhân viên y tế (p < 0.05) [21]

Nghiên cứu cuả Nguyễn Xuân Chi, Nguyễn Thanh Lộc, Nguyễn Võ Minh Hoàng về kiến thức, thái độ, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế cho thấy có 57,7% phương tiện thu gom vận chuyển chất thải của các bệnh viện đạt yêu cầu; 52,5% vật dụng lưu trữ chất thải chưa đạt yêu cầu Có 92,5% CBYT có kiến thức đúng; 88,6% có thái độ đúng và 94,5% thực hành đúng [22]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Thúy, Phan Văn Tường năm 2011 tại bệnh viện đa khoa Đông Anh cho thấy tỷ lệ nhân viên đạt kiến thức chung về quản lý

là 86,8%, tuy nhiên kiến thức của nhân viên về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm lần lượt chiếm tỷ lệ 27,2% và 54,4% Tỷ lệ nhân viên đạt thực hành phân loại chất thải là 82,4%, thu gom là 52,6%, vận chuyển là 52,5%, lưu giữ chất thải là 100% Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên công tác với kiến thức về các loại chất thải lây nhiễm, kiến thức và thực hành về phân loại chất thải có mối liên hệ với nhau (p < 0.05) Thiếu kinh phí, sự quan tâm, ý thức của cán bộ nhân viên, công tác đào tạo, kiểm tra giám sát được coi là yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động phân loại, thu gom và vận chuyển, lưu trữ chất thải [23]

1.2.2 Các quy định, hướng dẫn liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế Việt Nam là nước đang phát triển, tuy còn nhiều khó khăn nhưng Nhà nước đã rất quan tâm đến vấn đề quản lý chất thải y tế và đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải y

tế nói riêng

Sau đây là một số các văn bản quan trọng về vấn đề QLCTRYT:

* Các văn bản do Quốc hội, Chính phủ ban hành

- Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23/11/2009 được Quốc hội thông qua kỳ hợp thứ 6, Quốc hội khóa XII ( Điều 62, 63);

Trang 21

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII (Điều 3, 72, 142);

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải y tế và phế liệu (Điều 6,7);

- Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm

2025, tầm nhìn đến 2050;

- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến 2025

* Các Quyết định, Thông tư do các Bộ ban hành

- Thông tư quan trọng nhất trong công tác quản lý chất thải rắn y tế hiện nay là: Thông tư số 20/2021/BYT ngày 26/11/2021 của Bộ Y tế và Quy định về quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ sở y tế, quy định về việc phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường; vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế Thông tư này chính thức có hiệu lực từ ngày 10/1/2022 và thay thế cho Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường Thông tư liên tịch quy định về Quản lý chất thải y tế;

- Thông tư số 16/2018/TT-BYT ngày 20/7/2018 của Bộ Y tế về Quy định

về kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 10);

- Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 06/7/2015 của Bộ Y tế về việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong bệnh viện;

- Quyết định 1119/QĐ-BYT ngày 28/3/2017 của Bộ Y tế về việc phê duyệt

kế hoạch truyền thông về quản lý chất thải y tế, giai đoạn 2017-2021;

Trang 22

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 7);

- Quyết định số 107/QĐ-BTNMT ngày 19/01/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ủy quyền giải quyết các thủ tục hành chính về quản lý chất thải nguy hại;

* Các văn bản về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật :

- Liên quan đến CTRYTNH: QCVN 07:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại; TCVN 6706:2009: Chất thải nguy hại– Phân loại thay thế cho TCVN 6706:2000; TCVN 6707:2000: Chất thải nguy hại–Dấu hiệu cảnh báo ; TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – Tiêu chuẩn thiết kế

- Liên quan đến lò đốt CTRYT: QCVN 02:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTRYT; Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7556-1:2005 (BS

EN 1948-1: 1997) về Lò đốt chất thải rắn y tế - Xác định nồng độ khối lượng PCDD/PCDF - Phần 1: Lấy mẫu; TCVN 7558-2: 2005: Lò đốt CTRYT xác định tổng nồng độ các hợp chất hữu cơ trong khí thải – Phần 2: Phương pháp đo độ đục; TCXDVN 365:2007: Bệnh viện đa khoa – Hướng dẫn thiết kế;

Ngày đăng: 09/02/2023, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lars Mr.Johannessen at all (2000), “Scope of the problem”, Health care waste management Guidance Note", the World Bank’s Human Development Network, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scope of the problem”, Health care waste management Guidance Note
Tác giả: Lars Mr.Johannessen at all
Năm: 2000
3. Nguyễn Huy Nga và cộng sự (2010), “Quản lý chất thải rắn và chất thải y sinh”, Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 114-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn và chất thải y sinh
Tác giả: Nguyễn Huy Nga và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
9. Bộ Y tế (2014) Quyết định về việc ban hành Bộ chương trình và tài liệu “Quản lý chất thải y tế” số 108/QĐ-K2ĐT, Hà Nội, ngày 22/7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải y tế
14. Tô Thị Liên, (2015) "Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số trạm y tế xã, phường thuộc 8 tỉnh Việt Nam năm 2015". Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số trạm y tế xã, phường thuộc 8 tỉnh Việt Nam năm 2015
15. Lâm Hoàng Dũng, (2015) "Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về quản lý chất thải rắn y tế của các nhân viên tại 3 bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơ năm 2015". Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Đại học Y tế Công Cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về quản lý chất thải rắn y tế của các nhân viên tại 3 bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơ năm 2015
16. Châu Võ Thụy Diễm Thúy, (2015) "Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viên đa khoa Đồng Tháp năm 2015". Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viên đa khoa Đồng Tháp năm 2015
17. Nguyễn Thị Hoài, (2014) "Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đan Phượng Hà Nội năm 2014". Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đan Phượng Hà Nội năm 2014
18. Nguyễn Thị Mỹ Huyền (2017), "Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2016 và một số yếu tố liên quan". Luận văn tốt nghiệp cử nhân y khoa. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2016 và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Huyền
Năm: 2017
19. Trịnh Tuấn Sỹ (2013), "Kiến thức của nhân viên y tế và thực hành tuân thủ quy định về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi, năm 2013". Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công Cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức của nhân viên y tế và thực hành tuân thủ quy định về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi, năm 2013
Tác giả: Trịnh Tuấn Sỹ
Năm: 2013
20. Lê Chính Phong, (2016) "Thực trạng thực hiện quy trình quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Mắt Hà Nội năm 2016".Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, Đại học Y tế Công Cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thực hiện quy trình quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Mắt Hà Nội năm 2016
21. Phạm Minh Khuê, Nguyễn Văn Hanh và Trần Thị Thúy Hà (2013), “Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Hải Dương năm 2013”, Tạp chí Y học dự phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Hải Dương năm 2013
Tác giả: Phạm Minh Khuê, Nguyễn Văn Hanh và Trần Thị Thúy Hà
Năm: 2013
22. Nguyễn Xuân Chi, Nguyễn Thanh Lộc và Nguyễn Võ Minh Hoàng (2013), “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại bệnh viện quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh năm 2013”, Tạp chí Y học dự phòng , 4 (957) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại bệnh viện quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh năm 2013
Tác giả: Nguyễn Xuân Chi, Nguyễn Thanh Lộc và Nguyễn Võ Minh Hoàng
Năm: 2013
23. Hoàng Thị Thúy và Phan Văn Tường, (2012), "Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức thực hành của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011". Tạp chí Y học thực hành, Tr 816 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức thực hành của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011
Tác giả: Hoàng Thị Thúy và Phan Văn Tường
Năm: 2012
2. Chong Kin Fook (2007), Clinical wast management and disposal, University Teknologi Malaysia Khác
4. Bộ Y tế (2012), Quyết định Về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn. Số: 3671/QĐ-BYT. Hà Nội, ngày 27/9/2012 Khác
5. Bệnh viện đa khoa Lạng Sơn, Báo cáo tổng kết công tác năm 2020, Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2021, số 1234/BC-BVĐK ngày 10/12/2020 Khác
6. Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo quản lý chất thải y tế năm 2020, số 91/BC-BVĐK ngày 26/1/2021 Khác
7. Nguyễn Thị Hương (2015) Thực trạng kiến thức và thực hành phân loại CTRYT của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viên Đa khoa Xanh Pôn năm 2015 Khác
8. Bộ Y tế (2021), Thông tư Quy định về Quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ sở y tế Số: 20/2021/TT-BYT, Hà Nội, ngày 26/11/2021 Khác
10. Cục quản lý môi trường y tế, (2015) “Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế trong bệnh viện. (Ban hành kèm theo Quyết định số 105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục quản lý Môi trường y tế), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w